Jump to content

Welcome to [ iT ] Forums
Register now to gain access to all of our features. Once registered and logged in, you will be able to create topics, post replies to existing threads, give reputation to your fellow members, get your own private messenger, post status updates, manage your profile and so much more. If you already have an account, login here - otherwise create an account for free today!
Cộng đồng Âm nhạc Việt Nam

Hình ảnh

Thơ Đường


  • Please log in to reply
20 replies to this topic

#1
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:

Attached File  llt3go0wy.jpg   93.11KB   0 Lượi tải

THU DẠ KÝ KHÂU VIÊN NGOẠI

Hoài quân thuộc thu dạ
Tản bộ vịnh lương thiên
Không sơn tùng tử lạc
U nhân ưng vị miên

dịch

THƠ GỬI BẠN ĐÊM THU

Nhớ bạn đêm thu thổn thức chờ
Trời thanh, dạo mát, động hồn thơ
Thông rơi lả tả bên đồi vắng
Khắc khoải năm canh ngủ vật vờ



#2
HuangYue

HuangYue

    Trăng vàng

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1646 Bài Viết:
éc - bữa nay chuyển qua thú tao nhã nữa ah?
Tứ tuyệt 5 chữ mà dịch thơ lục bát đối ghê!

Bài viết này được chỉnh sửa bởi hikaru2003: 28 March 2009 - 11:06 AM


#3
tuongvan_kim

tuongvan_kim

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 282 Bài Viết:
Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, bài thơ cuốn hút nhiều nhà thơ nổi tiếng

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu


Bản dịch của Tản Đà

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.



#4
HuangYue

HuangYue

    Trăng vàng

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1646 Bài Viết:

Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, bài thơ cuốn hút nhiều nhà thơ nổi tiếng

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu


Bản dịch của Tản Đà

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Bổ sung tí nè:
Lầu Hoàng Hạc được xưng là: "Thiên hạ đệ nhất Lầu"; cùng với "Thắng Vương Các" của Giang Tây và "Nhạc Dương Lầu" của Hồ Nam tạo thành "Giang Nam Tam Đại Danh Lầu" nổi tiếng của Văn Hóa Trung Quốc.
Tương truyền Hoàng Hạc Lầu được xây dựng vào thời Tam Quốc bởi nhà Đông Ngô. Do Tôn Quyền xây dựng với mục đích Quân Sự "Lấy Võ trị quốc nhĩ xương" cho nên cái tên Vũ Xương hoặc Võ Xương bắt nguồn từ đó. Đến đời Đường thì Hoàng Hạc Lầu dần dần được thay đổi mục đích là nơi thắng cảnh.

Một vài hình ảnh về Hoàng Hạc lầu:
Lầu chính

Tệp Đính Kèm


Bài viết này được chỉnh sửa bởi hikaru2003: 28 March 2009 - 12:04 PM


#5
HuangYue

HuangYue

    Trăng vàng

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1646 Bài Viết:
Lầu chính 2
rất tiếc dung lượng lớn hơn 1M nên không post được nữa

Bài viết này được chỉnh sửa bởi hikaru2003: 28 March 2009 - 12:02 PM


#6
tuongvan_kim

tuongvan_kim

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 282 Bài Viết:
Posted Image
Posted Image

Lầu Hoàng Hạc ngày xưa là nơi gặp mặt tao đàn của các văn nhân mạc khách trong thời. Trong thời Đường ( 618-907 ), các thi nhân đến Hoàng Hạc Lâu để vừa thưởng ngoạn phong cảnh non nước mây ngàn hữu tình, vừa uống rượu làm thơ.

PS/hikaru: sao bạn không up hình vào host rồi paste vô phần chèn ảnh

#7
HuangYue

HuangYue

    Trăng vàng

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1646 Bài Viết:
Ảnh đôi Hạc nè
Posted Image

trong Lầu nè:
Posted Image
anh Tuongvan_kim cũng dân tiếng Hoa ah?

Bài viết này được chỉnh sửa bởi hikaru2003: 28 March 2009 - 01:18 PM


#8
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:
Posted Image

Bản dịch nổi tiếng của Tản Đà có dễ còn được người Việt biết nhiều hơn:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.

Hạc vàng đi mất từ xưa,

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.

Hán Dương sông tạnh cây bày,

Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Trước Tản Đà, hình như Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục mới là người dịch đầu tiên bài thơ này trên Nam phong tạp chí năm 1923, nhưng có lẽ cái cách hạ một chữ trắc ngang ngược của ông ngay cuối câu đầu vẫn không sao địch nổi giọng tài hoa của “Túy Ông” Nguyễn Khắc Hiếu, nên dần dà người ta đã quên mất bản dịch đi đầu:

Người tiên xưa cưỡi hạc vàng cút,

Ở đây chỉ những lầu hạc trơ.

Hạc vàng đã cút chẳng về nữa,

Mây trắng nghìn năm còn phất phơ.

Sông bọc Hán Dương cây xát xát,

Cỏ liền Anh Vũ bãi xa xa.

Ngày chiều làng cũ đâu chăng tá?

Mây nước trên sông khách thẫn thờ!1

Sau tiếng vang của bài thơ Tản Đà, tưởng ai cũng đành phải nhường bước, ngờ đâu lại như một kích thích cho nhiều thế hệ kế tục đua tài với ông. Họ không nghe theo Lý Bạch nhắc nhở: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc / Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”; dầu người nào cũng đã một lần đến chiêm ngưỡng và tấm tắc trước lâu đài thơ của sông Đà núi Tản, kẻ trước người sau vẫn cứ muốn thử thách bút lực của mình.

Có Ngô Tất Tố:

Người xưa cưỡi hạc đã cao bay,

Lầu hạc còn suông với chốn này.

Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn,

Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay.

Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng,

Xanh ngát châu Anh, lớp cỏ dày.

Trời tối quê hương đâu tá nhỉ?

Đầy sông khói sóng gợi niềm tây.

Trần Trọng Kim:

Người đi cưỡi hạc từ xưa,

Đất này Hoàng Hạc còn lưa một lầu.

Hạc vàng đi mất đã lâu,

Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.

Hán Dương cây bóng lòng sông,

Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì.

Chiều hôm lai láng lòng quê,

Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.

Trần Trọng San:

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.
Hạc đã một đi không trở lại,
Man mác muôn đời, mây trắng bay.
Hán Dương sông tạnh, cây in thắm,
Anh Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.
Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy,
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.


Nguyễn Khuê:

Cưỡi hạc người xưa đi đã lâu,

Còn đây Hoàng Hạc chỉ trơ lầu.

Hạc vàng biền biệt từ xưa ấy,

Mây trắng lững lờ đứng mãi sau.

Sông tạnh Hán Dương cây lắng bóng,

Bãi thơm Anh Vũ cỏ tươi màu.

Chiều buồn quê cũ nơi nào nhỉ?

Khói sóng trên sông giục khách sầu.

Khương Hữu Dụng:

Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút,
Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi !
Hạc vàng một đi đã đi biệt,
Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi.
Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng,
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời.
Hoàng hôn về đó, quê đâu tá ?
Khói sóng trên sông não dạ người.


Posted ImageBút tích bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Vũ Hoàng Chương ( nguồn GS Huệ Chi )

Vân vân...

Đặc biệt, trong số người không ngại “vận bút” để làm cái chuyện “dịch là diệt” có cả thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Bài thơ dịch của họ Hoàng cũng đã nhiều người biết, tuy chưa phổ biến thật rộng. Một cách dịch thoát sáo, tưởng xa nghĩa nhưng lại lắng đọng được thi vị, và nhất là có những ẩn ngữ đầy “tâm trạng” không kém gì tiếng lòng của nhà thơ họ Thôi:

Xưa hạc vàng bay vút bóng người,

Đây Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.

Vàng tung cánh hạc đi đi mất,

Trắng một màu mây vạn vạn đời.

Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu,

Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.

Gần xa chiều xuống đâu quê quán?

Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!

Sao lại cô đơn đến mức “Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi”? Và ai là “cánh hạc vàng” trong con mắt thi nhân mà “Vàng tung cánh hạc đi đi mất”? Ai khiến cho thi nhân sầu nhớ như chực vỡ òa nước mắt trong câu thơ cuối cùng? Tôi cứ thắc mắc mãi mà không giải đáp được cho mình. May mắn gần đây được bạn Đặng Tiến ở Pháp gửi cho một tấm hình chụp lại nguyên thủ bút của Vũ Hoàng Chương:

Thì ra, không biết bài thơ được dịch từ bao giờ nhưng đích thân họ Vũ đã chép nó vào ngày 6 tháng 12 năm 1975, tặng người bạn vong niên đang ở quá xa là nhà bình thơ Đặng Tiến. Gần sát cái Tết dương lịch năm 1976, người thơ da diết nhớ bạn và đặt mình vào hoàn cảnh bạn khi ngồi trên bờ một con sông xứ người nào đấy chắc cũng rất đơn chiếc mà nhớ thương về cố quốc: “Gần xa chiều xuống đâu quê quán / Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!”. Ngôn từ bài thơ dịch quả gợi cảm hứng tuyết lạnh một buổi chiều hửng nắng ở Âu Tây. Tuy nhiên... chợt đọc lại ngày tháng chép thơ. Ôi, ngày 6 tháng 12 năm 1975. Tôi cũng ở Sài Gòn đúng trong những ngày đó. Một mùa đông lạnh hơn hẳn những mùa đông khác của phương Nam nắng ấm. Còn nhớ đêm nằm trong nhà người bà con ở 362 đường Hòa Hảo, đắp một chiếc chăn dạ mà vẫn rét run không ngủ nổi. Không chỉ thế. Tôi đã đến chơi nhà nữ sĩ Mộng Tuyết trên đường Nguyễn Minh Chiếu, nơi cách đó ít lâu gia đình Vũ Hoàng Chương tạm cư ngụ. Tôi biết lắm, ngày này, thi nhân và dịch giả Vũ Hoàng Chương cùng khá nhiều trí thức Sài Gòn cũ đang sống trong tột cùng thấp thỏm, chưa rõ trắng đen về thân phận của mình. Cái tết năm đó - năm Bính thìn 1976 - ông có bài Vịnh bức tranh gà lợn:


Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,
Gà lợn, om sòm rối bức tranh.
Rằng vách có tai, thơ có họa,
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng,
Lòng lợn âm dương một tấc thành.
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn,
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.


Đã từng sống trong không khí cải cách ruộng đất đợt V hồi 1955 ở Khu IV, tôi thấu hiểu nỗi sợ đến khủng khiếp về một cái gì không ra ngô ra khoai, “Sáng chưa sáng hẳn tối không đành”, về sự chờ đợi trong nặng nề khắc khoải, phải đếm từng giây phút một cho bớt cô đơn lạnh lẽo mà Vũ Hoàng Chương từng sống. Tôi cũng đã chứng sống cái nỗi niềm rất khó bộc bạch: “Lòng lợn âm dương một tấc thành” của gia đình mình. Một tấc thành mà không biết tỏ cùng ai, vì chẳng biết “lòng ai đỏ mắt ai xanh” (một tấm lòng đỏ và một con mắt xanh đối với người nghệ sĩ mới cần thiết làm sao!) nên nhìn đâu cũng lấm lét, làm gì cũng ngó trước ngó sau: “Rằng vách có tai, thơ có họa/tai họa”. Đúng là những ngày ấy Vũ Hoàng Chương đang như Từ Thức ngay chính trên quê hương xứ sở của mình. Phải: “Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu / Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi”. Chỉ có ông với một mình ông.

Cảm thán cho Vũ Hoàng Chương thì cũng chỉ là vô ích vì ông đã là một cánh hạc vàng đi mất đến ba mươi năm có lẻ rồi. Chi bằng hãy bắt chước ông, vắt óc trước bài thơ của chàng Thôi Hiệu để “thôi xao” ra những vần dịch mới. Tôi đã gắng làm như thế, cũng xin coi là một bài thơ tặng những người bạn xa - rất xa ở Mỹ ở Âu - trong đó có Đặng Tiến:

Hạc vàng người trước cưỡi đi rồi,

Lầu trống còn tên Hoàng Hạc thôi.

Một thuở hạc vàng không trở lại,

Nghìn năm mây trắng vẫn đang trôi.

Hán Dương cây đứng soi sông sáng,

Anh Vũ cỏ non biếc bãi bồi.

Chiều tối quê hương nhìn chẳng thấy,

Trên sông khói sóng dạ bồi hồi.

Bài viết này được chỉnh sửa bởi nghia0210vn: 28 March 2009 - 06:04 PM


#9
bachdienatula

bachdienatula

    Trình độ A CSTH

  • Advance Member
  • PipPip
  • 138 Bài Viết:
Chim bay mõi cánh về chốn cũ
Hạc về phố cũ Quy đâu rồi.
Phố cũ còn đây bạn đã mất
Hạc đã về Quy ẩn nơi đâu ? 8->"

#10
vongnguyet

vongnguyet

    Dương Khiết - Hải Nguyệt

  • Advance Member
  • PipPip
  • 159 Bài Viết:
Anh Nghĩa lấy bài phân tích ở đâu hay vậy? Bản dịch của Ngô Tất Tố giờ mới biết đó, thank anh nhiều.

2 câu cuối trong bản dịch của Tản Đà lấy ý từ 2 câu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đó, mà không nhớ chính xác câu của Nguyễn Du để dẫn ra đây.

Bản dịch của Tản Đà tuy hay nhưng đã phạm 1 lỗi vô cùng nghiêm trọng là đã chuyển thể từ thất ngôn bát cú sang lục bát. :d
...1 thời để nhớ ... để quên...

#11
HuangYue

HuangYue

    Trăng vàng

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1646 Bài Viết:

Anh Nghĩa lấy bài phân tích ở đâu hay vậy? Bản dịch của Ngô Tất Tố giờ mới biết đó, thank anh nhiều.

2 câu cuối trong bản dịch của Tản Đà lấy ý từ 2 câu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đó, mà không nhớ chính xác câu của Nguyễn Du để dẫn ra đây.

Bản dịch của Tản Đà tuy hay nhưng đã phạm 1 lỗi vô cùng nghiêm trọng là đã chuyển thể từ thất ngôn bát cú sang lục bát. :d

- Thơ Đường thất ngôn bát cú khi dịch thơ phần lớn vẫn dùng lục bát mà!
- Thơ Lục bát thì uyển chuyển và linh động hơn thất ngôn bát cú - vì thơ thất ngôn niêm luật rất chặt chẽ!

#12
vongnguyet

vongnguyet

    Dương Khiết - Hải Nguyệt

  • Advance Member
  • PipPip
  • 159 Bài Viết:
Một bài thơ Đường trong kiếm hiệp của Kim Dung nhắc đến rất nhiều, Lương Châu từ là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nổi tiếng của Vương Hàn

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.


Dịch thơ

Bồ đào rượu ngát chén lưu ly
Toan nhắp tỳ bà đã giục đi
Say khướt sa trường anh chớ mỉa
Xưa nay chinh chiến mấy ai về.
(Trần Quang Trân)


...1 thời để nhớ ... để quên...

#13
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:
Vài bài thơ tiếp cho anh em nè:


HẠ TRI CHƯƠNG


Hồi Hương Ngẫu Thư 1

Dịch nguyên thể:

Tuổi trẻ xa nhà, già trở lại

Giọng quê không đổi, tóc mai gầy;

Nhi đồng nay gặp, không quen biết

Cười hỏi: "Từ đâu khách đến đây?"



Dịch thể lục bát:

Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi Trở về quê lúc tuổi già

Hương âm vô cải mấn mao thôi Hương âm chẳng đổi tóc thưa mái đầu.

Nhi đồng tương kiến bất tương thức Trẻ rằng: "Ông đến từ đâu?"

Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai ? Hỏi như hỏi kẻ chưa hầu biết quen.

Hồi Hương Ngẫu Thư 2

Dịch nguyên thể:

Xa cách quê hương đã bấy chầy

Việc đời ngẫm lại lắm chua cay

Chỉ riêng hồ nước ngoài khung cửa

Sóng vẫn như xưa lớp lớp bày.



Dịch thể lục bát:

Ly biệt gia hương tuế nguyệt đa Quê nhà xa cách bao năm

Cận lai nhân sự bán tiêu ma Việc đời gạn lại nửa gần tiêu vong.

Duy hữu môn tiền Kính Hồ thủy Chỉ riêng hồ nước ngoài song

Xuân phong bất cải cựu thời ba Như xưa dưới ngọc xuân phong gợn hoài.



TRƯƠNG CỬU LINH

Tự Quân Chi Xuất Hĩ Từ Buổi Chàng Ra Đi

Dịch nguyên thể:

Chàng ra đi bấy chầy

Cửi canh mặc nhện vầy

Đêm lại đêm mòn mỏi

Nhớ chàng như trăng đầy



Dịch thể lục bát:

Tự quân chi xuất hĩ Từ chàng cất bước lên đường

Bất phục lý tàn ky Cửi canh thiếp bỏ cho màng nhện giăng.

Tư quân như nguyệt mãn Nhớ chàng như ánh trăng rằm

Dạ dạ giảm thanh huy Đêm đêm ánh sáng giảm dần quang huy.

VƯƠNG DUY

Tạp Thi Thơ Vặt

Dịch nguyên thể:

Bạn từ cố hương lại

Chuyện quê hương hẳn rõ

Trước song thêu ngày ấy

Mai cành hoa đã nở?

Dịch thể lục bát:

Quân tự cố hương lai Anh vừa từ biệt quê hương

Ưng tri cố hương sự Chuyện quê anh hẳn tỏ tường hơn ai.

Lai nhật ỷ song tiền Cửa buồng thêu đó cành mai

Hàn mai trước hoa vị? Trời đêm lạnh lẽo hoa thì nở chưa?

Cửu Nguyệt Cửu Nhật Ngày Trùng Cửu

Ức Sơn Đông Huynh Đệ Nhớ Anh Em Ở Sơn Đông

Dịch nguyên thể:

Một thân làm khách trọ xa quê

Giai tiết càng thêm nỗi nhớ nhà

Trèo núi anh em giờ vẫn biết

Chỉ riêng vắng mặt có mình ta.

Dịch thể lục bát:

Độc tại dị hương vi dị khách Một thân làm khách xa quê

Mỗi phùng giai tiết bội tư thân Gặp khi trời đẹp nhớ nhà khôn nguôi.

Dao tri huynh đệ đăng cao xứ Anh em trèo núi dạo chơi

Biến tháp thù du, thiểu nhất nhân ... Thù du cành bẻ một người thiếu thôi.

Chú thích: Thù du là thứ cây có hoa đẹp. Ở Sơn Đông, tết Trùng Dương có tục mọi người leo núi bẻ một cành thù cài đầu lấy "khước" ... Tác giả bài thơ xa nhà, nghĩ lúc anh em họp mặt đông đủ, chỉ thiếu một người là mình, mà buồn!



LÝ BẠCH

Tĩnh Dạ Tư Đêm Yên Tĩnh Suy Nghĩ

Dịch nguyên thể:

Trước giường trăng sáng gương

Ngờ đất phủ màn sương

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng

Cúi đầu nhớ cố hương.

Dịch thể lục bát:

Sàng tiền minh nguyệt quang Trước giường trăng sáng như gương

Nghi thị địa thượng sương Ngờ trên mặt đất màn sương phủ mờ.

Cử đầu vọng minh nguyệt Ngửng đầu trăng sáng như thơ

Đê đầu tư cố hương Cố hương ta những hồn mơ cúi đầu.

Ức Đông Sơn Nhớ Đông Sơn

Dịch nguyên thể:

Đông sơn cách biệt mãi

Tường vi nở mấy thời.

Mây trắng bay tản mát

Nhà ai trăng sáng rơi.



Dịch thể lục bát:

Bất hướng Đông Sơn cửu Đông sơn xa cách lâu rồi

Tường vi kỷ độ hoa Tường vi nay đã mấy thời nở hoa.

Bạch vân hoàn tự tán Tan tác mây trắng trời xa

Minh nguyệt lạc thùy gia? Nhẹ nhàng trăng sáng bên nhà ai rơi.



CAO THÍÏCH

Trừ Da Tác Viết Đêm Giao Thừa

Dịch nguyên thể:

Đèn lạnh phòng khuê sầu lẻ bóng

Vì đâu thao thức mãi thâu đêm.

Mơ hoài quê cũ xa ngàn dặm

Lại một năm về tóc bạc thêm.



Dịch thể lục bát:

Lữ quán hàn đăng độc bất miên Đèn mờ lữ quán đơn côi

Khách tâm hà sự chuyển thê nhiên Vì đâu dạ khách rối bời lòng thơ.

Cố hương kim dạ tư thiên lý Nhớ quê muôn dặm xa mờ

Sương mấn minh triêu hựu nhất niên Năm về thêm để bạc phơ mái đầu.



ĐỖ PHỦ

Tuyệt Cú Tuyệt Cú

Dịch nguyên thể:

Nước biếc chim thêm trắng

Nước xanh hoa tươi sao.

Xuân này thôi đã quá

Quê cũ về năm nao.

Dịch thể lục bát:

Giang bích điểu du bạch Non xanh thêm vẻ hoa tươi

Sơn thanh hoa dục nhiên Cánh chim thêm trắng trắng ngời non xanh.

Kim xuân khan hựu quá Lựu hoa đã nở trên cành

Hà nhật thị qui niên? Ngày về quê cũ biết đành năm nao?

SẦM THAM

Đề Bình Dương Quận Đề Cây Liễu Ở Bên Cầu Sông Phần

Phần Kiều Biên Liễu Thụ Quận Bình Dương

Dịch nguyên thể:

Đất này ta từng ở

Về như về cố hương

Sông Phần ôi khóm liễu

Tương kiến đầy luyến thương.

Dịch thể lục bát:

Thử địa tằng cư trú Nơi này ta ở năm xưa

Kim niên uyển tự qui Năm nay trở lại quê nhà khác chi.

Khả liên Phần thượng liễu Sông Phần thương liễu trên đê

Tương kiến dã y y Người quen tương kiến trăm bề luyến thương.



Kiến Vị Thủy Tư Tần Xuyên Thấy Vị Thủy Nhớ Tần Xuyên

Dịch nguyên thể:

Sông Vị về đông chảy

Ngày nào tới châu Ung

Đôi dòng lệ xin nhớ

Vườn cũ cho gửi chung.

Dịch thể lục bát:

Vị Thủy đông lưu khứ Rạt rào sông Vị về đông

Hà thời đáo Ung Châu Bao giờ cảnh trí châu Ung tới gần

Bằng thiêm lưỡng hàng lệ Hai hàng lệ chảy phân vân

Ký hướng cố viên lưu Vườn xưa xin gửi tình thâm tới cùng.



Phùng Nhập Kinh Sứ Gặp Sứ Vào Kinh

Dịch nguyên thể:

Phía đông vườn cũ đường xa tắp

Tay áo luôn luôn gạït lệ tràn

Trên ngựa trùng phùng không giấy bút

Nhờ anh nhắn hộ vẫn bình an.

Dịch thể lục bát:

Cố viên đông vọng lộ man man Phía đông vườn cũ đường xa

Song tụ long trung lệ bất can Aùo tay luôn gạït lệ sa nhạt nhòa.

Mã thượng tương phùng vô chỉ bút Trên yên bút giấy không mà

Bằng quân truyền ngữ báo bình an Nhờ anh tin nhắn về nhà bình an.

#14
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:
Anh em thấy bài nào hay post lên mình bình luận chơi nhe.

#15
HuangYue

HuangYue

    Trăng vàng

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1646 Bài Viết:
Thơ Đường mà không có bản chữ Hán - chỉ có bản dịch âm Hán Việt đọc chả hiều gì hết trơn.

#16
tuongvan_kim

tuongvan_kim

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 282 Bài Viết:
Từng bài thôi anh ơi, post vầy khó đọc lắm. Chắc phải ra nhà sách cũ mua bộ "tuyển tập thơ Đường" về chơi với anh quá :dede" Hồi xưa đi học thì thuộc hết bộ, bỏ hơn 10 năm rồi, giờ không nhớ bài nào nữa, hic

#17
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:

Thơ Đường mà không có bản chữ Hán - chỉ có bản dịch âm Hán Việt đọc chả hiều gì hết trơn.

Muốn có chữ Hán cũng dễ thôi nhưng nhìn vào có biết gì đâu nè.
Chữ Hán có tới hơn 200 bộ ghép lại đọc muốn mờ con mắt chẳng biết nó viết gì nữa, đọc bản dịch thì hay hơn nhìu...:))
@TVK: Thì em thấy tại sao tụi mình gặp nhau toàn trong những quán.....thơ đường đó...hahahaha

#18
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:
Bài này mình đọc thấy ưng ý lắm, ai có đời sống nội tâm nhiều mà đọc xong thì chắc chắn cảm xúc rất khó tả.
Phong Kiều Dạ Bạc (Trương Kế)
Posted Image
Đêm trời lạnh. tình cờ đọc bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế, bất giác cảm tác mà muốn viết một bài tóm tắt về bài thơ Đường tứ tuyệt trên. Giai thoại kể rằng, một hôm nhà thơ Trương Kế đi chơi thuyền trên sông. Đêm đã về khuya, nhà thơ cao hứng cất lên hai câu thơ tuyệt tác:

Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên
Giang phong ngư hoả đối sầu miên




Chỉ được đến đó, nhà thơ chưa có cảm hứng làm nốt vế sau. Cùng lúc đó, tại chùa Hàn San ngoại thành Cô Tô, sư cụ trụ trì cảm hứng nghĩ ra 2 câu thơ:

Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tự ngân câu bán tự cung


Thao thức mãi trong phòng mà sư cụ không nghĩ ra 2 câu tiếp. Tự nhiên có tiếng gõ cửa. Thì ra là chú tiểu cũng trằn trọc vì 2 câu thơ mà mình mới nghĩ ra:

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thuỷ đế bán phù không


nhưng cũng không làm tiếp được và xin thầy giúp. Nghe xong, sư cụ mừng quá vì quả thật 2 câu thơ của chú tiểu ăn khớp với 2 câu của sư cụ thành 1 bài tứ tuyệt mà Trần Trọng San đã dịch như sau:

Mồng ba, mồng bốn, trăng mờ
Nửa dường móc bạc, nửa như cung trời
Một bình ngọc trắng chia hai
Nửa chìm đáy nước, nửa cài từng không


Để tạ ơn Thần Phật, phá lệ thường, sư cụ cho dóng lên một hồi chuông giữa đêm khuya thanh vắng. Phần nhà thơ Trương Kế, vẫn đang trằn trọc với hình ành “Nguyệt lạc ô đề” mà chưa ngủ được; bỗng đâu nghe tiếng chuông chùa vừa thực vừa hư gieo vào lòng ông thi hứng, thi nhân từ đó viết nốt 2 câu cuối, và cũng là 2 câu thơ để lại nhiều tranh cãi luận bàn cho hậu thế:

Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền


Cả bài thơ tuyệt cú đã thành! Nguyễn Hàm Ninh xưa đã dịch bài thơ sang thể lục bát như sau:

Quạ kêu, trăng lặn, trời sương
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.


Ngoài ra, bản dịch của nhà thơ Tản Đà thịnh hành và được yêu thích hơn:

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.


Trong văn đàn còn lưu truyền bản dịch của Mai Nguyệt:

Quạ kêu trăng xế trời sương
Lửa chài cây bến đối sường Sầu Miên
Hàn San vẳng tiếng chuông chiền
Nửa đêm đưa mãi đến thuyền Cô Tô.


Hình ảnh bài thơ đẹp và thi vị quá! Trải qua 13 thế kỷ, 28 chữ trên vẫn đầy sức sống, vẫn kiến tạc nên 1 không gian hư ảo nhiều chiều, khiến người đọc như thấy được 1 phong cảnh trời nước mênh mang từ thành Cô Tô ra tới chùa Hàn San. Hình ảnh con đò, dòng sông với ánh lửa chài và văng vẳng tiếng quạ kêu sương hiện lên vừa nên thơ, vừa thân thuộc. Thế rồi trong cái cô tịch khuya khoắt của đêm trăng mờ, chợt ngân lên tiếng chuông chùa vừa thái bình lại vừa xáo động. Những yếu tố đó kết hợp với nhau, cùng với những địa danh vùng Tô Châu Thượng Hải, gieo vào lòng người đọc chút gì đó huyền thoại, chút gì đó lắng đọng, tất cả đều thanh tao và thơ mộng.

Chùa Hàn San năm xưa giờ đã khác nhiều, vật đổi sao dời âu cũng là chuyện thường của tạo hoá, có chăng cái hồn năm xưa thì còn mãi. Suốt trong 13 thế kỷ, sau bài thơ của Trương Kế, Hàn San Tự trở nên nổi tiếng, là nơi viếng thăm của dòng người thập phương mến mộ mà tìm đến. Trong dòng người trân trọng cái đẹp nên thơ đó, có 1 người Việt Nam đã đến và ghi lại cảm tưởng của mình như sau:

…Hàn Sơn không phải là một núi lạnh, mà là tên một vị sư kiêm thi sĩ trụ trì tại ngôi chùa này, xây từ thế kỷ thứ VII, sau có được tu sửa lại. Tường chùa màu vàng áo cà sa trên nền cây xanh, trông rất đẹp khi đứng nhìn từ trên chiếc cầu vồng, cầu Phong Kiều, tuy rằng hiện nay không còn cây phong nào bên cầu, mà chỉ còn hai hàng cây phong hai bên con đường nhỏ dẫn tới cầu này…” (1995)

Đọc xong bài thơ cùng các bản dịch, cảm hiểu vì sao Phong Kiều Dạ Bạc lại trở thành 1 trong những bài thơ Đường nổi tiếng nhất qua nhiều thời đại. Thấy được cái đẹp vượt không gian và thời gian; trân trọng cái thanh tao, lãng mạn của kẻ sĩ; nể phục cái thú say sưa bất tuyệt của người xưa; xin mạo muội mượn đôi câu cuối bài Bán dạ tuý thay lời kết của người viết bài:
“Cảm tạ tiền nhân lưu bút tích,
Ngàn năm vọng mãi tiếng chuông ngân.”


#19
HuangYue

HuangYue

    Trăng vàng

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1646 Bài Viết:
Huongmany có post bài bình Phong Kiều Dạ bạc bên box Tiếng Trung hay lắm - AE vào tham khảo; thơ đường mình thích nhất là bài này

#20
vongnguyet

vongnguyet

    Dương Khiết - Hải Nguyệt

  • Advance Member
  • PipPip
  • 159 Bài Viết:

Hiệp Khách Hành của Lý Bạch

Triệu khách mạn hồ anh,
Ngô câu sương tuyết minh
Ngân an chiếu bạch mã
Táp nạp như lưu tinh
Thập bộ sát nhất nhân
Thiên lý bất lưu hành
Sự liễu phất y khứ
Thâm tàng thân dữ danh
Nhàn quá Tín lăng ẩm
Thất kiếm tất tiền hoành
Tương chích đạm Chu Hợi
Trì Trường khuyến Hầu Doanh
Tam bôi thổ nhiên nặc
Ngũ nhạc đảo vi khinh
Nhãn hoa nhĩ nhiệt hậu
Ý khí tố nghê sinh
Cứu Triệu huy kim chùy
Hàm Đan tiên chấn kinh
Thiên thu nhị tráng sĩ
Huyên hách Đại Lương thành
Túng tử hiệp cốt hương
Bất tàm thế thượng anh
Thùy năng thư các hạ
Bạch thủ Thái huyền kinh


Dịch nghĩa

Khách nước Triệu phất phơ giải mũ
Gươm Ngô câu rực rỡ tuyết sương
Long lanh yên bạc trên đường
Chập chờn như thể muôn ngàn sao bay
Trong mười bước giết người bén nhạy
Nghìn dặm xa vùng vẫy mà chi
Việc xong rũ áo ra đi
Xoá nhòa thân thế, kể gì tiếng tăm
Rảnh rang tới Tín Lăng uống rượu
Tuốt gươm ra, kề gối mà say
Chả kia với chén rượu này,
Đưa cho Châu Hợi, chuốc mời Hầu Doanh.
Ba chén cạn, thân mình xá kể!
Năm núi cao, xem nhẹ lông hồng
Bừng tai, hoa mắt chập chùng,
Mống tuôn hào khí mịt mùng trời mây
Chùy cứu Triệu vung tay khảng khái,
Thành Hàm Đan run rẩy, kinh hoàng
Nghìn thu tráng sĩ hai chàng
Tiếng tăm hiển hách, rỡ ràng Đại Lương.
Thân dù thác, thơm xương nghĩa hiệp;
Thẹn chi ai hào kiệt trên đời.
Hiệu thư dưới gác nào ai?
Thái huyền, trắng xoá đầu người chép kinh

Trần Trọng San

Bài thơ trên đây đã được Kim Dung dựa vào để viết lên truyện Hiệp khách hành, sau này đã được dựng lên thành phim.
...1 thời để nhớ ... để quên...






Perfumista - Thong tin nuoc hoa

Stars Counter Game

Balloon vs. Thorns

MU Phuc Hung

Làm Việc Tài Nhà

Mu Da Nang

Tuyển Nhân Viên Bán Hàng

Tư vấn sức khỏe trực tuyến

Close [X]