Jump to content

Welcome to [ iT ] Forums
Register now to gain access to all of our features. Once registered and logged in, you will be able to create topics, post replies to existing threads, give reputation to your fellow members, get your own private messenger, post status updates, manage your profile and so much more. If you already have an account, login here - otherwise create an account for free today!
MU Moi ra - MU ONLINE



MU Moi ra - VINA MU

Hình ảnh

Tản mạn về cây Mai ngày tết


  • Please log in to reply
6 replies to this topic

#1
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:

Posted ImagePosted Image


Posted Image


Mai Tết


Posted Image


Posted Image


Posted Image


Posted Image


Posted Image


Posted Image


Posted Image


Posted Image


Posted Image



#2
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:

Posted Image


Posted ImageHình ảnh này đã được thu nhỏ. Nhấn vào thanh này để xem hình ảnh mở rộng. Kích cỡ của ảnh gốc 800x600 và dung lượng 47KB.Posted Image


Posted ImageHình ảnh này đã được thu nhỏ. Nhấn vào thanh này để xem hình ảnh mở rộng. Kích cỡ của ảnh gốc 800x600 và dung lượng 43KB.Posted Image


Posted ImageHình ảnh này đã được thu nhỏ. Nhấn vào thanh này để xem hình ảnh mở rộng. Kích cỡ của ảnh gốc 800x600 và dung lượng 48KB.Posted Image


Posted ImageHình ảnh này đã được thu nhỏ. Nhấn vào thanh này để xem hình ảnh mở rộng. Kích cỡ của ảnh gốc 800x600 và dung lượng 80KB.Posted Image


Posted ImageHình ảnh này đã được thu nhỏ. Nhấn vào thanh này để xem hình ảnh mở rộng. Kích cỡ của ảnh gốc 800x600 và dung lượng 54KB.Posted Image


Posted ImageHình ảnh này đã được thu nhỏ. Nhấn vào thanh này để xem hình ảnh mở rộng. Kích cỡ của ảnh gốc 800x531 và dung lượng 70KB.Posted Image


Posted Image


HOA MAI

Posted Image



#3
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:
Hoa Mai trong ngày Tết của người miền Nam

Hoa Mai, với miền Nam nước Việt, nằm trong vùng khí hậu nhiêt đới rất thích hợp môi trường cho Hoa Mai đơm bông nẩy lộc mỗi dịp Xuân về Tết đến. Khác với miền Bắc, khí hậu có phần nào lạnh lẽo hơn, thích hợp cho Hoa Đào khoe sắc.

Posted Image

Đào đỏ, mai vàng. Màu đỏ thăm tươi biểu tượng cho sự vui mừng; màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng vinh hiển cao sang. Tại nước Việt màu vàng còn tượng trưng cho Vua (thời phong kiến) Màu vàng thuộc hành Thổ trong ngũ hành- Thổ nằm ở vị trí Trung Ương, và màu vàng cũng tượng trưng cho nòi giống Việt. Không ngạc nhiên dân Việt chuộng mai vàng cho ngày đầu năm tại phương Nam.

Nói đến hoa Mai sách vở và trong dân gian chia Mai làm mấy loại:

Khánh khẩu mai: Mai trồng ở vùng núi Khánh Khẩu (Có lẻ ở bên Tàu)

Hà Hoa mai: Cánh mai giống cánh hoa sen ôm tròn vào nhụỵ

Đàn Hương mai: Mai vàng màu sậm, nhiều hoa, hương thơm nồng, nở sớm.

Ban Khấu mai: Cánh hoa cong cong, không nở xòe như các loại khác.

Cẩu Đăng mai: Hoa nhỏ không có hương thơm.

Không biết từ lịch sử nào trong dân gian có những phân chia như vậy về Mai. Tuy nhiên, theo sự thông tục bình thường, người chơi mai, mua mai chỉ chú đến 2 loạị Mai Tứ Quý, nở bốn mùa có năm cánh, bông to, và một loại Mai có mười cánh, bông nhỏ hương thơm.

Khi chọn mua một cành mai về chưng trong ba ngày Tết, người mua thường để ý các điểm sau đây:

- Những cành mai có dáng đẹp, với các hình dáng một gốc “lão mai” gốc to, da sần sùi, mọc rong rêu càng tốt, nhánh khẳng khiu và có thể có những hình thể như: Chân quỳ, Hạc bay, Phụng Hoàng…

Ngoài những nét trên, người mua mai còn chú trọng đến sự phân chia các nhánh trên một gốc mai. Nhánh to, nhánh nhỏ, sự sắp xếp các nhánh. Có thể phân chia tên gọi tùy sự phong phú của các tay chơi mai chuyện nghiệp.

Nhìn chung có các điểm cần chú ý khi lực một nhành mai: Các cành phân chia thứ lớp, bông rải đều, nhánh to khỏe, nhánh uyển chuyển, nụ bụ bẩm, lá non vừa nhú.
Ngoài ra những người chơi mai chuyên môn còn phân biệt thêm nhiều thứ phụ khác nữa mà chỉ có các nhà ấy biết mà thôi. Thí dụ như Nhụy Âm Dương, Cành Tứ Quý. Nhụy âm đương là chỉ đạo vợ chồng phu phụ, cành từ quý chỉ bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông…v.v. Đặc biệt là các nhà nho học chơi mai rất công phụ Một cành mai nở không đúng vào dịp Tết, mai vừa nở đã rụng, hoặc các nhánh phân bố không hợp cách là xui xẻo cả năm (Người chơi mai tin như vậy).

Nói chung do sự nhân cách hóa mà con người đã đặt vào cây mai khi đem bày trong nhà trong ba ngày Xuân. Phong tục á Đông nói chung, Việt nam nói riêng rất trọng sự tôn ti trật tự, trên dưới trong ngoài thành nề nếp. Và mỗi cuộc chơi đều mang theo nhiều ý nghĩa cao siêu.

Từ những nhu cầu như thế cho nên ngoài những cành mai bình thường bày bán trong các chợ tết, những cành mai nầy cắt từ những cây mai trong vườn, bó lại bằng lá dừa và mang ra chợ bày bán, cốt mua về cho có hương thơm, có màu vàng trên bàn thờ cho tăng thêm không khí tết; các chủ nhân các gốc lão mai thường ỏ công ra chăm bón những cành mai rất đạt tiêu chuẩn yêu cầu của các bậc danh nho đòi hỏi. Tất nhiên các gốc mai nầy giá đáng bạc vạn.

Trồng mai trên đất vườn phải là thứ đất đen, đất thịt nhưng không giữ nước để tránh úng thủy. Mai trồng trên các luống vồng cao, có khoảng cách vừa đủ đề cây tăng trưởng. Mỗi năm vào rằm tháng 10 Âm Lịch phải ngắt hết lá để dồn nhựa cho các nhánh ra hoa. Tuốt lá không đúng ngày sẽ ảnh hưởng đến ngày hoa nở. Khi cắt nhánh đem ra chợ phải đốt gốc. Cách đốt gốc cũng góp một phần không nhỏ vào việc giữ cho hoa nở bền hơn.

Ngoài các loại mai vàng kể trên, tại Lục Tỉnh còn một loại mai trắng, còn có tên gọi là Nam Mai- Cây Nam Mai chánh thực là cây gì? Đó là cây Mù U. “Nhánh mù u con bướm vàng không đậu, vì xa em mà thành điệu nhớ não lòng” Mù u bông trắng, năm cánh, lá mù u to bản dày kích thước chừng bàn tay người lớn. Thân mu u là thân mộc, mù u có trái tròn không ăn được, hột mù u ép làm dầu thắp đèn, nhiều khói ít sáng. Cây mù u có tên Nam Mai trong sự tích Gia Long Tẩu quốc.

Cứ mỗi dịp Xuân về bất cứ con người Việt Nam nào, nếu còn yêu quê hương, còn trông về nguồn gốc, đều cảm thấy một nỗi sầu man mát dâng tràn. Dù cho đang sống tại quê nhà hay đang lưu lạc khắp năm châu bốn biển. Nhắc đến cây Mai là nhắc đến ngày tết cổ truyền dân tộc, nhắc đến bành dày bánh chưng, cây nêu tràng pháo, thịt mỡ dưa hành.

Sưu Tầm



Posted Image



#4
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:

Posted Image

Đã từ lâu hoa mai đã được mọi người chiêm ngưỡng, tượng trưng cho những gì đẹp đẽ thanh tao. Mỗi khi hoa mai nở rộ là mỗi lúc lòng người hớn hở nao nao, là dấu hiệu mùa xuân đang về. Hoa mai và ngày xuân là một biểu tượng không thể thiếu cho phần lớn các sắc dân cư ngụ trong vùng Á Châu. Khi nói đến ngày xuân, người ta liên tưởng đến ngày đầu năm, thật vậy, ngày Tết Nguyên Đán mà thiếu vắng bóng dáng hoa mai là một điều thiếu sót lớn mà mọi người trong chúng ta đều mặc nhiên công nhận. Đã từ lâu hoa mai đã đóng một vai trò quan trọng trong văn học Á Đông, đó là nguồn cảm hứng của biết bao danh nhân.


Posted Image
Nhất Chi Mai


Vị tình lai ký nhất chi mai
Ký nhất chi mai hữu biệt hoài
Hữu biệt hoài chi mai nhất ký
Chi mai nhất ký vị tình lai
( diễn nghĩa )
Vì tình ai gởi lại một cành mai
Gởi lại cành mai xa nhớ hoài
Xa nhớ hoài cành mai gởi lại
Cành mai gởi lại vì tình ai
"Nhất chi mai" và cũng chỉ "nhất chi khai" nói lên cái đẹp của một cành mai và chỉ một cành mai nở hoa đẹp tuyệt vời trong khung cảnh tuyết phủ lạnh lẽo. Nhất chi mai trong bài "Cáo tật thị chúng" của thiền sư Mãn Giác:
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
(Đêm qua sân trước một cành mai)
Nhất chi khai, chỉ duy nhất một cành mai nở sớm trong bài "Tảo mai" của Tề Kỷ: Tạc dạ nhất chi khai

Người Trung hoa lấy hoa mai tượng trưng cho tinh thần và khí tiết của dân tộc, họ coi hoa mai là quốc hoa. Nghệ thuật thưởng thức hoa mai phát xuất từ Trung Hoa, sau đó lan rộng sang những nước chịu ảnh hưởng của nền văn hóa này. Mượn hoa, mượn cảnh để gởi gấm tâm tình của các thi nhân hay chuyển ý, tải đạo của các vị thiền sư đã trở nên vô cùng quen thuộc. Xuất phát từ Thiên Quý Thi trong sách Luận ngữ "Ích giã tam hữu" là hữu trực, hữu lượng và hữu đa văn (Bạn hữu có ích gồm 3 hạng; ngay thẳng, rộng lượng và hiểu biết nhiều) mà người xưa đã xếp Mai, Tùng, Trúc thành "Tam Ích Hữu" (3 người bạn có ích, gọi là Ngự Sử Mai, Trượng Phu Tùng và Quân Tử Trúc). Sách Nguyệt Lệnh Quảng Nghĩa lại gọi hình tượng ước lệ mai, tùng, trúc là "Đông Thiên Tam Hữu", Đông Xuân Tam Hữu" hay " Tuế Hàn Tam hữu". Tuế hàn tam hữu là đề tài chiếm một vị trí quan trọng trong thi ca cổ điển Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Mai, tùng, trúc là 3 loại cây có đặc tính biểu hiện cho cái đẹp chân, thiện, mỹ, chịu đựng được sự khắc nghiệt của phong ba, bão tuyết nên được xưng tụng là Tuế Hàn Tam Hữu.

Ngoài bộ Tam Hữu, mai còn kết hợp với lan, cúc, trúc tạo nên bộ tranh " Tứ Quý " lưu truyền trong dân gian. Chính danh 4 loại cây"Mai, Lan, Cúc, Trúc " được các vị theo Nho học gọi phóng là " Tứ quân Tử ", nói lên sự yêu quý của họ đối với tứ quý này. Người Trung Hoa xếp hạng " Quân tử" cao hơn " Anh hùng, Hào kiệt" rất nhiều. Như ta biết trong Tứ Quân Tử thì trúc đứng hàng đầu.


Posted Image
Posted Image
Posted Image

MAI: là loài hoa nở đầu tiên trong năm, ngay từ tiết Lập xuân giá lạnh, trong khi những loài hoa khác lại bị héo úa, nên được xưng tụng là " Bách Hoa Khôi ", tượng trưng cho cốt cách thanh nhã của người quân tử.

LAN : còn gọi là " Vương giả chi hoa ", riêng Khổng Tử gọi là " Vương giả chi hương " qua bài "Ỷ Lan Tháo", khi nhìn hoa lan nở giữa đám cỏ dại. Bởi thế Lan tượng trưng cho người quân tử bất đắc chí.

CÚC còn có tên là " Tiết Hoa ", không chịu nở cùng lúc với các loài hoa khác, chỉ nở vào tiết lạnh của mùa thụ Do sự biệt lập đó mà Cúc tượng trưng cho tiết tháo của kẻ sỹ: không a dua, không siểm nịnh.

TRÚC: " Tiết trực tâm hư " là một loài phi thảo, phi mộc; bất cương, bất nhu; tiểu dị không thực, đại đồng tiết mục...Trúc tượng trưng nơi ăn, chốn ở của bậc chính nhân.


Sách vở Trung Hoa đã phân chia thứ bậc cho các giống mai. Quý nhất là Khánh Khẩu mai, kế đến Hà Hoa mai, Đàn Hương mai, Ban Khấu mai, sau cùng la Cẩu Đăng mai.

- Khánh Khẩu mai : hoa mai mọc ở vùng núi cao Khánh Khẩu.
- Hà Hoa mai : cánh mai giống như cánh hoa sen ôm tròn vào nhụy.
- Đàn Hương mai : hoa mai màu vàng sậm như màu gỗ Tử Đàn.Hoa mai Đàn

Hương rất nhiều hoa, hương thơm nồng, nở trước các loại mai khác.
-Ban Khấu mai : cánh hoa cong cong, khi nở không xòe và hoa hơi cúi đầu.
-Cẩu Đăng mai : hoa nhỏ, không có hương thơm.

Tên khoa học của hoa mai là Ochna Harmandits. Trên thế giới có hơn 20 loại hoa mai khác nhạu Riêng tại Việt Nam, có khoảng tám (8) loại mai gồm Bạch mai, Hồng mai, Hoàng mai, Nhất chi mai, mai tứ Quý, mai Chiếu Thủy, Song mai và hai (2) loại đã có tên riêng theo trái của nó đó là mơ và mận. Nhưng khi phân loại theo tính chất của một loài hoa, mơ và mận vẫn được ghép vào loại hoa mai. Theo phong thủy từng vùng, những cơn mưa phùn trên đất Bắc và xứ Huế, luôn kèm theo những cơn gió bấc, nên "Đàng Ngoài" có các loại mai như :

-SONG MAI: Một giống mai đặc biệt, có nhiều ở huyện Thanh Trì, miền Bắc.Hoa màu trắng muốt, ra hoa và kết trái từng đôi nên được gọi là song mai.

-MAI MƠ: Còn gọi là Hạnh mai, thông tục gọi là cây mơ. Tên khoa học là Prunes Mume(Armeniaca Mume), xếp vào họ Rosaceae, có khoảng 300 loại. Cây mơ cao từ 6 đến 9 mét, lá rộng tròn và dài, đầu nhọn, có răng cưa.Hoa nở vào đầu xuân, sau đó mới nảy lá, đài hoa đỏ tía hoặc xanh thẫm, hoa thường có 5 cánh với hai sắc: trắng và hồng. Hoa mai mơ sắc trắng còn được gọi là Lục Ngạc Mai. Hoa kết thành quả, quả khi chưa chín có màu xanh, khi quả chín có màu vàng. Trái có vị chua ngọt, mùi thơm phảng phất rất lâu. Trái mơ được rim với đường làm thành ô mai xí muội mà trẻ con và thanh thiến niên không thể không biết đến. Trong thi ca, ô mai đã đi chung với tuổi vị thành niên như bài " Tuổi O mai " (.. ten nhạc sĩ ), chữ xí muội gọi theo âm Quảng Đông của chữ Hán Tiểu Mai. Nơi núi rừng quanh chùa Hương, thuộc vùng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, Bắc Việt có những rừng mơ trắng xóa, phong cảnh này được nhắc đến rất nhiều trong thi ca Việt Nam như
" Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi " - Nguyễn Bính
hay
" Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái " - Chu Mạnh Trinh.

Tại miền nam Việt Nam ngày Tết luôn rơi vào thời tiết nóng, vì thuộc khí hậu nhiệt đới và gần đường xích đạo, khác với khí hậu có phần nào lạnh lẽo như tại miền Bắc, do đó tại " Đàng Trong " ta tìm thấy các loại mai như mai Chiếu Thủy, Nhất chi mai, mai Tứ Quý, Bạch mai, Hoàng mai, Nam mai và một loại mới, đó là mai trắng Miến Điện.

Posted Image

Posted Image

Posted Image

- MAI CHIẾU THỦY : là cây đa niên,gốc to, cành nhánh nhiều. Cao khoảng 1m50. Lá dài, nhỏ, mọc thành đôi. Hoa nhỏ 5 cánh, mọc thành chùm nhỏ li ti, màu trắng tuyền, có mùi thơm dịu dàng, dễ chịu. Cuống hoa dưới luôn luôn hướng xuống đất nên được gọi là mai Chiếu Thủy.

- NHẤT CHI MAI : hoa màu trắng pha hồng, gặp ở miền Nam.

- MAI TỨ QUÝ : Loại mai có 5 cánh màu vàng tươi, tên khoa học là Ochna Astropurpur. Hoa không nhiều, nhưng tự trổ, không cần trảy lá trước. Loài hoa này được coi là một loại mai kiểng. Vì loài hoa này nở quanh năm, mùa nào cùng có thể trổ hoa nên còn được gọi là mai Tứ Quý. Ngoài ra còn có tên gọi khác là "Mai đỏ" , nguyên do chính là khi hoa tàn 5 cánh hoa vàng rụng hết và 5 đài hoa bên dưới liền biến thành đỏ sẫm. Các đài hoa thay vì xòe ra như trước khi tàn, lại úp vào ôm lấy nhụy, trông như đóa hoa búp vậy. Nhụy hoa bên trong kết hạt, từ màu xanh khi còn non đổi sang màu đen lúc già,to dần, đẩy 5 đài hoa lại nở bung ra lần thứ hai như một đóa hoa mai màu đỏ, chính vì lẽ đó mà mai Tứ Quý còn được gọi là Nhị Độ mai ( hoa nở 2 lần, trước vàng, sau đỏ).

- BẠCH MAI : Cây cao 15m, hoa có mùi thơm dễ chiu như mai Chiếu Thủy. Hoa bạch mai có dáng như hoa sứ, màu trắng, 4 cánh dày, nhụy vàng, thuộc loại hoa hiếm. Có ở vùng núi Bà Đen ( thuộc tỉnh Tây Ninh), đền Cây Mai (Cholon), chùa Giác Duyên ( Cholon ), đình Phú Hưng( Bến Tre), lăng Mạc Cửu ( Hà Tiên ).

-MAI TRẮNG MIẾN ĐIỆN : Đây là một loài hoa mai lạ, chỉ có ở một số tỉnh miền Tây. Thân cành như cây mai vàng, lá hơi to, màu sắc nửa trắng, nửa xanh như lá cây mai trắng Miến Điên. Đài hoa có 5 cánh thuôn dài, bên ngoài màu xanh nhạt, bên trong màu xam xám. Hoa rất đẹp,10 cánh màu trắng, nở xòe rộng, to và tròn. Dọc theo cánh hoa có từ 2 đến 3 đường gân nhuyễn nổi lên, trông rất la.Ngay giữa hoa có chùm nhụy màu vàng nghê, có khi từ 10 cánh, hoa nở thành 12 hoặc 13 cánh.

-NAM MAI : là một loại mai trắng có rất nhiều ở vùng" Nam kỳ lục tỉnh", cũng có thể kiếm thấy ở Thừa Thiên, miền Trung. Đó chính là cây "Mù U". Cây mù u có tên là Nam Mai do sự tích Nguyễn Ánh (vua Gia Long) tẩu quốc. Cây mù u có tên khoa học là Ochrocarpus samensis,thuộc họ Guttiferae(măng cụt). Cây mù u thân mộc, dùng làm cột nhà, cầu khỉ, cối xay v.v...Lá mù u to bản, dày, kích thước bằng bàn tay người lớn. Trái mù u tròn, to cỡ ngón chân cái, không ăn được. Hột mù u ép làm dầu thắp đèn(nhiều khói, ít sáng). Vỏ trái mù u dùng làm gáo múc nước mắm, nước cốt dừa v.v...Gáo mù u càng dùng lâu càng đổi màu nâu sẫm. Hoa mù u 5 cánh trắng và to như hoa Bạch mai, cây Nam mai này đã khơi nguồn cảm hứng cho nhà thơ "Minh Hương" Trịnh Hoài Đức và các cây bút cùng thời viết nên thi tập "Mộng Mai Đình". Cây Nam mai này cũng là biểu tượng của "Thi xã Bạch Mai" quy tụ nhiều tên tuổi ở Nam Kỳ vào thế kỷ trước như Phan Văn Trị, Tôn Thọ Tuờng, Trần Thiện Chánh, Hồ Huấn Nghiệp, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Thông v.v...

Thi hào Cao Bá Quát trong bài "Tài Mai" có câu
"Thí tương mai trữ tịch quan sơn"
(Muốn đem hạt mai gieo trồng khắp núi đồi).
Vì hoa mai đã được nhân tài thất thời của thế kỷ 19 nghiêng mình
"Nhất sinh đê thủ bái mai hoa"
(Một đời chỉ cúi đầu bái phục hoa mai).
Cây Nam mai cũng được vào thi ca của Cao Chu Thần như sau:
"Phiêu phiêu thùy lệ hướng Nam Mai"
(Rưng rưng dòng lệ nhìn hàng Nam Mai)
Thi sĩ Kiên Giang đã viết "Nện vào lòng tiếng vọng rưng rưng" qua bài " Theo chân ngoại lượm trái mù u "
...Lượm tiếp ngoại mù u mới rụng
Xe đèn thắp đỡ tối ba mươi
Ở nhà quê nhớ thời đồ khổ
Đèn đuốc mù u vẫn sáng trời
...Móc ruột mù u, chừa vỏ mỏng
Anh làm gáo nhỏ, chơi nhà chòi
Nước mưa, em uống năm, mười gáo
Uống nước nhà quê nhớ suốt đời
...Cây mù u cỗi, người ta đốn
Làm cối, làm chày, giã gạo thuê
Mất ngoại, xa em, buồn héo ruột
Mình anh thờ thẫn dạo đường quê
Đèn mù u, chiếc gáo mù u
Đã lắng chìm trong bụi mịt mù...

-HOÀNG MAI : Mai vàng, còn được gọi là Lạp mai. Lạp là sáp ong, được ví với màu vàng tươi nhuận của hoa mai. Còn hiểu cách khác thì Lạp nguyệt là tháng chạp, vậy Lạp mai là loài hoa mai chỉ nở một lần trong năm vào cuối tháng chạp (tháng 12 âm lịch). Tại Việt Nam, nơi có nhiều mai vàng nhất là trong những khu rừng thuộc dãy Trường sơn, thuộc các tỉnh từ Quảng Nam, Đà Nẵng đến Khánh Hòa. Rừng ở các tỉnh cao nguyên cũng có, nhưng ít hơn. Mai vàng mọc trên rừng còn gọi là "Mai Núi". Mai núi do phải chen tìm đất sống với những cây khác ở địa thế khắc nghiệt trong cuộc sinh tồn nên dáng cây có vẻ đẹp đặc biệt. hoa lại có nhiều cánh. Có hoa có từ 12 đến 18 cánh. Một loại mai vàng khác mọc ở triền cát, rừng ven biển được gọi là "Mai Động". Dáng cây mai động suông, tròn, hoa ra chi chít, cánh nhỏ. Các tỉnh miền Trung từ Quảng Bình, Quảng Trị đổ vào, kéo dài đến tận đồng Nai, Tây Ninh, nơi nào cũng có mai vàng. Hoa mai vàng mọc thành chùm, có cuống dài treo lơ lửng bên cành, ở nách vệt cuống lá và hơi thưa. Hoàng mai mãn khai sau khoảng 2 ngày thì rụng cánh. Hoàng mai có nhiều loại khác nhau. Có loại cánh lớn, mọc dày, ngược lại, có loại thật mỏng manh với những cánh nhẹ tênh. Có loại màu vàng đậm như Huỳnh Tỷ mai, có loại phơn phớt vàng như mai Tai Giảo v.v...Cây mai vàng trong rừng rụng lá mùa đông. Cành mai vàng mềm mại hơn cành đào. Hoàng mai chuộng ánh sáng cùng đất thịt và ẩm; ngược lại hoa không chịu được khí lạnh. Người trồng Hoàng mai thường canh ngắt lá đúng ngày để dồn nhựa cho các nhánh ra hoa vào đúng dịp Tết Nguyên Đán. Ngắt lá là một nghệ thuật vì nếu lá ngắt đi không đúng lúc sẽ ảnh hưởng đến ngày hoa nở. Theo kinh nghiệm thì cây mai vàng càng già, hoa lại càng đẹp. Do đó, người ta rất ưa chuộng lão mai.

Như đã trình bày, hoa mai dường như đã đi sâu vào đời sống, ta tìm thấy chữ Mai hiện hữu khắp nơi. Các bậc sinh thành thường dùng chữ "mai" đặt tên cho con cái. Đa số dùng chữ Mai để đặt tên cho con gái, lẽ đương nhiên có vài trường hợp ngoại lệ dùng làm tên gọi cho con trai. Ta thường tìm thấy chữ Mai dùng để đặt tên cho phụ nữ như Xuân Mai, Kim Mai, Thanh Mai, Ngọc Mai, Mai Hương, v.v... Ngoài ra ta cũng tìm thấy chữ Mai dùng để đặt tên cho một số cơ quan từ thiện như bệnh viện Bạch Mai chẳng hạn.
Trong văn học Á Đông hoa mai đã hiện hữu từ lâu, các danh nhân ngày xưa đã dùng hoa mai để làm đề tài, như

Tiền thôn thâm tuyết lý
Tạc dạ nhất chi khai

Hai câu thơ của Tề Kỹ đã vẽ cho ta một thôn xóm với tuyết phủ trắng xóa, dày đặc, một cây mai ngạo nghễ vươn lên với một cành điểm hoa nở đêm qua, hôm trước chưa hề có. Nhà thơ với ba chữ "nhất chi khai" đã dồn hết tâm ý khi chiêm ngưỡng hoa nở sớm, thưởng thức hương sắc tuyệt vời của trời đất trên cánh hoa mai trắng nõn nà. Khí phách xung hàn của hoa mai gây nhiều cảm khái là vậy! Hoa mai được nhắc nhở trong thi ca của người xưa, dù ở Trung Hoa hay tại Việt Nam,thường là mai trắng. Hoa mai nở vào mùa xuân là một hình ảnh rất phổ biến. Đây là một nét độc đáo trong thi ca, vì bản thân mùa xuân đã là nguồn cảm hứng vô tận cho các thi sỹ, nhạc sỹ, họa sỹ v.v...Trước khung cảnh mùa xuân với muôn hoa, muôn sắc gọi mời, ai có thể dửng dưng được? . Điển n hình là Thi sỹ Kim Tuấn đã bạo dạn tặng người yêu cả mùa xuân, lời thơ đã lẳng lơ gợi cảm, đồng gợi hình với những nét độc đáo như : "đường lao xao lá đầy", "lộc non vừa trảy lá ", "lời thơ thương cõi đời ", " bầy chim lùa vạt nắng"... qua bài "Anh cho em mùa xuân" :

Anh cho em mùa xuân
Nụ mai vàng mới nở
Chiều đông nào nhung nhớ
Đường lao xao lá đầy
Chân bước mòn hè phố
Mắt buồn vin ngọn cây
Anh cho em mùa xuân
Mùa xuân này tất cả
Lộc non vừa trảy lá
Lời thơ thương cõi đời
Bầy chim lùa vạt nắng
Trong khói chiều chơi vơi......

Mùa XUÂN và MAI là cái duyên keo sơn đã được tạo hóa an bài từ thuở xa xăm, từ muôn kiếp trước. Trong khi mai trắng được ca tụng trong thi ca cổ nhân, thì mai vàng xuất hiện khắp nơi trong dòng nhạc thời nay. Tiêu biểu nhất là bài "Mùa xuân trên cao" của nhạc sỹ Trầm Tử Thiêng:

Trời bây giờ trời đã xang xuân
Anh và mai ngủ bên bìa rừng
Chờ giấc ba mươi mộng ảo
Mùa xuân vẫn đẹp vô cùng...

hay diễn tả tâm tư người lính trận gác giặc nơi địa đầu giới tuyến, nhìn rừng mai vàng trong bài "Đồn vắng chiều xuân" của nhạc sỹ Trần Thiện Thanh:

...Ven rừng kín hoa mai vàng
Chợt nhớ tới sắc áo năm nào, em đến thăm gác nhỏ
...Đồn anh đóng bên rừng mai
Nếu mai không nở
Anh đâu biết xuân về hay chưa?
hay như trong bài "Anh và Mai" của NNguong :
..Như núi rừng trong mùa mai nở
Cùng trần gian thưởng ngoạn mùa xuân
Anh đã mở lòng mình khốn khó
Trải tình yêu ra thưởng ngoạn em
Lòng vẫn biết, mình thân rừng núi
Chỉ quẩn quanh bên cội mai vàng
Mở trái tim mình đem đánh đổi
Một mùa xuân cho kiếp lang thang
Trời bây giờ trời đã sang xuân+
Anh nhìn em, tình yêu thật gần
Mỗi lần xuân đến nhìn hoa :nhớ
Nở trong anh, MAI, đóa phù vân.
"Trải tình yêu ra thưởng ngoạn em"-! Tác giả đã thi vị hóa người đẹp với hoa mai, hay hoa mai chính là người đẹp? " Chinh là em"! "Thiên cổ tương phùng lưỡng bất vi" (cách hàng ngàn năm, gặp gỡ, tâm sự vẫn giống nhau) NNguong cùng một ý tưởng như nhà thơ Lô Đồng, đời Đường bên Tàu với bài "Hữu Sở Tư":
Mỹ nhân hề! Mỹ nhân
Bất tri mộ vũ hề! Vi triêu vân
Tương tư nhất dạ mai hoa phát
Hốt đáo dong tiền nghi thị quân
( diễn nghĩa )
Người đẹp này! Người đẹp
Bây giờ là mưa chiều hay mây sớm
Một đêm nhớ nhau, mai nở hoa
Trông thấy hoa trước cửa sổ, ngỡ là bóng nàng
Với ba chữ "Mai cốt cách", thi hào Nguyễn Du đã nói lên cái cốt cách, cái nét duyên dáng, đoan trang của người phụ nữ. Tao nhân, mặc khách ngắm hoa mai, không đơn giản nhìn cái màu sắc vàng rực rỡ của hoa, mà là cái tha thiết, bâng khuâng nơi cái duyên ngầm của hoa, hương hoa Mai. Khi bàn đến hoa mà không luận đến mùi hương quả là điều thiếu sót. Đã nói đến hoa, thì hương hoa không thể thiếu.Hương thơm của hoa mai không nồng ngát như Dạ lan, không âm thầm như hoa Ngâu, không thắm đượm như hoa Hồng mà rất nhẹ nhàng, thanh cao. Trừ mai vàng phô hương hơi lộ liễu, các loại mai khác có hương rất nhẹ, khó thưởng thức, phải người tinh nhạy lắm mới cảm thấy vì hương mai là một thứ "Ám hương". Tiết trời càng lạnh, mai càng tỏa hương thơm ngan ngát. Nếu tâm tình con người vọng động thì khó mà cảm được hương mai. Như Tề Kỹ trong bài "Tảo Mai":

Phong đệ u hương xuất
Cầm khuy tố diễm lai
(diễn nghĩa)
Gió lay nhẹ hương thoát ra
Chim nhìn vẻ đẹp trắng ngà mê say
Làn gió nhè nhẹ đưa tới một mùi hương sâu kín thoang thoảng tỏa ra, khiến cho chim chóc dòm ngó một vẻ đẹp nguyên vẹn hiện lên. Tư sắc và phong vận của hoa mai sẵn có, làm bạn với gió và chim muông. Nên Trần Huyền Trân đã thốt lời tự hỏi
"Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ
Có giống như mình lưu luyến chăng?"
Người xưa và người nay đều đồng cảm với hương mai, dù cách nhau bao thế kỷ người có tâm hồn thường gửi gấm tâm tình của mình theo làn hương thoảng của hoa, gói trọn niềm nhung nhớ thương yêu trên cánh hoa nho nhỏ . Thử đọc bài "Mai Hương " của Hoàng Mai Phi:
Mai cành búp nở chào xuân
Hương vàng nắng tỏa từng cân trên ngàn
Mai em có nhớ tiếng đàn
Hương thơm đừng chất phũ phàng theo mưa
Mai về anh nhớ năm xưa
Hương thầm quyện lối so vừa bước chân
Mai còn lắng đọng ngoài sân
Hương thơm lơ lửng chào xuân hoa vàng
Mai đây em có ngỡ ngàng
Hương thơm đọng lại bóng chàng yêu thơ
Mai em còn nhớ hay mơ
Hương ơi! Hãy nhớ vần thơ anh làm
Mai kia vẫn nở rộn ràng
Hương êm vẫn khép nép vàng dễ thương
Mai hoa còn khép mùi hương
Hương thơm đọng lại liễu nhường hoa mai
Hoa mai không những đã gây rung cảm cho các tao nhân trong dân gian mà còn tạo được niềm cảm xúc nơi người đã xuất gia. Một bài kệ của thiền sư Hoàng Bá Hy Vân ( người Phước Kiến-Trung Hoa -850 ) có hai câu:
Bất thị nhất phiêu hàn triệt cốt
Tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương
(diễn nghĩa)
Chẳng phải một phen xương lạnh buốt
Hoa mai đâu dễ ngát mùi hương
Chiêm ngưỡng để rồi sau đó có ý tình với hoa mai mới thưởng ngoạn hết mùi hương thanh khiết của hoa mai. Chẳng biết người yêu hoa mai có cùng tâm trạng với thi nhân Lê Cảnh Tuân trong bài "Nguyên Nhựt" hay không:
Lữ quán khách ngưng tại
Khứ niên xuân phục lai
Quy kỳ hà nhật thị?
Lão tận cố hương mai
(diễn nghĩa)
Thân mình phiêu lãng nơi đất khách, quê người không đáng lo,
Chỉ sợ "Cây mai cũ ở quê nhà ngày càng mòn mỏi".
Cảm khái, bâng khuâng nhớ người tha thiết, ai hoài, tâm trạng của Hoàng Mai Phi ai người có hiểu! Cái tên Hoàng Mai Phi đã gợi cho người viết cảm giác đi lạc vào một khu rừng mai, ngập tràn những cánh mai vàng mãn khai. Trong khoảnh khắc một làn gió nhẹ đi qua, cành mai chuyển mình đưa muôn vàn cánh hoa mai bay lã chã. Nhờ thân nhẹ nhàng, hoa đã nương theo gió lượn lờ tựa muôn ngàn cánh bướm, trước khi đáp xuống mặt đất lạnh.Cái gắn bó duyên nợ của bướm và hoa làm sao có thể kể xiết trong đời. Thi sỹ Nguyễn Bính đà dùng rất nhiều "hình tượng bướm" trong những bài thơ của ông như:
Hỡi ơi! Bướm trắng, tơ vàng
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi-
( Cô hàng xóm )
hay:
Chiều nay bướm trắng ra nhiều quá
Không biết là mưa hay nắng đây-
( Vẩn vơ )
hoặc là:
Đầy vườn hoa bưởi, hoa cam rụng
Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng-
( Xuân về )
Đầy nước mắt như trong bài Dòng dư lệ viết cho TTKH:
Dừng chân trước cửa nhà nàng
Thấy hoa vàng với bướm vàng hôn nhau
Tìm nàng chẳng thấy nàng đâu
Lá rơi lả tả bên lầu như mưa.
Yêu hương mai để nguyện làm một cánh mai vàng bay trong gió sao hữu tình lắm vậy. Nhiều khi con người cũng cần có tâm tình đủ lớn để cảm nhận được tình sâu của người khác. Hoa vàng với bướm vàng hôn nhau để hòa làm một thể hay cánh mai vàng chập chờn rơi tựa cánh bướm vàng thì cũng là một, thảo nào ngày xưa hồn Trang Chu hóa bướm hay bướm là hóa thân của hồn Trang Chu "Cái con bướm vàng vàng quá, bướm yêu yêu" trong bài "Hết bướm vàng" của Nguyễn Bính có hai câu:
Hôm nay, vườn cải hoa tàn hết
Em hỡi từ nay hết bướm vàng!
Ôi! Từ con bướm vàng "khép cánh tình chung ở giữa đời" đến con bướm vàng của Đình Nguyên:
Bướm vàng bay tận đâu dâu
Chẳng còn duyên cũ, thề xưa - chẳng còn
Đường về xa tít đầu non
Thương ai cứ mãi héo mòn- thương ai
Mù u của những ngày nào
Bây giờ bên ấy ra sao-bây giờ.
Để cho một người bạn thơ là Vân Hạc họa lại như sau:
Bướm vàng ngủ đậu vườn mê
Lỡ làng duyên nợ hẹn thề mai sau
Mù u chia nhánh tình đầu
Trầu cau giữ lại chờ nhau kiếp nào
Yêu người ngơ ngẩn ước ao
Mù u còn đó, bay vào bướm ơi!
Mù u hay Nam Mai và con bướm vàng cũng đã đi vào lòng người trong dân gian."Mù u còn đó,bay vào bướm ơi"! Nếu không Trần Tiến chẳng đã nhắc đến trong ca khúc " Lá Diêu Bông " rất thành công qua giọng hát truyền cảm của đôi song ca Như Quỳnh / Mạnh Đình.
Có chú bướm vàng bay theo em
Bướm vàng đã đậu cây mù u rồi
Lấy chồng sớm làm gì-
Để lời ru thêm buồn.
Đã thế hoa mai đã được sử dụng như dấu mốc để đo lường thời gian. Hoa mai đi đôi với mùa xuân, nên hoa đã đã gợi lại hình ảnh thời xuân thì của người chinh phụ . Hoặc như cô đơn nơi khuê phòng người thiếu phụ đã đánh dấu thời gian theo những độ hoa mai nở, trải nỗi niềm trông ngóng chinh phu biền biệt nơi miền xa. Thi sĩ Kim Tuấn chẳng viết :
Bông mai vàng thuở nàng còn trẻ
Trên lối đi về lắm kẻ đợi mong
Bây giờ tình đã sang sông
Anh trèo cây khế ngó trong đất trời
......
Bông mai vàng tiễn chàng xa xứ
Em ở quê nhà em cứ đợi trong
Mai vàng nở rộ mùa bông
Anh xa mà chẳng trông mong ngày về...

Bước sang thế kỷ mới với bao tiến bộ về khoa học, nhưng có lẽ tâm tình con người không thể phôi pha. Ngày nào còn hoa còn bướm hiện hữu, dù trong hoàn cảnh nào tâm tư còn người vẫn rung động như nhau. Nhìn nét hoa vàng rung rinh trong gió, cánh hoa vàng nho nhỏ bay bay trong gió với mùi hương nhẹ nhàng, không ai có thể dửng dưng.Dầu không diễn tả độc đáo nhưng ít nhiều tâm tư cũng dao động nhắc cho người nhớ đến ai đó, nhớ đến những gì thân thương nhất, gần gũi nhất, nhớ đến một thuở vàng son đầy hạnh phúc. Tất cả gói ghém đơn gian trong chữ " MAI".. Tạo hóa đã khéo an bài thay!


#5
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:
TẢN MẠN VỀ GIỐNG HOA-MAI-VÀNG-NGÀY-TẾT
Trần Đăng Hồng, Ph D

Người Việt thường lẫn lộn trong việc đặc tên hoa. Chẳng hạn, cùng tên Mai nhưng những hoa này lại thuộc nhiều tộc họ thực vật không có liên hệ bà con gì cả. Như gốc cây Mai đại thụ ở địa danh Chùa Cây Mai (Sài Gòn) có tên mỹ miều trong thơ văn là “Bạch Mai”, tên dân dả “Mai Mù u”, có tên khoa học Ochrocarpus siamensis var.
odoratissimus Pierre, thuộc họ Bứa Guttiferae. “Mai Chấn Thủy” thường làm cây kiểng, tiểu cảnh (bonsai) là Wrightia religiosa (Teisjm. Binn) Hook. f. thuộc họ Apocynaceae. Trong văn chương cổ điển Việt Nam, thường vay mượn điển tích hay truyện Trung Hoa, hoa Mai cũng được đề cập nhiều như truyện Nhị Độ Mai, hay hoa
mai trong truyện Kiều, hay của nhiều tác giả khác, thì đa số thuộc loài Prunus (Đào, Mơ, Mận) của họ Rosaceae (họ hoa Hồng).

Ông Lê Phạm Trung Dung (Tập san Hoa Cảnh), cũng như GS Tôn Thất Trình (Tập San Hoa Cảnh, xuân Giáp Thân 2004), đã đề cập nhiều loại hoa mang tên Mai, nhưng có tên khoa học không phải trong chi tộc
Mai-Vàng-Ngày-Tết ở Miền Nam Ochna, nên tôi không lập lại ở đây. Cũng vậy, sau 1975, hàng mấy triệu người Việt sống tha hương khắp thế giới, vốn nặng tình với cố quốc, nên hể thấy giống hoa gì có màu vàng nở vào dịp Tết ta, đều gọi nó là Mai, quen thuộc nhất là Forsythia sp. (Mai Mỷ, Mai Canada, Mai xứ lạnh), thuộc họ Lài
Oleaceae, thường gặp trong công viên vùng lạnh ở Hoa Kỳ, Canada, và Âu Châu.

Ở bài này, tôi chỉ đề cập đến Hoa-Mai-Vàng (Huỳnh Mai, Hoàng Mai) mà
người dân Miền Nam, từ Huế cho tới Cà Mau, đều có chưng một vài cành trong dịp Tết Nguyên Đán. Tên khoa học của Hoa-Mai-Vàng-Ngày-Tết này là Ochna integerrima (Lour.) Merr. (cũng có tên Elaeocarpus integerrima Lour., và Ochna harmandii Lec., tên Trung Hoa 金莲木) thuộc họ Ochnaceae.

Mai Ochna ở Việt Nam
Theo GS Phạm Hoàng Hộ, họ Ochnaceae tại Việt Nam có hai loài Mai Ochna:
Mai-tứ-quý, còn gọi là Mai Đỏ, trước đây mang nhiều tên như Ochna
atropurpurea DC., Ochna multiflora, Ochna serratifolia, hiện nay các nhà khoa học cùng chấp nhận tên Ochna serrulata (Hoshst.) Walp. Loài Mai này có nguồn gốc phía đông Mủi Hảo Vọng (Cape of Good Hope), thuộc Nam Phi. Hoa cũng màu vàng, cành ít hoa hơn, và ra bông lẻ tẻ suốt năm. Mai này thường trồng trong sân trước nhà, trong chậu để làm cây cảnh, nhưng không cắt nhánh để chưng trên bàn như loài Mai-
Vàng. Mai-tứ-quý chịu lạnh giỏi, vì có nguồn gốc xứ lạnh, ở vỉ độ 32º Nam Bán cầu, nơi có nhiệt độ trung bình 7 °C trong mùa lạnh, nên được ưa chuộng ở Bắc Mỷ nơi có khí hậu ôn hòa trong mùa đông (trên 10°C). Trung quốc và Việt Nam du nhập giống này từ lâu đời. Tại miền Bắc Việt Nam, đa số mai Ochna là mai-tứ-quý.
Mai-Vàng (hoàng-mai – thường gọi là huỳnh-mai vì cử húy tên chúa Nguyễn Hoàng, Champax) tức Ochna integerrima, là loài mai bản địa, mọc hoang trong rừng còi từ Quảng Trị vào Nam, có hoa từ tháng 1 đến tháng 4 dương lịch, tùy nơi. Đây chính là Mai-Vàng-Ngày-Tết ở Miền Nam. Tôi đã cố công tìm kiếm trên mạng, cũng như trong các sách thực vật học vùng Đông Dương và Đông Nam Á để tìm nguồn gốc chữ Champax, thì thấy có tên này, nhưng không nói đó là ngôn ngữ nước nào. Phải
chăng Champax và Champa (nước Chiêm Thành) có liên hệ với nhau? Bởi vì lảnh thổ hoa Mai-Vàng cũng chính là lảnh thổ của Chiêm Thành ngày xưa.

Mai-Vàng ngày Tết Ochna integerrima phân bố địa lý từ vùng Đông Bắc Ấn Độ, Andamans, Nicobars (giữa vỉ tuyến 6º và 14º N), Bangladesh, Burma, Bán đảo Mả Lai, đến Đông Dương, từ xích đạo cho tới Khammouan (vỉ độ 17.4 ºN) thuộc Lào, Đảo Hải Nam (vỉ tuyến 20 º N), và Tây Nam Quảng Đông (khoảng vỉ tuyến 24 º N) gần vùng biên giới Việt Nam và Trung Quốc, nơi có nhiệt độ mùa đông trung bình 10ºC. Tại vùng cực bắc này, hoa Mai-Vàng bắt đầu nở vào tháng 3 và 4 dl, nở rộ từ
tháng 4 đến tháng 6 dl.

Tại Việt Nam, Mai-Vàng thấy mọc hoang ở rừng núi Côn Đảo (vỉ tuyến 8º 02’ N, là đảo cực nam của Việt Nam), tập trung nhiều nhất từ vùng rừng núi ở Miền Đông, Miền Trung, Cao Nguyên cho tới Quảng Trị, từ mực nước biển cho tới cao độ 700 m. Trên vỉ tuyến 17 ºN, cũng thấy Mai Vàng mọc rải rác ở vùng Quảng Bình (Bến Én), Đèo Ngang (Hà Tỉnh), Nghệ An (Nghĩa Đàn), Ninh Bình (Tam Đảo), đảo Bái Tử Long (vỉ độ 20.70 ºN, Quảng Ninh). Cũng tại Quảng Ninh có giống Mai-Vàng
ở núi Yên Tử, chịu được lạnh, và hoa có mùi thơm. Hà Nội ở vỉ độ 20°53' - 21°23N, có nhiệt độ trung bình mùa đông là 15.2°C, có khi sụt xuống 2.7°C (tháng 1/1955).
Ngược lại, Vịnh Hạ Long cũng có cùng vỉ độ (20°45'-20°50' N), nhưng nhờ ảnh hưởng của biển, nhiệt độ trung bình mùa đông ấm hơn (16-18°C), và ít khi xuống dưới 12°C. Truyền thuyết cho rằng giống Mai Yên Tử này là con cháu của gốc Mai Vàng do vua Trần Nhân Tông trồng trên núi Yên Tử khi nhà vua đi tu (từ năm 1285 đến 1288).

Như vậy, trong lảnh thổ Việt Nam, Mai-Vàng là giống bản địa mọc tự nhiên từ Nam chí Bắc, và giới hạn phân bố cực bắc của giống này ở khoảng vỉ độ 24 ºN trong lảnh thổ Trung quốc. Tại vỉ độ này, như Tiandong Xian (vỉ độ 23 º.60’N, cao độ 60 m) có nhiệt độ trung bình mùa đông khoảng 10-12°C.
Mai-Vàng Ochna integerrima được mô tả là loại cây lá rụng theo mùa (deciduous) trong rừng lá rụng ở Đông Nam Á. Lá mai rụng trong mùa đông, sau đó ra hoa trong mùa Xuân, từ tháng 1 đến tháng 4 dl. Tuy nhiên tại Việt Nam, giống Mai-Vàng có lá xanh quanh năm (evergreen), ngoại trừ giống mai-vàng Trại Thủy ởNha Trang (nơi có tượng Phật trên đỉnh núi khi vào thành phố) lá rụng vào mùa đông trước khi ra hoa rực rở vào dịp Tết ta. Mai-vàng chịu khô hạn và cháy rừng rất giỏi, không chịu úng nước. Sau cháy rừng, thân cây phần trên bị chết, nhưng phần gốc vẫn sống, đâm chồi mạnh, cho nhiều hoa trái hơn để bảo tồn nòi giống. Chim ăn trái chín và nhờ vậy cây Mai được phân tán rộng rải. Mai là giống vùng nhiệt đới, không chịu lạnh được nhiều, nhưng giống Mai Yên Tử ở Miền Bắc (Quảng Ninh) chịu lạnh rất giỏi. Mai Yên tử nở hoa sau Tết Nguyên Đán, thông thường từ giữa tháng Giêng đến tháng 3 Âm Lịch. Các Việt kiều ở Mỹ nên tìm trồng giống Mai-Vàng này.

Vì Việt Nam trải dài từ vỉ tuyến 8º 02' đến 23º 23' N, có nhiều loại khí hậu và tiểu khí hậu khác nhau, nên không ngạc nhiên là có rất nhiều giống Mai-Vàng, có nhiều đặc tính khác nhau, khác biệt về màu sắc, số cánh hoa, chịu đựng hạn hay lạnh khác nhau. Nhờ chim ăn trái và phát tán rộng rải, rồi qua hàng ngàn năm được thiên nhiên tuyển chọn, rồi do con người tuyển chọn (như hoa mai-vàng Yên tử do các nhà
sư tuyển chọn trong hơn 700 năm) để thích ứng cho mỗi môi trường địa phương, nên có lẻ giống mai-vàng-ngày-tết rất đa dạng. Ông Quách Giao (Tập san Hoa cảnh) đã mô tả rất chi tiết hàng trăm giống Mai-Vàng ở mỗi địa phương từ nam chí bắc, từ hoa cánh thông thường tới hàng trăm cánh hoa, ngoài màu vàng, trắng, hồng, đỏ lại có
giông mai cánh màu đen đen (Hoa Mai Bình Giả).
Vùng Khánh Hòa đến Phan Thiết có lẻ là vùng đa dạng nhất ở Việt Nam về hoa mai-vàng, từ loài mai biển ngoài hải đảo (khoảng 200 đảo thuộc khánh Hòa, như Khải Lương, Đầm Môn, Vạn Ninh, Hòn Tre, Thủy Triều, Cam Ranh), đến mai vùng bãi cát, rồi mai rừng còi, cho tới mai núi, từ thung lủng thấp tới độ cao trên 400 m, đa dạng về màu sắc, số cánh hoa, về hương thơm. Vì vậy, không ngạc nhiên trước đây
dinh Độc Lập, cũng như nhiều công thự khác ở Sài Gòn, đều có chưng cây Mai-Vàng chở từ rừng núi Cam Lâm (Khánh Hòa).
Theo ông Quách Giao, trong lảnh thổ từ Bình Thuận đến Khánh Hòa có những giống mai-vàng quý như Mai Vïnh Hảo ở vùng núi Vïnh Hảo (Phan Thiết), thân cây nặng gấp rưởi mai thường, nên gọi là “mai đá”, gỗ thật cứng, hoa to cánh phẳng, từ 12 đến 16 cánh màu vàng rất đẹp và lâu tàn. Mai Cà Ná, Bình Châu, hoa 5 cánh màu vàng nhạt, mọc hoang ở những khu rừng từ Đồng Bò (Nha Trang) chạy vào tới Cà Ná, Bình Châu. Nha Trang có giống Hoàng-Mai-Tám-Cánh đặc thù của núi Hoàng Mai Sơn (núi Trại Thủy), giống này lá rụng trụi lủi vào mùa đông và ra hoa rực vàng cả núi đồi vào dịp Tết. “Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận). Cách đây 70 năm, Phước Hải của thành phố Nha Trang là một rừng mai chạy dài từ biển tới núi Đồng Bò:

Mã Vòng đêm vắng ma trêu nguyệt
Phước Hải Xuân về cọp thưởng mai
(Thơ Thuần Phong Trần Khắc Thành)

Đa số các giống Mai-Vàng trổ hoa vào dịp Tết ta, nhưng có một giống Mai Vàng ở đảo Hòn Đỏ Nha Trang nở hòa vào giữa tháng 4 âm lịch, vào mùa Phật Đản.

Mai-Vàng trên bàn chưng Tết ở Miền Nam có từ khi nào?

Dân Miền Nam vốn xuất thân từ đồng bằng Sông Hồng, đa số từ vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh và Quảng Bình. Theo bước Nam Tiến, di dân tiến dần vào Nam.
Khi chúa Nguyễn Hoàng vào đất Thuận Hóa (Huế) lập cơ nghiệp nhà Nguyễn (khoảng năm 1600) hùng cứ phương nam sông Gianh. Đèo Ngang vốn là biên giới giữa Việt Nam và Chiêm Thành, ở vỉ tuyến 18 ºN, có cao độ 300 m. Mặc dầu độ cao không nhiều như Hải Vân, nhưng khí hậu phía bắc và phía nam Đèo Ngang có phần cách biệt lớn. Ở phía bắc, như Hà Tỉnh (vỉ độ 18°19'59"N) nhiệt độ trung bình mùa đông khoảng 17 ºC, có khi xuống 8 ºC, ngược lại ở phía Nam có khí hậu nóng hơn,
như ở Đồng Hới (vỉ độ 17º21' N ) là vùng khô hạn hơn, nhiệt độ trung bình mùa đông 18.7ºC. Kể từ nam Đèo Ngang đến Đèo Hải Vân, nhiệt độ mùa đông cao dần. Chẳng hạn ở Huế (vỉ độ 16º 28’N), có nhiệt độ trung bình mùa đông 20 ºC, lạnh nhất là 10ºC.
Đèo Hải Vân (vỉ độ 16°28' N, cao độ 1495 m) ngăn chận gió Bắc thổi từ lục địa
Trung Hoa, nên phía nam có khí hậu ấm hơn. Chẳng hạn ở Đà Nẳng (vỉ độ
16°04'12"N) có nhiệt độ trung bình mùa Đông 18-23 ºC, và ít khi lạnh dưới 15 ºC. Và từ đây vào Nam, nhiệt độ mùa đông tăng dần.
Tập tục chưng mai-vàng trong dịp Tết chỉ thấy từ Huế trở vào nam. Trước đây 50 năm, dân chúng vùng từ Quảng Trị trở ra không có chưng hoa Mai trong dịp Têt mà chỉ chưng Hải đường (Chaenomeles spp. họ Rosaceae), Đổ quyên (Rhododendron sp.), hay hoa hồng (Rosa spp.), vì hoa mai nở trể sau Tết rất xa (tháng 2 và 3 dl) và không nhiều hoa. Ngày nay nhờ phương tiện di chuyển hàng hóa dễ dàng và đời sống
kinh tế khá hơn, văn hóa chưng mai-vàng-ngày-tết được phổ biến rộng rải hơn, mai được chở đến từ các tỉnh phía nam.
Như vậy, giới hạn nhiệt độ trung bình mùa đông để Mai-Vàng trồng được phải trên 10 ºC, và để cho hoa Mai-Vàng nở dịp gần Tết (trước hoặc sau Tết 2-3 tuần) phải trên 15 ºC. Đó là lý do tại sao từ Huế trở vào Nam có văn hóa chưng Mai Vàng trong dịp Tết, vì có điều kiện khí hậu (cùng với kỹ thuật lặt lá) để hoa mai-vàng nở tự nhiên trong dịp Tết. Riêng ở Miền Bắc, nhờ ảnh hưởng của vùng biển mà Hoa Mai-Vàng Yên tử có hoa, trong khi ở những vùng khác Mai Vàng có hoa rất trể khoảng tháng 2 hay 3 dl, và hoa không nhiều. Như vậy, từ vùng Quảng Trị trở ra Miền Bắc không có điều kiện nhiệt độ mùa đông thích hợp cho mai-vàng nở rộ trong dịp Tết. Thay vào đó, hoa Đào thích hợp xứ lạnh, được tuyển chọn lâu đời qua mấy ngàn năm để hoa nở
rộ vào dịp Tết, chính là hoa lý tưởng của Miền Bắc.

Posted Image

Posted Image

Mai-Vàng và người Việt hải ngoại

Khi có điều kiện về thăm quê củ, họ lại lén lút mang theo một tài sản tinh thần quý giá - hạt hay cây con mai-vàng-ngày-Tết cho quê hương mới (vì luật lệ rất khắc khe khi du nhập giống cây xứ lạ vào nước sở tại, nhất là Australia và Hoa Kỳ). Kể từ đó, maivàng- ngày-tết, và mai tứ-quí được trồng ngoài vườn (nơi có khí hậu cho phép), hay trong nhà (trong chậu, dạng bonsai trong chậu nhỏ) được thấy ở Hawaii (Honolulu, vỉ độ 21ºN, ngang Hà Nội), Miami (25ºN), Tampa (27 ºN), New Orleans (29 ºN),
Houston (29 ºN), Dallas (32 ºN), San Diego, Little Saigon, Long Beach, Los Angeles (California, 33-34 ºN), Oklohama City (35 ºN) và San Jose (California, 37 ºN). Như vậy, cực bắc của hoa-mai-vàng của người Việt ở Mỷ là vỉ tuyến 37 ºN).
Tại London (51 ºN), tôi biết có nhiều người trồng mai-vàng trong nhà nhưng không có hoa, ngoài trừ ở Vườn Bách Thảo Hoàng Gia Kew (Royal Botanic Garden Kew) trồng trong nhà kiếng nhiệt đới (nhiệt độ điều chỉnh 27-32ºC) có mai-vàng trổ hoa vào dịp Easter (đầu tháng 4).

Tại Hoa Kỳ, ở tất cả mọi thành phố có đông người Việt đều có bán chậu maivàng và mai-tứ-quý trong dịp Tết.
Các chậu mai này được trồng ở các thành phố miền nam California, nơi có nhiệt độ ban ngày >18 ºC, nhiệt độ ban đêm > 10ºC trong tháng 1 dl, là tháng lạnh nhất trong năm. Chẳng hạn, nhiệt độ ban ngày/ban đêm vàotháng 1 dl ở San Diego (vỉ độ 32º.70’N) là 18.9º/10ºC, nhưng thỉnh thoảng có sương muối (frost). Để tránh chết vì sương muối bất thường, chậu mai được đặt trong sân vườn vào mùa hè và mùa thu, nhưng dời và nhà hay nhà kiếng vào mùa đông.
Ngay cả ở San Jose (Bắc California, vỉ độ 37 ºN, nhiệt độ tháng lạnh nhất là tháng 1 dl, nhiệt độ ngày/đêm 16 º/6 ºC), mai vàng thấy trồng ở chùa Đức Viên, và trong dịp Tết cũng thấy có bán mai-vàng dưới dạng chậu nhỏ hay bonsai, không có bông nhiều và đẹp bằng ở những nơi khác.
Vì khó bảo vệ, mua mai về chỉ thưởng ngoạn một năm, giá một cây mai (chưa kể tiền chậu) ở vùng Little Sài Gòn (nam California) tối thiểu 30 đô la, mai lớn có nhiều hoa thì giá cao gấp bội, hơn 200 đô la, nên là một thị trường béo bổ cho người sản xuất mai-vàng bán trong dịp Tết. Ngày nay, đa số mai-vàng bán ở Hoa Kỳ sản xuất từ Hawaii, cùng vỉ độ với vùng Hà Nội, nhưng có khí hậu ôn hòa, ấm áp trong mùa đông hơn. Tại Honolulu, tháng 2 dl lạnh nhất, nhiệt độ ban ngày 27 ºC, ban đêm 18 ºC, tương đương với khí hậu vùng Khánh Hòa, rất lý tưởng cho canh tác hoa-maivàng nở rộ đúng Tết ta.

Làm sao cây Mai-Vàng biết đọc lịch để trổ hoa vào dịp Tết nguyên đán?
Vì lảnh thổ Việt Nam chạy dài trên 15 vỉ tuyến (từ 8º 02' đến 23º 23' N), hoa Mai- Vàng đầu tiên không trổ hoa cùng một thời điểm (chẳng hạn Tết nguyên đán) nếu không trảy lá.

Tại đồng bằng Cửu Long, đóa hoa trổ đầu tiên có khuynh hướng trổ trước Tết ta từ 3 tuần đến 3 tháng, tùy giống và thời tiết nóng hay lạnh trong mùa thu và mùa đông, năm nhuần hay không nhuần. Tết ta thông thường phải sau ngày 21/1 dl, và trước 19/2 dl, năm không nhuần thường vào cuối tháng 1 hay đầu tháng 2 dl; còn năm
nhuần thường giữa tháng 2 dl). Vì vậy, nếu muốn chính xác phải tính ngày cái hoa đầu tiên (first flower) trổ, theo dương lịch.
Thông thường, tại vùng Sài gòn cho tới đồng bằng Cửu Long, mai nở bông đầu tiên khoảng từ 25/11 dl đến 25/12 dl, tùy theo giống và điều kiện thời tiết.
Năm 2006 (năm bị ngập lụt bởi triều cường trong tháng 10, cây mai rụng lá), hoa mai-vàng bắt đầu nở khoảng 20/11 dl (tức 3 tháng trước Tết nguyên đáng, nhằm ngày 17/2/2007, năm nhuần âm lịch). Năm nay (2009), tại vùng Bình Phước, Sài Gòn hoa mai-vàng đầu tiên nở khoảng ngày 10/12/2009, tức trước Tết Canh Dần (14/2/2010) 2 tháng.

Tại Miền Trung (Nha Trang), hoa mai đầu tiên có khuynh hướng trổ vào
khoảng hạ tuần tháng 1 dl, đầu tháng 2 dl (tức gần cận Tết, hay ngày Tết), và lai rai cho tới tháng 5 dl.

Tại Miền Bắc (vùng Hà Nội), mai-vàng nở hoa đầu tiên thường từ trung tuần đến hạ tuần tháng 2 dl, tức sau Tết âm lịch (nếu năm không nhuần).
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới ngày ra hoa của cây cối vùng nhiệt đới, trong đó ba yếu tố quan trọng nhất là (i) nhật-quang-kỳ [số giờ kể từ lúc mặt trời ở dưới chân trời 6º khi bình minh (tức rạng đông) và hoàng hôn (tức chạng vạng), thông thường là thời gian từ lúc mặt trời mọc tới mặt trời lặn + 7 phút tới 30 phút], (ii) nhiệt độ, và (iii) yếu tố nước và ẩm độ không khí (khô hạn, mưa). Ba yếu tố này có ảnhhưởng- hổ-tương rất phức tạp.

Ảnh hưởng của nhật-quang-kỳ (photoperiod)
Trái đất quay quanh mặt trời nên có ngày và đêm. Trục trái đất cũng nghiêng ngả định kỳ một góc 23º 48’ nên tạo ra ngày dài ngắn khác nhau theo mùa.
Tại Xích đạo, ngày và đêm dài bằng nhau, suốt năm.
Ở các vỉ độ Bắc, vào ngày Xuân phân (21/3, March equinox) và Thu phân
(21/9, September equinox) ngày và đêm dài bằng nhau (12 giờ). Sau Xuân phân ngày dài dần (hơn 12 giờ) đến tối đa vào ngày 21/6 (Hạ chí, June solstice), sau Hạ chí ngày ngắn dần, và vào Thu Phân ngày và đêm dài bằng nhau, và ngày ngắn nhất trong năm xảy vào 22/12 (Đông chí, December solstice). Sau ngày này, ngày bắt đầu dài lại.
Cây mai tứ-quý (O. atropurpurea) ra hoa quanh năm, không bị ảnh hưởng của nhật-quang-kỳ.
Ngược lại, cây mai-vàng-ngày-Tết (O. integerrima) thuộc loại đoản-quang-kỳ, chỉ phát động việc ra hoa khi gặp ngày ngắn. Nó không phát động việc ra hoa khi gặp ngày dài. Khi ngày bắt đầu ngắn dần, đến một số giờ ngắn nào đó, cây bắt đầu phát động việc ra hoa, qua việc sản xuất các chất hormones ra hoa, tế bào sinh dục được tạo khối ở nách lá gọi là khối-sơ-khởi-tạo-hoa (primordium initiation). Số giờ của thời gian ban ngày bắt đầu phát động sinh khối-sơ-khởi-tạo-hoa gọi là nhật-kỳ-tới-hạn(critical photoperiod), trên số giờ này cây không phát động việc ra hoa.
Như vậy, nhật-kỳ-tới-hạn của Mai-Vàng là bao nhiêu giờ/ngày?
Chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề này cho Mai-Vàng. Tôi chỉ dựa vào dương lịch ngày có hoa đầu tiên nở trên cây dọc theo vỉ tuyến để ước tính.
Theo tôi ước đoán, nhật-kỳ-tới-hạn của mai-vàng khoảng giữa từ 11giờ 00 phút đến 11 giờ 24 phút, tức khoảng ngày 1/11 dl ở vùng Sài Gòn, 20/11 dl ở Miền Trung, và 5/1 dl ở vùng Hà Nội và Honolulu (Hawaii, USA).

Ảnh hưởng của nhiệt độ.
Nhiệt độ có cộng hưởng với nhật-quang-kỳ với ảnh hưởng rất phức tạp. Nhiệt độ có ít nhất 3 ảnh hưởng:
(i) Ảnh hưởng hổ tương với ngày ngắn. Mặc dầu hội đủ nhật-kỳ-tới-hạn, cây mai không thể phát động ra khối-sơ-khời nếu gặp nhiệt độ lạnh, có lẻ khoảng <8 ºC. (ii) làm lá rụng ở một số loài cây (deciduous) (iii) Giúp tăng trưởng khối tế-bào-sơ-khởi để thành nụ hoa.
Nhiệt độ gia tăng càng cao (đến tối đa khoảng 32ºC), thời gian từ khối-sơ-khởi đến nở hoa càng ngắn, trung bình khoảng 35 ngày ở 32ºC, đến 70 ngày ở 12-15 ºC.

Ảnh hưởng của thiếu nước – hạn hán (water stress)
Thời gian hạn hán là yếu tố rất quan trọng cho cây thân mộc vùng nhiệt đới phát động tạo khối-sơ-khởi-phát-hoa. Yếu tố hạn hán cũng hổ tương với nhật-quang-kỳ và nhiệt độ (như cây cao-su, Hevea brasiliensis). Cây ăn trái của VN phần đông nằm trong nhóm này để phát hoa. Phải có một thời gian hạn hán (thiếu nước mưa, ẩm độ không
khí thấp, từ tháng 12 đến tháng 4 dl) cây ăn trái mới ra hoa nhiều khi có mưa vào tháng 5 hay 6 d. Thiếu nước cũng làm lá rụng ở một số loài cây. Yếu tố hạn hán không quan trọng mấy ở cây-mai-vàng, vì thời kỳ phát động tạo khối-sơ-khởi xảy trước mùa khô hạn, mùa hạn thường bắt đầu vào tháng 12 dl.

Ảnh hưởng của lặt lá.
Lá rụng theo mùa (deciduous) là hậu quả ảnh hưởng hổ tương của nhật-quang-kỳ, nhiệt độ, và/hay hạn hán. Lá rụng cũng giúp tạo khối-tế-bào-sơ-khởi của nụ hoa.
Ngoài ra, khi cây mai đã có nụ hoa, lặt lá giúp hoa nở rộ đồng bộ trên cành.

Triều cường cao nhất trong 48 năm xảy ra từ 26/10 đến 29/10/2007 gây ngập lụt các vườn mai-vàng vùng Sài Gòn, Gia định, Bình Dương, Biên Hòa, làm lá mai vàng úa và rụng trụi lủi. Sự kiện tác hại của triều cường gây ra rụng lá (được xem như lặt lá) lại trùng hợp với ngày phát động tạo khối-sơ-khởi hoa mai, nên hoa mai vùng Sài Gòn nở sớm hơn năm bình thường khoảng 3 tuần lể, làm thất thu cho nhà vườn rất
lớn.
Chậu hoa mai có bông nở rộ trong dịp Tết bán mới có tiền. Vì sự phát triển từ khối-sơ-khởi đến nở hoa, tùy thuộc vào dinh dưởng, nước tứới, quan trọng nhất là nhiệt độ. Vì vậy, để hoa nở đúng dịp Tết, thời điểm lặt lá mai rất quan trọng, lại tùy thuộc vào thời tiết vốn thay đổi theo vỉ tuyến.
Tại vùng Sài Gòn (vỉ độ 10 ºN), thường lặt lá khoảng 15 ngày trước Tết;
tại Nha Trang (vỉ độ 12 ºN) 15 – 30 ngày; Phú Yên (13 ºN), Bình Định (13.80 ºN) 20- 30 ngày;
tại vùng Hà Nội (20 ºN) 30 đến 45 ngày; ở Florida (25 ºN) 30-45 ngày;
Houston, Oklahoma (29-32 ºN), 30 đến 50 ngày; và San Jose (37 ºN), 50-60 ngày trước Tết ta.
Để dễ nhớ, có lẻ công thức đơn giản sau đây giúp phỏng đoán được ngày lặt lá mai để hoa nở rộ đúng Tết:
Số ngày lặt lá trước Tết = vỉ độ x 1.5 ± vỉ độ/2

Kết luận:

Chưng một cành mai-vàng trên bàn, hay một chậu mai-vàng trong nhà vào dịp Tết là một tập tục lâu đời của người dân Miền Nam, từ giàu chí nghèo. Việc tạo ra hoa mai đúng Tết là một kinh nghiệm cá nhân quý báu của người yêu hoa mai, nhất là giới nhà vườn sản xuất bán hoa cho ngày Tết. Việc nghiên cứu về điều kiện ra hoa ở Mai- Vàng, hay hoa vùng nhiệt đới, coi như không có. Ngược lại những tài liệu nghiên cứu về hoa vùng Ôn Đới thì rất dồi dào, vì là một kỹ nghệ sản xuất hoa đồ sộ, với kỹ thuật tối tân (điều chỉnh ngày dài hay ngắn, nhiệt độ thích hợp cho mỗi thời kỳ sinh trưởng, theo chương trình tự động hóa qua máy vi tính, sử dụng hóa chất, v.v.), muốn hoa nở rộ lúc nào cũng được, để cung cấp hoa theo ý nghĩa của mỗi ngày lể, như lể Tình Nhân, Lể Mẹ, Giáng sinh, hay sinh nhật và tang lể xảy ra bất cứ ngày nào trong năm.

Tác giả chưa hề trồng Mai-vàng, nói chi đến chuyện có kinh nghiệm cá nhân.
Tuy nhiên, tác giả dùng kiến thức khoa học thâu lượm được trong thời gian cộng tác nghiên cứu ở thập niên 1980s, tìm “Mô hình toán học tiên đoán ngày ra hoa” của hàng chục loại hoa màu vùng nhiệt đới, trong một đề án nghiên cứu lớn của Đại học Reading (Anh Quốc) kéo dài hơn mười năm. Vì chỉ dựa vào các thông tin do thân hửu cung cấp, có thể không chính xác, và không dựa trên thí nghiệm, nên các ước tính trên có thể sai lầm. Tuy vậy, hy vọng rằng nó sẽ cung cấp một ít kiến thức phổ thông hửu ích cho các vị hằng quan tâm, hay ít ra cũng để quý đọc giả giải khuây giây lát trong dịp Tết cổ truyền.
Cảm tạ:

Tác giả cảm tạ GS Tôn Thất Trình (Hoa Kỳ) đã cung cấp tài liệu và cho ý kiến, Dr
Nguyễn Ngọc Bình (Hoa Kỳ), ThS Nguyễn Thế Thiệu (Hoa Kỳ), KS Nguyễn Thị Mỹ
(Hoa Kỳ), KS Nguyễn Hoàng Long (Hoa Kỳ), KS Dương Hiển Hẹ (Hoa Kỳ), Ô Bà
Đoàn Vân Anh (Hoa Kỳ), KS Trần Quốc Dzũng (Việt Nam), KS Trần Giỏi (Việt
Nam) và một số thân hửu đã cung cấp thông tin về Hoa Mai Vàng ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại.

Reading (Anh Quốc), Jan/2010


Posted Image


Posted Image


Posted Image


Posted Image



#6
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:

Posted Image


Posted Image


Posted Image


Posted Image


Posted Image


Posted Image


Posted Image


Posted Image



#7
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:

Sự tích
Hoa Vàng Mai Vàng


Ngày xửa... Ngày xưa... Có một cô bé rất giàu lòng yêu thương. Cô yêu bố mẹ mình, chị mình đã đành, cô còn yêu cả bà con quanh xóm, yêu cả ba ông Táo bằng đá núi đêm ngày chịu khói lửa để nấu cơm, hầm ngô, nướng thịt cho mọi người ăn. Một lần, thương ba ông Táo, trời đã nóng lại chịu lửa suốt ngày đêm, cô bé mới lên năm ấy đã lấy một gáo nước to dội luôn lên đầu ba ông. Tro khói bốc lên mù mịt. ông Táo già nhất vụt hiện ra nói:

- Cháu thương ta nhưng chưa hiểu ta. Lửa càng nóng, ta càng vui. Cháu mà dội nước thì có ngày ta bị cảm mất.

Từ đấy, cô bé không dội nước lên đầu ba ông Táo nữa. Nhưng ông Táo già thì thỉnh thoảng lại hiện lên trò chuyện với hai chị em cô bé trong chốc lát. Một hôm thương ông, cô em hỏi:

- Ông thích lửa thôi à? Ông còn thích gì nữa không?

-Có chứ! Năm sắp hết. ông phải về trời! Cháu bắt cho ông con cá chép ông cưỡi về Trời thì ông thích nhất. Cô bé liền rủ chị đi bắt cho bằng được một con cá chép về. Cô bỏ ngay vào bếp lửa rồi nói:

- Ông Táo ơi! Chúng cháu biếu ông con chép này đây!
Con cá chép vụt biến mất. Tối hăm ba Tết, quả nhiên hai chị em thấy ông hiện ra, sau đó cưỡi con cá chép như cưỡi ngựa, bay ra khỏi nhà và bay cao mãi lên trời... Bố cô bé là một người đi săn thú rất tài giỏi. Ông thường chỉ thích đi săn thú dữ. Ông bảo:

- Còn thú ác thì tôi còn đi săn cho kỳ hết!

Ông không muốn truyền nghề cho con mình, vì cả hai đều là gái. Nhưng cô em lại rất thích nghề của cha. Lên năm cô đã xin cha dạy cho mình đủ cả côn, quyền và đao kiếm. Cô tuy bé người nhưng nhanh nhẹn vô cùng, và về sức mạnh của đôi tay cô, người cha cũng phải kinh ngạc. Lên chín, cô đã hăm hở xin theo cha đi săn thú. Người mẹ và người chị lo lắng, nhưng cô bé đã thưa ngay:

- Con không giết được con mồi bằng một nhát như cha thì con đâm ba nhát, năm nhát, mẹ và chị cứ yên tâm.

Nói sao làm vậy, cô bé lần đầu theo cha đi săn đã giết ngay được một con lợn lòi rất hung dữ... Trong vùng bỗng xuất hiện một con quái đầu người mình báo. Bà con ai cũng lo lắng, khiếp sợ. Vì con quái vật chỉ thích ăn thịt người, nhất là thịt trẻ con. Người cha liền dẫn cô gái nhỏ đi tìm quái vật để giết. Người mẹ và chị can ngăn nhưng không được. Người cha bảo:

- Tôi chỉ cho nó đi theo để xem, còn diệt quái ác là việc của tôi, hai mẹ con đừng lo.

Hai cha con đi được mấy ngày thì có tin con quái đã bị người cha giết chết thật. Bữa hai cha con trở về, bà con trong vùng mang rượu, gà vịt đến làm cỗ ăn mừng. Cô gái nhỏ không quên đặt vào bếp lửa một con cá chép và khấn với ông Táo già:

- Chúng cháu xin gửi biếu ông con chép để thỉnh thoảng ông cưỡi đi chơi.

Ông Táo già lại hiện lên cám ơn cô bé và hỏi:

- Cháu thấy con quái có sợ không?

- Cháu chỉ thích được cha cháu cho cháu được cùng đánh với nó, nhưng cha cháu không chịu.

Người cha sau đó bỗng bị ốm nặng. Người mẹ và hai cô gái hết lòng chăm sóc. Bệnh người cha có đỡ, nhưng sức khỏe thì không còn được như trước nữa. Vài năm sau, ở vùng trong xa, bỗng xuất hiện một con quái cũng đầu người nhưng mình trăn. Con quái này có sức khỏe ghê gớm. Nó có thể quấn chết một con bò mộng chỉ trong chớp mắt. Nó lại cũng thích ăn thịt trẻ con và có thể ăn một lúc đến mấy đứa. Bà con vùng đó liền cử người ra mời cha con người đã giết con quái đầu người mình báo vào diệt quái giúp bà con. Người cha nhìn cô gái nhỏ của mình hỏi:

- Liệu con có nhận lời đi giúp bà con không?

Cô gái nhỏ liền đáp:

- Con xin cha mẹ và chị để cho con đi!

Người cha nói:

- Cha sẽ cùng đi với con, nhưng cha chỉ giúp con thôi. Lần này chính con phải lo diệt quái đấy. Người mẹ và chị càng lo lắng gấp bội.

- Ông ơi! Đường từ đây vào đó xa xôi cách trở. Quái thì dữ ác mà con bé thì mới mười bốn tuổi, tôi sợ lắm.

- Cha ơi! Cha và em nhận lời, rủi có chuyện gì thì mẹ và con làm sao sống nổi.

Cô gái nhỏ liền thưa:

- Mẹ và chị à, con tuy còn nhỏ nhưng con có đủ sức để diệt quái. Bà con đã ra nhờ lẽ nào mình lại từ chối. Mẹ và chị cứ yên lòng. Cha và con diệt xong quái sẽ trở về ngay.

Thấy không can ngăn được, người mẹ và chị đành lo chuẩn bị mọi thứ cho hai cha con lên đường. Trước đó người mẹ đã may áo mới cho hai con ăn tết, bây giờ bà liền hỏi cô gái nhỏ:

- Con muốn mẹ nhuộm áo cho con màu gì?

Cô bé nhìn ra ngoài đồi núi, rồi đáp:

- Con rất thích màu vàng!

Người mẹ liền giã nghệ nhuộm cho con một màu vàng thật tươi. Ngày lên đường, cô bé mặc chiếc áo vàng, nhìn càng khỏe, càng đẹp. Cô nói với mẹ và chị:

- Diệt xong con quái lúc về con sẽ mặc áo này cho mẹ và chị nhận ra được con ngay từ xa...

Posted ImageHình ảnh này đã được thu nhỏ. Nhấn vào thanh này để xem hình ảnh mở rộng. Kích cỡ của ảnh gốc 800x600 và dung lượng 54KB.Posted Image

Trước khi đi cô gái cũng không quên khấn chào ông Táo đá núi và hứa:

- Cháu sẽ trở về kể chuyện diệt quái cho ông nghe.

Ông Táo liền hiện ra nói:

- Chúc hai cha con mau trừ được quái. ông sẽ chờ ngày trở về...

Hai cha con đi ròng rã hơn một tháng trời mới vào đến nơi có con quái đầu người mình rắn. Nghỉ ngơi được dăm ba ngày, hai người liền đi tìm quái để diệt. Hai cha con đánh nhau với nó hai ngày liền mà không diệt nổi. Sức của người cha thì cứ yếu dần. Cô bé liền thưa với cha:

- Cha ơi! Ngày mai cha cứ để cho con bám sát nó. Con sẽ đâm một con dao găm chặt đuôi nó vào thân cây này, đâm một con dao cắm chặt mình nó vào thân cây khác. Nó không quăng mình đi được thì ta sẽ lựa thế mà chặt đầu nó đi. Người cha biết cách đánh đó hay nhưng rất nguy hiểm.

Tin vào tài nghệ của con, ông gật đầu:

- Được! Nhưng con phải đề phòng cẩn thận nếu nó dứt được đuôi ra.

- Cha cứ yên tâm.

Ngày hôm sau theo cách đánh ấy, hai cha con quả đã diệt được quái. Nhưng trước khi chết nó đã quẫy mạnh một cái, dứt được cái đuôi ra khỏi mũi dao. Sau đó nó liền cuốn ngay lấy người cô bé. Cô bé vừa chặt được cái đầu con quái thì cũng bị con quái quấn gẫy cả xương mềm nhũn cả người. Thấy con gái yêu của mình chết, người cha buông rơi cả thanh kiếm, chạy đến đỡ lấy xác con. Bà con trong vùng cũng vừa chạy đến. Họ đem xác cô gái về chôn cất rồi lập đền thờ. Nhưng cô gái đâu chịu chết như vậy. Vì cô biết rằng cha mẹ chị mình cùng bà con vùng trong, vùng ngoài đều yêu quý mình, mà cô cũng yêu quý và muốn sống với họ. Cô xin thần Đất giúp cô biến thành một con chim lông vàng rực rỡ, một con chim chưa ai thấy bao giờ rồi bay về quê nhà xin gặp ông Táo đá núi:

- Ông ơi! Cháu bị con quái quấn chết. Nhưng cháu mà chết thì mẹ cháu, chị cháu làm sao sống nổi. Vậy đêm nay hăm ba Tết, ông có về trời ông hãy tâu với trời cho cháu sống lại...

Ông Táo đá núi liền hứa:

- Được, ông sẽ tâu giúp cho cháu...

Con chim lông vàng rực rỡ liền bay xuống chỗ mẹ và chị đang ngồi, kêu lên mấy tiếng rồi bay đi. Cũng vừa lúc đó người mẹ và chị biết tin là cô gái nhỏ đã không còn nữa. Bà mẹ ngã ra chết giấc bên bếp lửa. ông Táo đá núi liền đưa hai bàn tay ấm nóng áp vào trán cho bà tỉnh lại và nói ngay:

- Bà cứ yên tâm. Đêm nay về trời, tôi sẽ xin trời cho cháu sống lại.

Hai mẹ con nghe nói mừng quá liền sụp xuống lạy tạ ơn. Ông Táo đi tối hăm ba thì tối hăm tám ông trở về hạ giới. ông nói với hai mẹ con:

- Trời rất thương cô bé nhưng cháu chết đã quá ngày, xin sống lại quá chậm. Vì vậy trời chỉ có thể cứu cho cháu mỗi năm sống lại được chín ngày.

Hai mẹ con nghe nói vừa buồn nhưng cũng vừa mừng. Thôi cứ được trông thấy con, thấy em trong giây lát cũng đã đỡ khổ rồi. Huống gì lại được thấy đến chín ngày. Bà mẹ liền hỏi:

- Ông ơi! Bao giờ thì cháu sống lại được?

- Tùy hai mẹ con cứ cầu trời sống từ ngày nào, trời sẽ cho ngày ấy.

- Vậy nhờ ông xin cho cháu sống lại ngay đêm nay!

- Đêm nay thì chưa được, sớm nhất là phải từ đêm mai!

- Vâng, ông xin cho cháu sống lại từ đêm mai vậy!

Hai mẹ con suốt đêm hôm ấy cứ thức mãi. Cả ngày hôm sau, hai mẹ con đều chẳng muốn làm gì. Chỉ mong cho trời chóng tối. Chờ mãi rồi trời cũng tối thật. Hai mẹ con hồi hộp đợi, không biết con mình, em mình sẽ sống lại trở về như thế nào. Định khấn gọi ông Táo thì bỗng nghe ngoài cổng có tiếng gọi:

- Mẹ ơi! Chị ơi!

Hai mẹ con vụt chạy ra và thấy đúng là cô gái nhỏ đã trở về. Trong chiếc áo vàng vẫn sáng lên nhìn rất rõ. Ba mẹ con ôm nhau khóc như mưa. Ngày hôm sau người cha cũng từ vùng trong trở về. Dọc đường thương con, thương vợ ông chưa biết sẽ nói gì cho vợ và con ở nhà đỡ khổ. Không ngờ khi về đến nhà đã thấy cô gái nhỏ đang nằm ngủ bên cạnh mẹ và chị. Ông dụi mắt tưởng là con bé nhà ai đến chơi. Khi biết cô gái nhỏ đã được sống lại, trở về ông liền ôm chầm lấy con và cứ để cho nước mắt chảy dài trên má.

Cô gái nhỏ ăn Tết với cha mẹ và chị đúng chín ngày. Trong chín ngày đó, cô gái nhỏ dành làm hết mọi công việc để giúp cha mẹ, giúp chị. Nhưng cả nhà lại không muốn cô gái làm việc gì. Trong chín ngày, họ sống bù cho cả một năm sắp phải xa nhau. Đến đêm thứ chín trời vừa tối, cô bé vừa kịp ôm lấy cha, mẹ và chị để chào ra đi thì người cô bỗng cứ mờ dần như sương khói rồi biến mất. Cả nhà buồn rầu, thương nhớ cô gái nhỏ vô cùng. Nhưng nghĩ đến chuyện Tết năm sau, cô sẽ về, mọi người lại ôn ủi nhau, lại kiên nhẫn chờ đợi... Và năm sau, cũng vào chiều hai chín Tết, cô gái nhỏ áo vàng lại trở về ăn Tết với gia đình rồi đến tối mồng Bảy lại ra đi... Năm nào cũng thế. Nghe chuyện lạ, người vùng trong liền cử người ra mời cả gia đình vào sinh sống trong đó để bà con được trả ơn và gặp lại cô gái nhỏ đã giúp bà con diệt được con quái đầu người mình trăn. Thấy sức người cha đã suy yếu, cả nhà bàn với nhau và nhận lời. Từ đấy hàng năm, cô gái nhỏ áo vàng lại trở về sống chín ngày cuối năm, đầu Xuân với cha mẹ, với bà con vùng trong. Khi cha mẹ và chị đều mất cả, cô gái không về nữa. Cô hóa thành một cây hoa ngay ở ngôi đền bà con đã dựng lên để thờ cô. Cây ấy hầu như cả năm chỉ có lá, nhưng cứ vào khoảng gần Tết, hoa lại nở đầy. Hoa màu vàng tươi như màu áo của cô gái nhỏ ngày trước.

Hoa vui Tết với bà con khoảng chín mười ngày rồi rụng xuống đất, biến mất để năm sau lại trở về. Cây hoa ấy ngày nay ta gọi là cây Mai Vàng. Ngày Tết ở miền Trung và ở Nam Bộ, bà con thường mua một cành mai vàng về cắm trên bàn thờ ông bà. Họ tin rằng, có cành mai vàng vừa đẹp nhà vừa vui Tết lại vừa có thể xua đuổi được hết các loài ma quái trong suốt cả năm.


Posted ImageHình ảnh này đã được thu nhỏ. Nhấn vào thanh này để xem hình ảnh mở rộng. Kích cỡ của ảnh gốc 922x612 và dung lượng 58KB.Posted Image

Mùa Xuân Nói Chuyện Hoa Mai

Posted Image

Hoa mai là loại hoa nở đầu tiên trong mùa Xuân. Nói đến mùa Xuân người ta liên nghỉ đến hoa mai, nói đến hoa mai người ta liên nghỉ đến mùa Xuân. Hoa mai là một trong những loài hoa được ưa chuộng nhất từ trước đến nay. Có nhiều loại hoa mai, hầu hết các loại mai đều có năm cánh, hay tám cánh, có loại có nhiều tầng nên có rất nhiều cánh. Nhưng hai loại phổ thông, được nhiều người biết đến là hoa mai vàng (huỳnh hoa) và mai trắng (bạch mai).

Posted Image
Hoa Mai Trắng

Mai vàng là hoa mai người ta thường nói tới, nở rộ vào mùa Xuân từ miền Trung vào Miền Nam. Màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng, cao sang, màu của vua chúa. Vào khoảng Tết ta, ra khỏi ngoại ô Saigon, đi về hướng Lái Thiêu, Bình Dương, dọc đường nhà nào cũng có một cội mai già, hoa đua nở đầy cành, vàng rực, đẹp không thể diễn tả.

Loại hoa mai thứ hai là "bạch mai", có màu trắng, cũng có năm cánh hay tám cánh như huỳnh mai, nhưng mai trắng rất hiếm quý và có hương thơm dìu dịu, thanh khiết. Có người gọi mai trắng là "Tuyết Mai", vì tuyết có màu trắng.

Hoa mai không có hương sắc quyến rũ như hoa hồng, cũng không sực nức hương thơm như dạ lý, nhưng hoa mai mỏng mãnh, đính trên cành, trên thân cây gầy guộc, cằn cỗi tạo một nét đẹp tương phản, thật duyên dáng, độc đáo.

Tại Việt Nam có một loại hoa mai gọi là "mai tứ quý". Hoa cũng có năm cánh vàng như huỳnh mai, khi hoa tàn thì năm cánh rụng, năm đài hoa đổi thành màu đỏ, úp lại, ôm lấy nhụy là hạt màu xanh. Hạt lớn dần đẩy năm đài hoa bung ra giống như hoa mai đỏ. Vì vậy mai tứ quý được gọi là "Nhị Độ Mai" tức là hoa mai nở hai lần, lần đầu cánh hoa có màu vàng, lần sau cánh hoa có màu đỏ. Loại hoa này nở quanh năm.

Ngoài hương sắc và duyên dáng, hoa mai được các nhà Nho và các bậc Thiền sư coi là một biểu tượng của hai đức tính "Nhẫn" và "Dũng". Chịu đựng thời tiết khắc nghiệt lạnh lẽo mùa Đông, hoa vẫn kết nụ để là đóa hoa đầu tiên chào đón Chúa Xuân. Cảm cáí đức hạnh thủy chung, cái khí tiết nhẫn nhục và kiêu dũng đó, Chúa Xuân phong cho hoa mai là vua của tất cả các loài hoa khác, có tên là "Đông Quân". Nhiều nữ sĩ có tên "Mai" lấy bút hiệu là "Đông Quân" cũng từ điễn tích này.

Từ nét duyên dáng, thuần khiết bên ngoài cho đến tính khí đức hạnh, kiêu dũng bên trong, hoa mai được người Trung Hoa tôn vinh là "quốc hoa". Các nhà Nho và các Thiền sư Trung Hoa cũng như Việt Nam luôn coi hoa mai là một tấm gương, một biểu tượng của vẽ đẹp vẹn toàn, "bách hoa khôi". Họ đem ghép hoa mai với "tùng" và "trúc" thành một bộ ba "Tam Hữu". Cây tùng tượng trưng cho trượng phu, cứng cõi, ngay thẳng; cây trúc tượng trưng cho sự kiên nhẫn, rộng lượng và hoa mai được gọi là "ngự sử mai" tượng trưng cho sự hiểu biết và nét đẹp vẹn toàn. Người xưa rất quý "tam hữu".

Trong Hội Thơ Tao Đàn, Vua Lê Thánh Tôn có bài thơ "Mai Thụ" (Cây mai) như sau:

"Trội cành nam chiếm một chồi

Tin Xuân mãi mãi điểm cây mai

Tinh thân sáng, thuở trăng tĩnh

Cốt cách Đông khi gió thôi (ngừng)

Tiết cứng trượng phu, thông (tùng) ấy bạn

Nết trong quân tử, trúc là đôi (sánh đôi)

Nhà truyền (thống) thanh bạch dăng từng khối

Phỉ xứng danh thơm đệ nhất thời!"

Ngoài ra hoa mai cũng được ghép với lan, cúc, trúc, thành bộ "tứ quý", tức là bốn loại hoa, kiểng quý, tượng trưng của bốn mùa Xuân, Hạ Thu, Đông.

Cụ Chu Thần, Cao Bá Quát là một nho sĩ kiệt liệt, một tài năng văn chương lỗi lạc, một đại anh hùng thế thiên hành đạo, suốt quảng đời bôn ba khắp chốn cầu cổ kiếm để xây dựng sự nghiệp bá vương, cụ không gặp bậc chính nhân quân tử nào có cốt cách như "mai ngự sử", vì vậy cụ đã làm hai câu thơ:

"Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

Nhất sinh đê thủ bái hoa mai"

Có nghĩa là:

"Mười năm xuôi ngược giao du cốt tìm thanh kiếm cổ

Một đời chỉ cúi đầu vái lạy trước hoa mai".

Cụ Chu Thần , Cao bá Quát đã hết lời xưng tụng "bách hoa khôi". Cụ cũng có bốn câu thơ "Trồng mai" được dịch ra như sau:

"Đầu non nắm hạt mai gieo

Giống thanh gửi chốn núi đèo xanh tươi

Nữa mai xuân điểm bầu trời

Bức tranh tuyệt tác cho đời ngắm chung".

Được bái lạy như vậy, hoa mai quả là một loài hoa rất quý?

Hoa mai đã gợi nhiều cảm hứng cho thi nhân, nên ảnh hưởng rất lớn trong văn hóa Trung Hoa và Việt Nam. Lý Bạch làm thơ:

"Ngồi trên lầu Hoàng Hạc, nghe tiếng sáo thổi

Giữa tháng năm, chợt vang khúc "hoa mai rơi" ở chốn Giang thành"

Nguyễn Trãi, vị khai quốc công thần nhà Hậu Lê yêu hoa mai vì:

"Yêu mai, yêu tuyết bởi vì đâu?

Vì tuyết trắng, mai thơ và tinh khiết"

Trong chuyện Kiều, Cụ Nguyễn Du có rất nhiều câu thơ nói về hoa mai.

"Thướt tha vóc liễu Xuân đầy

Cành mai xa bẻ ngất ngây ý sầu

Biết chàng lòng có thương sâu

Chúa Xuân ngán nỗi chờ lâu mỏi mòn"

Nhiều Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam đã dùng hoa mai làm ẩn dụ cho sự hạnh phúc, niềm vui giác ngộ trong những bài kệ để truyền dạy Phật pháp cho phật tử, cho hậu thế. Bài kệ về "Mùa Xuân Hoa Mai"của Thiền Sư Thích Mãn Giác được phổ biến rộng rãi trong giới phật tử:

"Xuân đi trăm hoa rụng

Xuân đến trăm hoa cười

Trước mắt việc đi mãi

Trên đầu già đến rồi

Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai"

Bài thơ có nghĩa là, cuộc đời là một dòng sinh diệt, vô thường, biến chuyển theo thời gian và không gian. Xuân đến rồi Xuân đi, hoa cười rồi hoa rụng…là lẽ đương nhiên của vũ trụ, hể có sinh thì có diệt. Nhưng trong sự sinh diệt của vũ trụ vẫn còn có một cái không sinh diệt đó là Phật tánh, là chân tâm, chân như. Nếu chúng ta luôn tu tập, Phật tánh đó giúp ta có được cuộc sống an lành, hạnh phúc. Tâm an bình gọi là Tâm Xuân, trong tâm Xuân, cành mai (biểu tượng của hạnh phúc) sẽ còn mãi mãi, không tàn, không rụng. Cần gì phải chờ đến mùa Xuân mới có hoa mai? Hoa nở rồi hoa cũng tàn. Chỉ có cành mai trong tâm Xuân là tồn tại mãi mãi, ngoài dòng sinh diệt, vô thường, bể dâu của vũ trụ.

Từ ngày lưu lạc tha hương, những thi sĩ hải ngoại luôn mang theo trong tâm tưởng những hoài niệm dấu yêu về một mùa Xuân êm đềm nơi quê cũ. Nhà thơ Nguyễn Vô Cùng thương xót cội mai già:

"Xót cội mai khô , bình rạn vỡ

Thương cành Xuân héo, dạ đầy vơi

Khói hương tàn lạnh từ Xuân ấy

Mà quyện tim ai mãi cuối đời"

Trong mãnh vườn hoài niệm đó có tang tóc, đổ vỡ, chia ly, bom đạn…Nhà thơ NguyễnVô Cùng viết:

"Mùa Xuân này em có về quê mẹ

Thăm dùm anh vườn cũ có còn xanh

Tới gốc mai từng trúng đạn bao lần

Xem có nở nụ hoa nào kịp Tết"

Nhà thơ Đăng Nguyên diễn tả mùa Xuân ở Huế tuyệt đẹp với mai vàng, mai trắng:

"Xuân nào đẹp hơn Xuân Huế

Mai vàng, mai trắng hương xưa

Em cười tươi như hoa ngọc

Thơ ơi! Thương mấy cho vừa

Bao giờ mùa Xuân trở lại

Bao giờ non nước đơm hoa!"

(Nhung nhớ vườn Xuân)

Làm thân viễn khách trên miền đất lạ, Nhà thơ Phan Khâm luôn thiết tha nhớ về cố quận, hồi tưởng lại cảnh mai vàng nở rộ trên đường quê:

"Mùa Xuân nào mình về thăm Cam Lộ

Ghé chợ Phiên đầy bắp đậu sắn khoai

Đường nhà em còn hoa vàng nở rộ

Mít ổi trong vườn chính cho ai?"

Một lần nữa Xuân lại về trên đất khách, nếu chúng ta may mắn có được một cành mai để chưng trong nhà ngày Tết thì nét diễm kiều thanh tú của hoa mai cũng không đem lại cho chúng ta niềm vui Xuân rội rã như những mùa Xuân kỷ niệm êm đẹp quê nhà. Xuân đến rồi xuân cũng đi, mai nở rồi mai cũng tàn, thôi thì chúng ta hãy vun xới mãnh vườn tâm trong ta, biến vườn tâm thành vuờn Xuân tuyệt đẹp của thế gian. Trong Tâm Xuân luôn có những cành mai.



Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image


Bài viết này được chỉnh sửa bởi Niệm Phật : 12 February 2010 - 04:28 PM





0 người đang đọc chủ đề này

0 thành viên, 0 khách, 0 thành viên ẩn



Stars Counter Game

Balloon vs. Thorns

MU Phuc Hung

Làm Việc Tài Nhà

Mu Da Nang

Tuyển Nhân Viên Bán Hàng

Tư vấn sức khỏe trực tuyến