Jump to content

Welcome to [ iT ] Forums
Register now to gain access to all of our features. Once registered and logged in, you will be able to create topics, post replies to existing threads, give reputation to your fellow members, get your own private messenger, post status updates, manage your profile and so much more. If you already have an account, login here - otherwise create an account for free today!
Cộng đồng Âm nhạc Việt Nam

Hình ảnh

Đất nước Phù Tang


  • Please log in to reply
34 replies to this topic

#1
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
- Geisha bản sắc truyền thống văn hóa Nhật Bản:
Với những nếp nhăn hằn dấu thời gian trên khuôn mặt, cụ bà 98 tuổi Kokin không che giấu niềm tự hào là một geisha - một nghề nghiệp mà với phái mạnh xứ Phù Tang là sự tôn vinh sự duyên dáng, tính cách dí dỏm và nhan sắc của người phụ nữ, một nghề của những"liễu yếu đào tơ"đa tài, giỏi cầm kỳ thi họa.

Posted Image Posted ImagePosted Image

Nhưng geisha cao tuổi nhất thế giới này vẫn không nguôi tiếc nhớ thời kỳ hoàng kim của các geisha - đó là trước khi xảy ra Đại chiến thế giới lần thứ 2 khi mà các khu geisha của Nhật Bản thực sự là chốn giải trí hấp dẫn, luôn rạng đèn từ đêm đến mờ sáng. Hình ảnh các geisha yểu điệu trong các bộ kimono truyền thống bằng lụa, duyên dáng ngự trên những chiếc xe kéo đến các nhà hàng để chiều lòng những người đàn ông giàu có không còn xa lạ trên các đường phố Tokyo. Còn ngày nay, tại những thành phố rạng ánh đèn neon ở Nhật Bản, các khu geisha thường khá yên tĩnh, đối lập với cuộc sống về đêm với sự ồn ào tại các sàn khiêu vũ, bar và điểm karaoke. Giới doanh nhân trẻ ngày nay với cuộc sống hiện đại không mấy hào hứng với loại hình giải trí truyền thống này và nhiều geisha trở nên thất nghiệp và sống trong dĩ vãng.
Kokin nói:"Trước đây, geisha thực sự mang lại sự hứng thú cho khách hàng, vì đối tượng phục vụ của chúng tôi là những người đàn ông có tuổi thành đạt trong xã hội nhưng tôn trọng các giá trị truyền thống. Còn ngày nay, khi thế giới là một, nhiều người trẻ giàu lên nhanh chóng và chịu ảnh hưởng không nhỏ của cuộc sống hiện đại, của quá trình toàn cầu hóa và họ tìm đến với karaoke".
Dù đã sống qua gần một thế kỷ, song cụ bà Kokin vẫn hát và chơi các nhạc cụ truyền thống tại khu geisha Atami, gần Tokyo. Cụ không được hưởng niềm vui được con cái chăm sóc khi về già, nhưng đổi lại, bà vẫn lưu giữ những kỷ niệm về một thời làm geisha đầy ánh hào quang khi những quý ông phải mời bà.
"Khi đó, tôi thường cảm thấy khá yên bình khi ngồi một mình trong công viên nào một ngày hè nắng ấm và có ai đó hỏi liệu tôi có thể dành chút thời gian cho họ. Cụ Kokin hồi tưởng lại. Thậm chí tôi chỉ có thể dành cho họ một giờ đồng hồ".
Hiện nay chỉ còn rất ít người theo nghiệp geisha. Theo thống kê, nếu như năm 1928 - là thời kỳ hoàng kim của các geisha, trên toàn xứ mặt trời mọc có khoảng 80.000 geisha, thì ngày nay con số này chỉ vỏn vẹn là 1.000 người, trong đó ở Tokyo là 300 người. Trước đây, các geisha thường có người bảo trợ, phần lớn sau này trở thành người bạn đời của họ, thì các geisha ngày nay sống độc thân với mức thu nhập khiêm tốn. Khi các đại gia và chính khách đầy quyền lực không còn mấy mặn mà, các geisha hướng tới đối tượng khách hàng mới là khách du lịch và thậm chí là các quý bà quý cô lắm tiền nhiều của, muốn được sống trong bầu không khí của quá khứ với những người phụ nữ đại diện cho một nền văn hóa truyền thống.
Nền kinh tế suy thoái những năm 90 của thế kỷ 20 buộc các đại gia phải hạn chế các thú vui giải trí. Trong khi đó, trở lại những năm gần đây, chính trường Nhật Bản chao đảo vì những vụ scandal tài chính của các chính khách khiến geisha càng trở nên ế ẩm vì chi phí cho một geisha là không nhỏ. Thông thường một bữa tiệc có geisha có thể tốn tới 80.000 yên (khoảng 730 USD), điều này còn phụ thuộc vào địa điểm và số lượng geisha. Chính vì lý do này mà nhiều đại gia đã lắc đầu trước các geisha, dù số tiền họ bỏ ra là"đáng đồng tiền bát gạo". Họ thà lựa chọn các phòng ốc karaoke hiện đại hơn là các phòng được bài trí theo phong cách Nhật Bản truyền thống với những cô geisha mặc kimono. Thực tế đã đẩy nhiều geisha phải bỏ nghề và nghề này ngày càng mai một. Trước thực trạng u ám của nghề geisha, các cộng đồng geisha ở Nhật Bản cùng các công ty du lịch đã mở ra các hướng tiếp cận với loại hình giải trí này. Tại cố đô Kyoto của Nhật, dự án này đã được triển khai rất hiệu quả và đây trở thành trung tâm của thế giới geisha. Tại Kagurazaka - trung tâm Tokyo từ hai năm trước, một tổ chức phi lợi nhuận đã đề nghị các geisha trình diễn trên đường phố, thay vì họ chỉ ẩn mình trong"ryotei"- nhà của các geisha. Các du khách đã có cơ hội thưởng thức tài nghệ của các geisha với mức phí hợp lý(10.000 yên cho một bữa tối với 6 geisha).
Theo các nhà xã hội học, geisha là một phần tạo nên bản sắc văn hóa Nhật Bản và bảo tồn nghề này là bảo tồn một nét đẹp trong văn hóa truyền thống xứ Phù Tang.
- Thế giới kỳ bí của geisha:
Phương Tây cho rằng geisha là một dạng gái điếm cấp cao nhưng với người Nhật, geisha là các nghệ sĩ thực thụ với khả năng đàn, hát, múa và kỹ năng chuyện trò với khách.

Posted Image

Komomo - một geisha 23 tuổi, ngắm nhìn trước gương để chuẩn bị cho một cuộc hẹn tại Miyagawa, Tyoto. Trên người cô là chiếc kimono dài 1,5m làm bằng lụa.

Posted Image

Để buộc được chiếc thắt lưng to bản bằng lụa, còn gọi là obi, các cô phải nhờ đến đôi bàn tay khỏe mạnh của đàn ông.

Posted Image

Komomo chỉnh trang lại lần cuối trước khi đến buổi hẹn với khách. Cô mất 20 phút để mặc xong chiếc kimono này.

Posted Image

Komomo lướt đi trên con phố cổ kính của cố đô Kyoto để đến chỗ hẹn với khách. Trong quan niệm của người phương Tây, geisha có nghĩa là gái điếm. Nhưng trên thực tế, các kỹ nữ mua vui cho khách bằng việc đàn, hát, múa và nói chuyện giải khuây.

Posted Image

Các maiko, những người đang học để trở thành geisha, trình diễn trong lễ hội mùa xuân ở nhà hát Kaburenjo ở Kyoto. Những người muốn trở thành geisha phải bắt đầu từ khi còn rất nhỏ. Maiko là bước thứ ba trong quá trình rèn luyện và thông thường kéo dài 5 năm trước khi trở thành geisha thực thụ.

Posted Image

Komomo biểu diễn trong nhà hát Kaburenjo. Những bộ kimono bằng lụa và được thêu tay này có thể có giá hơn 10.000 USD. Thậm chí, có những bộ có giá tới 20.000 USD.

Posted Image

Cách trang điểm truyền thống của geisha. Khuôn mặt và phần cổ của họ được đánh phấn trắng tinh. Trước đây, phấn này có chứa chì nhưng sau khi phát hiện tác hại của nó với da mặt, họ thay bằng bột gạo. Môi được vẽ hình trái tim đỏ rất nhỏ.

Posted Image

Mái tóc được vấn cầu kỳ của geisha. Để giữ được dáng tóc trong vài ngày, khi ngủ các geisha phải dùng loại gối đặc biệt kê ở cổ.

Posted Image

Một geisha biểu diễn màn múa quạt. Nhiều người cho rằng thế giới geisha cần cởi mở hơn nữa với thế giới và Internet có thể là công cụ hữu ích. "Trong quá khứ, người ta biết đến geisha qua giới thiệu, nhưng giờ đây thông tin có thể tìm trên Internet", chuyên gia nghiên cứu về geisha Kyoko Aihara cho biết.

Sưu tầm


Bài viết này được chỉnh sửa bởi tea: 01 July 2008 - 05:05 AM


#2
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
1 - Dấu ấn Samurai:
Khi Samurai xuất hiện trên con phố đông người tại Edo(Tokyo tương lai), tất cả đều cúi đầu không dám nhìn thẳng và vội vã né sang bên nhường lối. Không thể nhầm lẫn Samurai với thành phần xã hội nào khác. Chỉ Samurai - từng là thành phần đẳng cấp cao nhất xã hội Nhật - mới có quyền mang hai thanh kiếm, một ngắn, một dài, biểu tượng cho uy quyền mình. Vận kimono, chàng Samurai với cái đầu cạo giữa chừa tóc hai bên đi ung dung và cao ngạo. Chính quyền không cần Samurai làm việc mà chỉ yêu cầu họ bảo vệ đất nước khi có loạn. Và nếu thường dân nào dám cãi lệnh hoặc va phải thanh gươm, Samurai có quyền giết chết kẻ đó ngay lập tức!
Posted Image
Biểu tượng anh hùng vĩ đại
Samurai từng ảnh hưởng lịch sử nước Nhật trong gần 700 năm từ 1185-1867, giai đoạn xảy ra không ít sự kiện đẫm máu không khác mấy so với thời La Mã cổ đại hay châu Âu Trung cổ.
Trong thực tế, hiệp sĩ châu Âu xa xưa có thể có mối quan hệ lịch sử gần gũi với Samurai. Như hiệp sĩ châu Âu, Samurai cũng hình thành quân đội gồm thủ lĩnh thị tộc và các chiến binh trung thành. Với sức mạnh tăng dần, Samurai từng có lúc lấn át vị trí tối cao của Nhật hoàng. Đó là thời của các Shogun(tướng quân). Oai nghi Samurai chỉ bị lu mờ và thời huy hoàng Samurai chỉ kết thúc khi tàu chiến Mỹ cập cảng Nhật và chứng minh rằng sức mạnh từ dũng khí Samurai không thể địch lại đại bác Mỹ. Sự thống trị của Samurai kết thúc.
Năm 2003, nước Nhật kỷ niệm 400 năm cột mốc khai sinh kỷ nguyên Edo(1603-1867). Cũng trong năm 2003, Hollywood tung ra bộ phim sử thi The Last Samurai(với sự thủ diễn của Tom Cruise). Và như vậy, cùng chương trình lễ hội 400 năm khai sinh Edo với những hình ảnh gợi nhớ Samurai, người ta có thể thấy.
Posted ImagePosted Image

Kiếm sĩ Samurai
Samurai thật ra chưa bao giờ biến mất khỏi xã hội Nhật. Tại bất kỳ thành phố hoặc thị trấn nào ở Nhật người ta cũng thấy hình ảnh Samurai: trên bích chương điện ảnh, pa nô tuyên truyền chống say rượu lái xe, băng rôn viện bảo tàng, bìa truyện tranh...
Vào ngày 5-5 hàng năm(lễ thiếu nhi), người ta tôn vinh sinh lực cường tráng - linh hồn sức mạnh Samurai - và chúc sức khỏe cho các bé trai. Tại sao hình ảnh Samurai sống dai dẳng trong nền văn hóa Nhật? Đơn giản, Samurai là một trong những biểu tượng anh hùng vĩ đại nhất lịch sử văn minh thế giới, từng bao lần được huyền thoại hóa với bóng dáng kiêu hùng và dũng mãnh của tay kiếm khách cô độc trừ gian diệt bạo...
Trong bài viết công phu trên National Geographic, tác giả Tom O'Neil cho biết Samurai xuất hiện vào thế kỷ 10 và thoạt đầu chỉ gồm các võ sĩ làm thuê cho giới chủ đất giàu có hoặc thành phần quý tộc tại kinh thành. Qua thời gian, sức mạnh các bộ tộc vùng quê tăng dần và bộ tộc nào có nhiều Samurai can trường và liều lĩnh nhất sẽ được xem là bộ tộc được kính trọng nhất. Đó cũng là giai đoạn mà vị trí tối thượng của Nhật hoàng dần lu mờ.
Sau những cuộc tranh giành, hai bộ tộc mạnh nhất - Taira và Minamoto - bắt đầu nổi lên như hai đối thủ lớn nhất. Trong cuộc tranh giành quyền cai trị đất nước, chiến binh Samurai Minamoto thắng thế năm 1185 và thủ lĩnh họ - Yoritomo - củng cố quyền lực tại kinh đô mới ở ngôi làng chài Kamakura(Đông Nhật). Yoritomo trở thành Shogun đầu tiên.
Các cuộc chiến giữa những bộ tộc thời kỳ này không phải là trận giao tranh giữa hai đội quân. Thông thường, một chiến binh từ hàng ngũ bên kia phóng ngựa giữa chiến tuyến, dõng dạc xưng tên và thành tích, như một cách thách đấu: "Này, ta là Kajiwara Heizo Kagetoki, hậu duệ thứ năm từ dòng tộc Gongoro Kagemasa ở Kamakura, chiến binh lừng danh vùng phía Đông. Năm 16 tuổi, ta từng bị một mũi tên đâm xuyên nón sắt trúng mắt trái, ta nhổ nó ra và bắn lại kẻ đã bắn ta...".
2 - Sự kinh hoàng từ lưỡi gươm Samurai:
Qua thời gian, lối giao chiến kiểu"hào khí ngất trời"bắt đầu biến mất, khi các đội quân Samurai ngày càng đông và bộ binh bắt đầu nhiều hơn kỵ binh. Tuy nhiên, lòng cao ngạo và danh dự của Samurai tiếp tục tồn tại. Khi bị bắt, hầu hết chiến binh Samurai bại trận luôn gan dạ thực hiện Seppuku (tự mổ bụng). Không như hình dung qua các câu chuyện hoặc bộ phim huyền thoại hóa Samurai, chiến binh Samurai cũng thường chặt đầu kẻ thù. Khi cuộc chiến kết thúc, Samurai chặt đầu kẻ thù và nộp cho tướng quân để được tưởng thưởng (vàng, bạc hoặc đất đai). Và rồi, phần mình, tướng quân cũng cho bêu đầu kẻ thù nơi công cộng để tỏ rõ uy danh.
Hình ảnh chặt đầu kẻ thù của Samurai hiện thỉnh thoảng xuất hiện trong các tuồng kịch cổ. Tại nhà hát Kabukiza ở khu Ginza(Tokyo), khán giả vẫn có thể chứng kiến cảnh anh hùng Samurai Gongoro chặt đầu hàng loạt kẻ thù
Sự kinh hoàng và tàn bạo thoát ra từ lưỡi gươm Samurai dường như xảy ra vào thời chiến tranh Mông Cổ, khi Samurai đương đầu với giặc ngoại xâm. Hai lần cuối thế kỷ 13, hậu duệ Thành Cát Tư Hãn đã tấn công Nhật từ biển. Cả hai lần đều may mắn xảy ra các trận bão lớn, cứu Nhật khỏi bị cày nát bởi vó ngựa hung Mông. Trong cuộc chiến lần thứ hai và được bão lớn giúp đẩy lùi quân Mông, người Nhật gọi trận bão này là Kamikaze (thần phong - từ mà sau này đã khiến quân đội Mỹ kinh khiếp với trận Trân Châu Cảng vào Thế chiến thứ hai).
3 - Binh đao Samurai trong lịch sử Nhật:
Samurai luôn giắt hai thanh kiếm. Thanh Katana dùng giao tranh ngoài chiến trường và thanh Wakizashi(ngắn hơn)dùng cho cận chiến. Giới nghiên cứu lịch sử đều công nhận rằng kỹ thuật rèn Katana là một trong những kỹ thuật làm kiếm tuyệt hảo nhất lịch sử văn minh thế giới. Nghề làm kiếm cổ truyền tại Nhật gần như biến mất sau thế chiến thứ 2, khi phe đồng minh tịch thu và phá hủy khoảng 5 triệu thanh gươm và cấm sản xuất gươm mới. Hiện nay, nghề làm kiếm cổ truyền Nhật được khôi phục ít nhiều.
Posted ImagePosted Image
Nghi lễ seppuku của Samurai
4 - Kiêu hùng và quyền lực:
Samurai và shogun không chỉ là kiếm sĩ. Như các nhân vật kiếm khách Trung Hoa, Samurai cũng uyên bác thi văn, sành sõi nghệ thuật cắm hoa, thư pháp và họ thường tổ chức các buổi tao ngộ với giới văn nho để đàm luận thế sự hoặc thưởng thức kịch Noh.
Thời cuộc chiến kinh hoàng Onin(1467-1477), khi hầu hết Kyoto bị thiêu thành tro, các đầu lĩnh Samurai vẫn giải trí bằng cách làm thơ và vận trang phục lụa sặc sỡ. Và trong tất cả sinh hoạt văn hóa Samurai, trà đạo được xếp hàng đầu. Trước thế kỷ 13, giới Thiền gia giới thiệu nghệ thuật uống trà cho các tướng quân thuộc bộ tộc Ashikaga. Yoshimasa - Shogun thứ tám của Ashikaga, cải đổi nghệ thuật trà đạo theo hình thức đơn giản hơn và đó chính là cách mà nghệ thuật trà đạo ngày nay được phổ biến tại Nhật.
Với Samurai, pha và uống trà là nghi lễ đặc biệt. Khi pha hoặc uống trà, Samurai không được phép mang gươm. Vài Samurai xem bộ đồ trà quý ngang với thanh kiếm oai hùng của mình. Một tài liệu cổ từng miêu tả về tướng quân Kanamori Yoshishige như sau:"Ông bảo vệ lâu đài Kishiwada và chỉ mình ông đã lấy được 208 cái đầu. Và ông cũng là bậc thầy về trà đạo".
Dù vậy, nói đến Samurai là nói đến hình ảnh kiêu hùng và quyền lực của họ. Giai đoạn khốc liệt và đẫm máu nhất lịch sử Samurai xảy ra vào giữa thế kỷ 15, khi các bộ tộc mạnh nhất giao chiến với nhau trong giai đoạn 100 năm gọi là Sengoku Jidai(thời đất nước binh đao).
Đặc tính các trận chiến thời kỳ này đã thay đổi nhiều so với những giai đoạn trước. Như các cuộc binh lửa tại châu Âu cùng thời(giai đoạn Trung cổ), người ta bắt đầu thấy cuộc giao chiến quy mô với đoàn quân hàng chục ngàn Samurai vây kín lâu đài kẻ thù. Không chỉ gươm, họ còn mang súng hỏa mai, thứ vũ khí được giới thám hiểm Bồ Đào Nha mang đến Nhật vào năm 1543.
Người Nhật nhanh chóng bắt chước kỹ thuật chế tạo súng hỏa mai và chỉ 30 năm sau, các đạo quân Samurai đã đứng đầu thế giới về sử dụng súng ngoài chiến địa. Trận chiến bắt đầu dài hơn, đẫm máu hơn và có tính quyết định hơn.
Khi một thủ lĩnh thất bại, cả vùng bị rơi vào tình trạng thất nghiệp và đầy dẫy chiến binh Samurai vô chủ(ronin). Nước Nhật tiếp tục tiêu điều bởi các cuộc nội chiến, cho đến thời Tokugawa Ieyasu - người được xem là Shogun mạnh nhất lịch sử Samurai. Bằng quyền lực mạnh tuyệt đối, Tokugawa Ieyasu kêu gọi tất cả thủ lĩnh bộ tộc cùng dàn xếp mâu thuẫn và sống trong yên ổn. Trước Tokugawa Ieyasu, hai đại thủ lĩnh Samurai - Oda Nobunaga và Toyotomi Hideyoshi - cũng từng kêu gọi chấm dứt nội chiến và thống nhất đất nước. Tuy nhiên, vụ ám sát Oda Nobunaga bởi một tướng quân thù nghịch đã khiến kế hoạch trên không thành.
Cái chết Toyotomi Hideyoshi vào năm 1598 đã tạo ra trận giao tranh đẫm máu nhất lịch sử Samurai nhưng cũng đưa đến sự xuất hiện vị tướng quân 58 tuổi Tokugawa Ieyasu (từng chiến đấu dưới hàng ngũ Hideyoshi lẫn Nobunaga). Ba năm sau trận chiến kinh hoàng vào ngày 21-10-1600, Ieyasu giành ngôi Shogun - người đầu tiên trong 15 người thuộc triều đại Tokugawa. Đến trước khi chết năm 1616, Ieyasu đã tiêu diệt tất cả đối thủ và đặt dấu chấm hết cho thời kỳ binh đao huynh đệ tương tàn.
5 - Vẫn mãi là một biểu tượng văn hóa:
Trong 250 năm cai trị của triều đại shogun Tokugawa, hòa bình được tái lập tại Nhật. Chính quyền phong kiến Tokugawa, đóng tại Edo, chia xã hội thành bốn loại: Samurai, nông dân, thợ thủ công và thương nhân. Luật quy định cách sống cho từng đẳng cấp(ăn mặc ra sao, kiếm tiền bằng cách nào và sử dụng vũ khí gì...). Chiếm khoảng 2 triệu người(6% dân số), Samurai trở thành những người có vị trí được trọng vọng nhất.
Để đổi lại việc cam kết bảo vệ chính quyền khi có loạn, Samurai được hưởng lương, trả bằng gạo tính bằng 60% thuế canh tác nông dân. Trong quá khứ nhiều Samurai từng là nông phu, giờ họ sống trong lâu đài và chẳng làm gì ngoài việc mài gươm thật bén.
Ở đẳng cấp cao, họ cũng bị cấm thưởng thức những thú giải trí nghèo hèn như kịch kabuki, geisha...Tuy nhiên, trong khi gươm vẫn sáng và bén ngọt như dao cạo, Samurai mất dần kỹ năng chiến đấu. Do vậy, người ta thiết lập các điều luật mới nhằm rèn luyện thể lực cũng như tinh thần cho Samurai. Đó là những cẩm nang đầu tiên dạy cách cầm gươm và cả cách nói chuyện trước thượng cấp hoặc hạ cấp. Nhờ vậy, võ thuật phát triển và trở thành một truyền thống của dân tộc Nhật. Hàng triệu trẻ em Nhật hiện vẫn tập vài môn kinh điển Samurai thời Edo, như kendo(kiếm đạo) hoặc kyudo(cung đạo)...
Triều đại Tokugawa bất ngờ sụp đổ từ năm 1853 - khi đoàn tàu chiến của thiếu tướng hải quân Mỹ Matthew Perry cập cảng Nhật. Đối mặt sức mạnh quân sự hải ngoại, Shogun hủy bỏ chính sách bế quan tỏa cảng và bắt đầu giao dịch thương mại với ngoại quốc. Sự kiện này làm bùng nổ làn sóng phản đối Tokugawa cũng như Samurai. Lực lượng đối lập tổ chức và quy tụ nông dân mở chiến dịch lật đổ triều đại Tokugawa.
Chính quyền mới - Minh Trị, trở thành dấu hiệu khai mở thời kỳ mới cho nước Nhật và đẩy lùi Samurai dần vào bóng tối. Chế độ Minh Trị xóa bỏ chính sách phân biệt giai cấp, tịch thu tài sản và ngưng trả lương cho Samurai và thậm chí cấm Samurai mang gươm. Nhiều Samurai từng giúp triều đình trước kia nay cảm thấy bị phản bội. Họ tổ chức loạt cuộc dấy loạn vào thập niên 1870 nhưng đều bị dập tắt. Thời huy hoàng của Samurai kết thúc. Dù vậy, như nàng kiều geisha, như trà đạo, như bộ kimono..., Samurai đến nay vẫn là một trong những biểu tượng nổi bật và đại diện của văn hóa Nhật.

Sưu tầm



#3
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
Trong kiến trúc, vườn Nhật truyền thống được phân thành ba loại gồm: vườn trà(Chaniwa), vườn khô(Karesansui), vườn đi dạo(Kaiyushiki). Mỗi loại vườn có một bố cục khác nhau, nhưng đều mang đậm tính"Thiền".
Posted Image
Vườn Nhật không thể thiếu chất liệu đá.
Trong vườn Nhật, đất là vật liệu làm nền cho cho những chất liệu căn bản như đá, nước và cây cối. Những chất liệu thiên nhiên này với những hình dạng khác nhau kết hợp nên khu vườn.
Đá có ý nghĩa quan trọng trong vườn Nhật. Nó như là bộ xương, là nền tảng của khu vườn. Nhiều chất liệu sử dụng trong vườn được thực hiện từ đá như đá giậm bước, móng cầu, tường, thạch đăng lung, thuỷ bồn. Đá được bố trí nằm riêng lẻ hay kết hợp với cây cỏ làm thành phông nền cho khu vườn.
Đá có chức năng phân chia những khu vực trong vườn thành những không gian thân mật, riêng tư. Khi lựa chọn đá cũng cần lưu ý. Giá trị nhất là những tảng đá có hình dạng thanh nhã, kết cấu hấp dẫn, gân đẹp, có vẻ sần sùi già nua và hoàn toàn tự nhiên, nếu có bám rêu và địa y thì càng thêm giá trị.
Đi kèm với đá, nước là một chất liệu thống trị trong vườn Nhật. Một hồ nước nhỏ đơn sơ cũng có thể thể hiện được sinh động nét lung linh, huyền ảo. Những lối đi quanh co cũng góp phần gắn kết khu vườn lại với nhau.
Posted Image
Sự cân bằng trong kiến trúc vườn Nhật.
Việc lựa chọn và trồng những cây thích hợp cả về chủng loại và kích cỡ là rất cần thiết. Đối với vườn Nhật thì thiết kế cây trồng có nghĩa bao gồm cả việc định dạng kích thước và hình dáng của từng cây trong khu vườn. Khu vườn càng nhỏ thì yêu cầu càng chặt chẽ.
Giống như sự cân bằng, tính đồng nhất là trọng tâm của nghệ thuật kiến tạo vườn Nhật. Khu vườn phải tạo cho người ngắm một cảm giác đồng nhất, chan hoà và không tách biệt với thiên nhiên. Hình dáng kiến trúc của ngôi nhà và dáng vẻ tự nhiên của khu vườn như hoà quyện được vào nhau. Tính đồng nhất cũng góp phần bổ sung cho khu vườn những dáng vẻ mới, hấp dẫn thể hiện được khoảng không và chỗ kín đáo, sự phù du và vĩnh cửu, sự mềm mại và cứng rắn.
Posted Image
Tiểu cảnh vườn Thiền được bố trí trước nhà.
Ở Việt Nam, muốn làm kiểu vườn Nhật cũng phải tuân thủ theo các nguyên tắc như trên. Đối với đá, có rất nhiều chủng loại cho bạn lựa chọn như sỏi cuội to, đá granite, đá thấm thuỷ, đá hộc để trang trí cho khu vườn. Đẹp nhất là sỏi cuội to và đá granite. Ở khu vực nước nên dùng đá thấm thuỷ để tạo điều kiện mọc rêu làm tăng tính tự nhiên cho khu vườn.
Cỏ Nhật được trồng làm nền cho khu vườn. Tuy nhiên, cần lưu ý, cỏ nhật chỉ thích hợp với diện tích rộng và không chịu bóng. Khu vực dưới các tán cây, bàn ghế không nên trồng cỏ nhật vì dễ bị chết. Nên trồng thay thế bằng các loại cỏ tre, rau má, chua me đất...Cây bụi cắt xén có thể trồng các loại như mẫu đơn đỏ, hồng vàng hoặc hoa ngâu. Ngoài ra, có thể điểm thêm các loại cây như hoa sưa, tường vi cho khu vườn thêm sinh động.
Những ngôi nhà với đường nét kiến trúc đơn giản, hài hoà rất phù hợp với phong cách của vườn Nhật. Bản thân gia chủ cũng là người trọng sự giản dị, thanh cao và triết lý thì mới có thể yêu nét đơn sơ của vườn Nhật. Làm vườn Nhật không cần diện tích rộng nhưng muốn đẹp đòi hỏi phải có sự tư vấn của kiến trúc sư hoặc có bàn tay chuyên nghiệp của người làm vườn chứ không thể là của những người nghiệp dư.

Sưu tầm



#4
Trần Quang Anh

Trần Quang Anh

    Mr.Mitnick

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2773 Bài Viết:
Nhìn cái ảnh chụp cận mặt thấy sợ luôn a :-ss

#5
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
Làm đẹp theo phong cách Nhật bản:
Tuổi thọ và vẻ đẹp đoan trang của người phụ nữ Nhật Bản lâu nay luôn được khắp nơi trên thế giới ca tụng và nhắc đến bằng câu nói:"Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật. Vậy phụ nữ Nhật Bản có bí quyết gì trong việc làm đẹp?

Posted ImagePosted ImagePosted Image

- Làm đẹp da và thư giãn với liệu pháp thiên nhiên:
Phụ nữ Nhật được thường có dáng vẻ mảnh mai, làn da đẹp và trẻ hơn tuổi thật của họ. Bí quyết là họ sử dụng tinh dầu để giữ gìn sắc đẹp. Xu hướng này ăn sâu vào ý thức của mỗi người dân. Nhu cầu về sản phẩm tinh dầu cao cấp là rất lớn, đặc biệt là vào những ngày hè nóng bức, khi làn da bị khô ráp.
Tinh dầu có khả năng tác động đến cảm xúc, mang lại sự thư thái, dễ chịu cho cơ thể và tinh thần. Mỗi loại tinh dầu thực vật đều có tính năng riêng và hầu hết đều có những tác dụng hữu ích cho cơ thể, đặc biệt là trị các bệnh về da và tóc.
Tinh dầu thực vật nhanh chóng hòa tan, thẩm thấu vào sâu bên trong da, tạo ra một lớp chất nhờn trên bề mặt da, có tác dụng như một tấm màng bảo vệ da dưới mùa hè nóng nực. Do tinh dầu thực vật có cấu tạo gần giống với lớp mỡ dưới da nên nó có thể duy trì lâu dài việc hòa tan axit béo và phát huy tác dụng thanh lọc độc tố của mình.
Phụ nữ Nhật Bản không bao giờ quá căng thẳng và họ vẫn giữ được sự bình thản ngay cả khi đang ở trong tâm bão. Người Nhật rất lạc quan, dễ thích nghi với hoàn cảnh và có tính khí dịu dàng, khoan dung, đó cũng chính là yếu tố giúp họ luôn trẻ, khỏe. Phụ nữ Nhật thích được chăm sóc da, đắm mình trong không gian nhẹ nhàng của các spa.
Nhiều phụ nữ Nhật tin tưởng tuyệt đối vào thủy liệu pháp (chữa bệnh bằng nước) và tắm hơi. Nó giúp giải tỏa stress, chống trầm cảm, làm mềm và tái tạo da.
Phụ nữ Nhật Bản rất thích chăm sóc da mặt bằng cách đắp mặt nạ thiên nhiên và dưỡng thể bằng các loại tinh dầu. Đây là những xu hướng làm đẹp điển hình của người Nhật. Phụ nữ Nhật Bản ưa thích một hỗn hợp mặt nạ chăm sóc da mặt bao gồm: bột yến mạch, bột trân châu và sữa tươi. Hỗn hợp này đem lại cho họ một làn da mỏng manh, mịn màng, trắng trẻo, rất ưa nhìn.
Ngoài ra, họ cũng không từ chối bất kỳ một sản phẩm từ thiên nhiên nào tốt cho làn da của họ: từ đơn giản như dưa chuột, cà chua, mật ong, trứng gà...cho đến bột yến xào, các loại bột thảo dược, bột đá quý...Phụ nữ Nhật đắp mặt nạ mỗi tuần 2 lần và ít nhất 1 tháng 1 lần đối với các loại mặt nạ dưỡng da đặc biệt.
- Chế độ dinh dưỡng nghiêm ngặt:
Nói không với thực phẩm đóng hộp và thức uống có cồn: phụ nữ Nhật thích tìm cho mình một thực đơn khoa học ít chất béo giàu lượng carbohydrate, họ chỉ chọn những thực phẩm có chất béo chất đạm có lợi cho sức khỏe.

Posted Image

Phụ nữ Nhật được thường có dáng vẻ mảnh mai, làn da đẹp và trẻ hơn tuổi thật của họ.
Một nghiên cứu về những người sống thọ nhất nước Nhật cho thấy: chế độ ăn uống ít calorie giúp có tuổi thọ trung bình là 81. Phụ nữ Nhật thích ăn hải sản đặc biệt là các loại cá, loại thực phẩm này không gây tăng cân mà còn giảm thiểu rủi ro về bệnh tim mạch và chứa chất Omega 3 rất tốt cho việc chống lão hóa.
Phụ nữ Nhật rất chú ý đến bữa ăn hàng ngày của gia đình. Thực phẩm phải tươi, không ăn các thức ăn chế biến sẵn, phương pháp chế biến hấp và nướng là chủ yếu để giữ nguyên giá trị dinh dưỡng trong thực phẩm. Họ không thích uống các loại đồ uống có cồn và có đường. Đó chính là một trong những lý do khiến phụ nữ Nhật luôn mạnh khỏe và tràn đầy sức sống.
- Không ăn quá no: Phụ nữ Nhật kiểm soát chặt chẽ những món mà họ ăn và họ tâm niệm chỉ nên ăn no đến 80% thôi. Ngay cả khi mang thai, phụ nữ Nhật cũng kiểm soát chế độ ăn uống của mình. Vì vậy phụ nữ Nhật thích được đãi tiệc theo hình thức món ăn được bày trên đĩa bé xíu, nhằm khuyến khích mọi người nếm hết vị các món ăn mà không ăn quá nhiều.
- Đi bộ khắp nơi và tập Yoga:
Nhiều phụ nữ Nhật, tìm đến các trung tâm Yoga để tìm được khoảng thời gian riêng cho mình rất tuyệt vời. Với họ những giá trị tinh thần, sự điều độ, khoan dung là điều quan trọng. Họ rất thích các bài thiền, tìm đến sự tĩnh tại cần thiết sau những vội vã của công việc.
Tác phong của hầu hết phụ nữ Nhật là nhanh nhẹn và họ tranh thủ mọi thời gian để làm việc, tuy vậy không phụ nữ Nhật nào yên tâm giao việc nhà của mình cho người ngoài, họ không bao giờ tính đến chuyện thuê người giúp việc cho gia đình.
Không giống những quốc gia châu Á khác, giao thông công cộng ở đất nước này khá đắt đỏ và giao thông luôn đông đúc, vì vậy người Nhật thường chọn giải pháp đi bộ. Và có một thiết bị được sử dụng rộng rãi ở Nhật chính là máy đếm bước đi. "10.000 bước đi bộ mỗi ngày giúp bạn khỏe mạnh và có thân hình thon thả mà không cần thêm một bài tập thể dục nào hoặc chế độ ăn kiêng nào khác" là ý tưởng được khơi nguồn từ Nhật, năm 1965.
Và đi bộ cũng đã trở thành một trong những truyền thống của người Nhật, văn hóa đi bộ phát triển rất rầm rộ ở Nhật. Đó là một nét đẹp đồng thời rèn luyện sức khỏe hiệu quả.

Sưu tầm


Bài viết này được chỉnh sửa bởi tea: 04 July 2008 - 08:50 PM


#6
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
Chúng tôi đã quá may mắn khi được đến xứ sở của hoa anh đào - sakura đúng vào dịp cuối tháng tư, tháng nở rộ của loại"quốc hoa"này. Buổi chiều, tại vườn quốc gia Shinjuku Gyoen(Tokyo), nơi Thủ tướng Nhật vừa tổ chức chiêu đãi các vị khách ngoại giao buổi sáng, hoa nở như chưa bao giờ rực rỡ đến thế.

Posted ImagePosted Image

Người Nhật thường tụ tập, vui chơi dưới những tán anh đào tại Vườn quốc gia Shinjuku Gyoen.
Rất nhiều người Nhật và du khách đã đến đây để thưởng hoa với một sự trân trọng, kiên nhẫn và háo hức. Có cảm giác như cả nước Nhật nín thở chờ hoa nở, và mùa hoa anh đào chính là thời gian kỳ diệu nhất trong năm, thiêng liêng nhất trong năm.
Người Nhật thường tổ chức lễ hội mừng hoa khắp đất nước. Dưới gốc anh đào, thanh niên tổ chức cắm trại vui chơi, các cụ già ngồi uống rượu sakê... Những đôi trai gái yêu nhau dưới tán hoa, và có cảm giác như với họ, nụ hôn dưới hoa là nụ hôn tuyệt vời nhất... Trong quan niệm của người Nhật, sakura tượng trưng cho sắc đẹp, sự mong manh và trong trắng.
Hoa anh đào có hàng trăm loại nhưng tập trung vào 3 màu là trắng, hồng và đỏ. Thời gian từ khi nở đến khi tàn của một bông hoa anh đào thường kéo dài từ 7 đến 15 ngày. Tuỳ từng nơi mà hoa có thể nở sớm hơn hay muộn hơn. Ơ miền Nam ấm áp, hoa nở từ cuối tháng 1 trong nở vùng Hokkaido phía Bắc, hoa có thể khi vào tháng 5. Do vậy, người yêu hoa có thể theo hoa, ngắm hoa nở theo hành trình đi từ Nam lên Bắc trong vài tháng trời.
Ngắm hoa ở Nhật, chúng tôi lại chợt buồn nhớ đến"sự kiện hoa anh đào"tại lễ hội hoa anh đào Nhật Bản vừa diễn ra tại Hà Nội ngày 6.4 vừa qua. Những nam thanh nữ tú đất Hà Thành đã xô đẩy nhau và...vặt trụi những cánh hoa của ba cây anh đào(mà nhiều nghệ nhân đã mất nhiều thời gian để ghép từ 300 cành hoa). Chỉ trong chớp nhoáng, những cây hoa anh đào đã bị"tiêu diệt"gọn. Chứng kiến cảnh người Nhật yêu hoa bao nhiêu, lại thấy rầu lòng về cách ứng xử với hoa của những người VN (dù chỉ là số ít thôi)...

Posted Image

Yêu nhau dưới tán anh đào.

Posted Image

Chụp từ một gốc anh đào cổ thụ ở Tokyo.

Posted Image

Một cành hoa anh đào hồng.

Posted Image

Vườn quốc gia Shinjuku Gyoen.

Posted Image

Vườn quốc gia Shinjuku Gyoen.

Sưu tầm



#7
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
Toán học trong các ngôi đền Nhật bản:
Cách đây hàng trăm năm, những người dân ở Nhật cảm tạ thần linh bằng cách hiến tế một con ngựa hoặc lợn. Tuy nhiên, đây là những tài sản có giá trị nên những người dân nghèo gặp khó khăn khi muốn bày tỏ lòng thành của họ. Vì vậy họ nghĩ ra một giải pháp: thay vì hiến tế ngựa họ chỉ cần vẽ hình một con ngựa lên một cái bảng gỗ và treo nó trong đền thờ.

Posted Image

Đền thờ Kaizu Tenma - quận Shiga có một tấm sangaku chứa đến 30 bài toán. Nó rộng khoảng 25 cm và dài khoảng 518 cm. Ảnh: Fukagawa.
Sau đó một người, có lẽ là một võ sĩ Samurai khánh kiệt, nhận ra ngựa và lợn không phải là những thứ duy nhất có thể được vẽ trên một tấm bảng. Ông nảy ra ý tưởng vẽ một thứ thật nguyên bản, thật đẹp đẽ, một thứ thật sáng tạo. Và ông đã dâng lên thần linh môn toán học.
Hàng trăm bảng gỗ được sơn đẹp đẽ trên đó có những bài toán và các định lý hình học được dùng để trang hoàng những ngôi đền Nhật. Chúng được gọi là"sangaku"đơn giản nghĩa là các bảng toán học. Ký tự trên các bảng là một dạng chữ Trung Quốc cổ, loại ngôn ngữ của các học giả tương tự như chữ Latin ở phương Tây. Những bảng này chỉ mới được dịch sang những ngôn ngữ hiện đại trong vài mươi năm gần đây.

Posted Image

Tấm sangaku này được treo trong đền thờ Kinshouzan thuộc quận Gifu vào năm 1865. Trên đó là 12 bài toán hình học khác nhau. Bài toán thứ 3 từ bên phải sang là do một thiếu nữ 16 tuổi đưa ra. Ảnh: Fukagawa.
Một giáo viên toán người Nhật - ông Hidetoshi Fukagawa đã tìm kiếm dịch và nghiên cứu những tấm bảng này. Mùa xuân tới, Fukagawa và Tony Rothman - trường Đại học Princeton sẽ xuất bản toàn bộ lịch sử của sangaku, bao gồm những bức ảnh của nhiều tấm sangaku chưa từng được biết đến bên ngoài Nhật Bản.
Rothman cho biết:"Sangaku thật độc đáo. Chúng không chỉ đặc biệt đẹp mà những bài toán trên đó cũng thường đặc biệt khó. Và lời giải có thể rất thông minh. Một số những bước người ta dùng để giải các bài toán đó tôi chưa từng biết đến".
Những tấm sangaku được thực hiện trong suốt giai đoạn Nhật Bản gần như bị cô lập khỏi thế giới bên ngoài. Các nhà lãnh đạo Shogun(tướng quân) đã trục xuất các nhà truyền đạo nước ngoài và cấm dân Nhật rời khỏi đất nước khoảng đầu thế kỷ 17. Kết quả là một giai đoạn phục hưng diễn ra ở Nhật cùng với sự nở rộ những truyền thống văn hóa độc đáo như trà đạo, sân khấu rối và in trên khối gỗ.

Posted Image

Tấm này được tạo ra vào năm 1814 nhưng người ta chỉ phát hiện ra nó vào năm 1994 khi ngôi đền cất giữ nó sắp bị phá hủy.
(Ảnh: Fukagawa).
Cùng lúc đó, các Shogun thuyết phục các chiến binh Samurai hạ vũ khí và phục vụ chính quyền. Tuy nhiên, đồng lương còm cõi khiến các Samurai phải tìm những việc làm khác. Một trong những việc đó là đi dạy toán trong trường học. Bị cách biệt với sự phát triển của ngành toán học diễn ra ở phương Tây, những nhà toán học này và các sinh viên của mình tạo ra một loại hình học quốc nội với những đặc trưng Nhật Bản độc đáo. Chẳng hạn như nhiều bài toán được giải dựa trên thuật gấp giấy Origami hoặc quạt giấy. Đây là một ví dụ của một bài toán Sangaku. Vẽ một hình đa giác trong một hình tròn với mỗi góc của nó nằm trên đường tròn. Chọn một trong những đỉnh của đa giác và nối nó với các đỉnh khác, chia đa giác này thành nhiều hình tam giác. Trong những hình tam giác này, vẽ một đường tròn vừa chạm các cạnh của tam giác. Tổng số các bán kính của các hình tròn này sẽ là hằng số, không cần biết bạn chọn đỉnh nào.

Posted Image

Một tấm Sangaku cho thấy tổng số các bán kính của các đường tròn nhỏ trong mỗi hình vẽ này đều bằng nhau. Ảnh: Fukagawa.
Phần lớn các Sangaku chỉ đơn giản đưa ra định lý và cung cấp một biểu đồ, nhưng chúng lại thiếu chứng minh. Cách chứng minh trực tiếp nhất là dựa vào định lý Carnot, định lý này chỉ được chứng minh ở phương Tây khoảng 100 năm sau khi người ta làm ra những Sangaku. Rothman tin rằng những tấm Sangaku không chỉ là vật tế tôn giáo mà"đóng vai trò thử thách lòng can đảm của những người đứng ra giải bài toán".
Khởi đầu vào khoảng năm 1800, một số bộ sưu tập các bài toán Sangaku được chuyển thành sách, bao gồm cả bài giải vì vậy các nhà nghiên cứu biết được phương pháp giải gốc của nhiều bài toán. Nhưng hai tấm Sangaku vẫn chưa có lời giải cho đến ngày nay."Một trong những bài toán này có kết quả là một phương trình bậc 1024. Một nhà toán học sau này trở nên nổi tiếng vì giải xuống còn bậc 10, nhưng vẫn còn khó khăn phía trước. Chúng tôi không thể biết làm cách nào họ làm được điều đó".

Sưu tầm



#8
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
Lễ hội Ninja tại Nhật Bản:
Lễ hội Ninja hàng năm kéo dài từ ngày 1/4 đến ngày 6/5 tại thành phố Iga -một thành phố nhỏ cách Tokyo 450km. Đây được coi là quê hương của các Ninja - những gián điệp bí mật nổi tiếng thời xưa của xứ sở hoa Anh đào thu hút khoảng 30 nghìn khách du lịch đến thành phố này vào mỗi dịp lễ hội. Đây là cơ hội để tất cả mọi người, từ người già cho đến trẻ em diện trang phục của Ninja, trình diễn võ thuật, thi tài và thực hành các kỹ năng của một Ninja thực thụ.
Đến với thành phố Iga những ngày này, người ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh những Ninja ở khắp nơi: trên đường phố, trên xe bus, trong cửa hàng lưu niệm hay trên thực đơn của nhà hàng, trên các biển hiệu...Được biết, thành phố 100 nghìn dân này thu về gần 3 triệu USD mỗi năm từ những người yêu Ninja trong dịp lễ hội kéo dài 5 tuần vào tháng 4 hàng năm.

Posted Image

Các em nhỏ hào hứng với việc cải trang thành ninja và chụp hình lưu niệm. Lễ hội năm nay bắt đầu vào ngày 1/4 và kết thúc vào 6/5, với các màn trình diễn võ thuật ninja, các cuộc thi và nhiều cơ hội để du khách thử vài kỹ năng của các chiến binh.

Posted Image

Cả gia đình diện bộ đồ ninja đang xem bản đồ trong cuộc thi tìm hình nộm Ninja.

Posted Image

Một phụ nữ mặc quần áo và bịt mặt kiểu ninja đi trên tàu.

Posted Image

Một chú khuyển trong lễ hội Ninja.

Posted Image

Posted Image

Các màn trình diễn võ thuật Ninja.

Posted Image

Posted Image

Khách du lịch thích thú khi đi trên phố trong trang phục chiến binh.

Posted Image

Các cô các chị say sưa tập ném"Shuriken" - vũ khí bằng kim loại cán mỏng, hình ngôi sao với đầu sắc nhọn.

Posted Image

Hình ninja còn được sơn lên cả biển toilet.

Posted Image

Một chiếc tàu hoả được sơn theo tinh thần Ninja ở thành phố Iga - cách thủ đô Tokyo khoảng 450km.

Posted Image

Một màn biểu diễn lấy cảm hứng từ tinh thần thượng võ của thế giới Ninja.

Posted Image

Ông Motoharu Murai 55 tuổi cầm bức ảnh ông mình - một chiến binh Ninja.

Sưu tầm


Bài viết này được chỉnh sửa bởi tea: 03 July 2008 - 04:31 PM


#9
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
Khám phá cố đô Kyoto:
Kyoto hấp dẫn du khách bởi sắc màu cổ kính với kiến trúc đền đài đậm chất Nhật Bản. Những quán bar và cà phê hiện đại dường như mang lại hơi thở mới pha vào nét trầm mặc nơi đây.

Posted Image

Những ngôi đền và chùa lớn khiến Kyoto trở thành một trong những thành phố đẹp nhất Nhật Bản. Trong ảnh là đền Yasaka, thu hút hàng triệu du khách mỗi năm.

Posted Image

Pontocho Dori - con phố dài và hẹp như cảnh tượng trong một bộ phim của Nhật. Những chiếc đèn lồng và biển hiệu làm sáng lối di dọc những quán cà phê, nhà hàng và quán trà.

Posted Image

Bên trong quán bar và câu lạc bộ nhạc Jazz Majorica.

Posted Image

Bạn có thể thưởng thức các món ăn vặt ở quán rượu Zuzu. Hầu hết các món ở đây có giá dưới 10 USD.

Posted Image

Hoặc tụ tập với bạn bè trong quán bar Sri vào đêm cuối tuần.

Posted Image

Hay nhẹ nhàng thư giãn trong quán cà phê Efish bên bờ sông

Posted Image

Những chiếc cổng vòm ở đền Nanzen-ji, được coi là đẹp nhất và cũng là điểm thu hút du khách nhất ở Kyoto.

Posted Image

Một góc đền thờ Nanzen-ji.

Posted Image

Những tảng đá tròn được kê tạo thành lối đi trên mặt ao phẳng lặng trong đền Nanzen-ji.

Sưu tầm



#10
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
Bonsai handmade:
Màu sắc sặc sỡ hiện đại với chất liệu từ lõi thép, dây đồng và hạt cườm nhưng cổ điển và sang trọng nhờ sở hữu các thế, dáng theo phong cách Nhật Bản. Cây bonsai handmade rất đa dạng về mẫu mã và kiểu dáng.

Posted Image

Nguyên liệu để tạo ra những cây bonsai này rất đơn giản với sợi dây đồng trần, hạt cườm, lõi thép và một chiếc bình cùng đá trắng để làm đế. Đồng trần được mua với giá 150.000đ/kg còn hạt cườm cũng được mua theo cân. Những cây cảnh độc đáo này có giá thấp từ 80.000 đồng và cao nhất có thể lên tới hàng chục triệu đồng.
Hòa mới được đặt hàng một chậu hoa"khổng lồ"nhất. Số sợi đồng trần để làm ra nó là hơn 15kg. Hòa phải huy động 10 người xâu hạt, làm việc trong gần một tháng với. Sau đó, 4 nghệ nhân tạo dáng lên cây cũng vất vả sáng tạo trong gần một tuần. "Cây khổng lồ này phải làm khung thép rất kỳ công để có sự vững chắc. Sau đó, thế cây cũng phải được nghiên cứu kỹ, vừa có tính thẩm mỹ vừa đảm bảo độ chắc chắn theo nguyên tắc chịu lực" Hòa cho biết.
Hòa đang là sinh viên trường kiến trúc và cậu đã vận dụng những kiến thức về thiết kế và hiểu biết về bonsai Nhật Bản để tạo ra sản phẩm độc đáo. Trong dịp Tết vừa qua, các sản phẩm mai vàng và đào phai là đắt hàng nhất. Hiện tại, cậu còn làm thêm nhiều loại nữa như phong trắng, lan... với nhiều mẫu mã đa dạng.
Công đoạn xỏ hạt cườm vào sợi dây đồng được Hòa"nhờ vả"các bạn học ở trường. Còn thường tự mình lên dáng và tạo thế cho cây.Tuy vậy, khi có đơn hàng nhiều cậu vẫn phải nhờ thêm những người bạn thân nữa. Thời gian bảo hành cho sản phẩm là suốt đời vì theo Hòa, cây cảnh làm từ thép và đồng này có tuổi đời mãi mãi. Mới đây, Hòa vừa nhận đơn đặt hàng của một khách sạn lớn ở Hà Nội, với hàng trăm cây bonsai sẽ được bày ở phòng ăn. Nó làm các thực khách rất bất ngờ và nhận được sự ủng hộ của du khách ngoại quốc.
Việc đặt hàng khá đơn giản, khách hàng chỉ cần chọn mẫu, rồi hàng sẽ được chuyển tới tận nơi. Sắp tới, Hòa đang ấp ủ ý tưởng lập trang web để giới thiệu mẫu mã mới và mở rộng việc kinh doanh. Hiện tại, việc tiếp cận với khách hàng mới được thực hiện qua một diễn đàn rao vặt trên Internet.

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Sưu tầm



#11
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
Trà đạo - 1:
Trà đạo được biết đến như một loại nghệ thuật thưởng thức trà. Trong văn hóa Nhật Bản, Trà đạo được phát triển từ khoảng cuối thế kỷ 12.

Posted Image

Một Trà nhân đang pha trà.
Theo truyền thuyết Nhật: vào khoảng thời gian đó có vị cao tăng người Nhật là sư Eisai(1141-1215), sang Trung Hoa để tham vấn học đạo. Khi trở về nước, ngài mang theo một số hạt trà về trồng trong sân chùa. Sau này chính Eisai này đã sáng tác ra cuốn"Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký"(Kissa Yojoki), nội dung ghi lại mọi chuyện liên quan tới thú uống trà.
Từ đó, dần dần công dụng giúp thư giãn lẫn tính hấp dẫn đặc biệt của hương vị trà đã thu hút rất nhiều người dân Nhật đến với thú uống trà. Họ đã kết hợp thú uống trà với tinh thần Thiền của Phật giáo để nâng cao nghệ thuật thưởng thức trà, phát triển nghệ thuật này trở thành trà đạo(chado), một sản phầm đặc sắc thuần Nhật.
Từ uống trà, cách uống trà rồi nghi thức uống trà cho đến trà đạo là một tiến trình không ngưng nghỉ mà cái đích cuối cùng người Nhật muốn hướng tới đó là cải biến tục uống trà du nhập từ ngoại quốc trở thành một tôn giáo trong nghệ thuật sống của chính dân tộc mình, một đạo với ý nghĩa đích thực của từ này. Hiển nhiên ở đây trà đạo không đơn thuần là con đường, phép tắc uống trà mà trên hết là một phương tiện hữu hiệu nhằm làm trong sạch tâm hồn bằng cách hòa mình với thiên nhiên, từ đó tu tâm dưỡng tính để đạt giác ngộ.
- Lịch sử:
. Giai đoạn 1:
Vào thế kỷ thứ 8-14 trà bắt đầu được sử dụng phổ biến trong tầng lớp quý tộc. Lúc đó có các cuộc thi đấu đoán tên trà. Văn hóa uống trà giai đoạn đó giống như những trò chơi xa xỉ và các người quý tộc rất thích dụng cụ uống trà Trung Quốc.
Trong hoàn cảnh như vậy, có một nhà sư tên là Murata Juko tìm thấy vẻ đẹp giản dị trong văn hóa uống trà. Ông đến với trà với tư cách là một nhà sư, rất coi trọng cuộc sống tinh thần. Trà đạo ra đời như thế.
Juko yêu cái đẹp"wabi" và "sabi".
Tuy nhiên, trà đạo vẫn còn chưa được nhiều người biết đến, người kế nghiệp tiếp theo là Takeno Jyoo.
Jyoo quan niệm: "Mặc dù xung quanh chúng ta chẳng có gì cả: không hoa, không lá; nhưng có cảnh hoàng hôn chiều tà với một mái nhà tranh."
. Giai đoạn 2:
Sau thời Jyoo thế kỷ 16 là Senno Rikyu. Ông mới là người đưa ra bước ngoặt quan trọng, tạo nên một nền văn hóa trà đạo trong giới võ sĩ(samurai). Senno Rikyu đã là thầy dạy trà đạo cho Oda Nobunaga (Shogun - người đứng đầu giới võ sĩ) của thời Azuchi. Sau khi Oda Nobunaga chết, Toyotomi Hideyoshi lên(thời Momoyama) thì Senno Rikyu tiếp tục dạy cho ông này. Như vậy, hoạt động của Senno Rikyu khá phổ biến và có ảnh hưởng sâu rộng trong tầng lớp võ sĩ, ảnh hưởng mạnh đến chính trị thời đó.

Posted ImagePosted ImagePosted Image

Đông Honganji.
Cùng thời với Senrikyu, còn có Yabunnouchi Jyochi, cũng là học trò của Takeno Jyoo. Yabunouchi Jyochi là trà sư của chùa Honganji - ngôi chùa lớn nhất ở Nhật Bản. Yabunouchi chú trọng vào việc thực hành Trà đạo ở chính bản thân mỗi người.
Ngoài ra còn có nhiều trà nhân khác nữa. Mỗi trà nhân đều pha trà theo cách riêng của mình. Nếu các phái khác nhau cũng chỉ khác nhau ở trên bề mặt nghi thức pha trà, còn đạo là duy nhất.
. Giai đoạn 3:
Trà đạo trong thời hội nhập
Trà đạo hiện nay cũng dần được biến đổi, trong mỗi phòng trà đều có một số bàn ghế gỗ cho khách ngồi.
Nếu như khách không thể quen với kiểu ngồi truyền thống của Nhật thì sự biến đổi này cho phép người phương Tây với thói quen hiện đại cũng có thể tham gia được những buổi trà đạo mà không hề làm mất đi không khí tôn nghiêm trong phòng uống trà.
Dần dần, trà đạo được đưa vào phòng khách theo phong cách phương Tây. Người đến không cần phải gò bó theo kiểu ngồi hay cách uống trà của người Nhật vẫn có thể mặc áo theo kiểu Tây phương.
. Trà thất:
Trà thất là một căn phòng nhỏ dành riêng cho việc uống trà, nó còn được gọi là"nhà không".
Đó là một căn nhà mỏng manh với một mái tranh đơn sơ ẩn sau một khu vườn. Cảnh sắc trong vườn không loè loẹt mà chỉ có màu nhạt, gợi lên sự tĩnh lặng.
Trong khu vườn nhỏ có thể bố trí một vài nét chấm phá để tạo nên một ấn tượng về một miền thung lũng hay cảnh núi non cô tịch, thanh bình.
Nó như một bức tranh thủy mặc gợi lên bầu không khí mà Kobiri Emshiu đã tả:
Một chòm cây mùa hạ,
một nét biển xa,
một vừng trăng chiếu mờ nhạt.
Trên con đường dẫn đến trà thất, có một tảng đá lớn, mặt tảng đá được khoét thành một cái chén đựng đầy nước từ một cành tre rót xuống. Ở đây người ta"rửa tay"trước khi vào ngôi nhà nằm ở cuối con đường, chỗ tịch liêu nhất:
Tôi nhìn ra,
không có hoa,
cũng không có lá.
Trên bờ biển,
một chòi tranh đứng trơ trọi,
trong ánh nắng nhạt chiều thu.
Ngôi nhà uống trà làm bằng những nguyên liệu mong manh làm cho ta nghĩ đến cái vô thường và trống rỗng của mọi sự. Không có một vẻ gì là chắc chắn hay cân đối trong lối kiến trúc, vì đối với thiền, sự cân đối là chết, là thiếu tự nhiên, nó quá toàn bích không còn chỗ nào cho sự phát triển và đổi thay. Điều thiết yếu là ngôi trà thất phải hòa nhịp với cảnh vật chung quanh, tự nhiên như cây cối và những tảng đá.
Lối vào nhà nhỏ và thấp đến nỗi người nào bước vào nhà cần phải cúi đầu xuống trong vẻ khiêm cung, trong khi người võ sĩ đạo thì phải để lại bên ngoài cây kiếm dài.
Ngay trong phòng trà cũng ngự trị một bầu không khí lặng lẽ cô tịch, không có màu sắc rực rỡ, chỉ có màu vàng nhạt của tấm thảm rơm và màu tro nhạt của những bức vách bằng giấy.
. Tokonoma:
Tokonoma là một góc phòng được trang trí và hơi thụt vào trong so với vách tường. Tokonoma là một trong bốn nhân tố thiết yếu tạo nên phòng khách chính của một căn nhà. Bản thân từ"tokonoma"ám chỉ góc phòng thụt vào hoặc căn phòng có góc như nó.
Có một vài dấu hiệu để biết đâu là tokonoma. Thông thường, có một khu vực để treo tranh hoặc một bức thư pháp. Hay có một cái giá nhỏ để đặt hoa, có thể là một chiếc bình, có thể nhìn thấy một hộp hương trầm.
Một gia đình truyền thống Nhật có nhiều cuộn giấy và các vật dụng khác mà họ trưng bày ở tokonoma tuỳ từng mùa hoặc ngày lễ gần nhất.
Khi bước vào một trà thất, người ta thường quỳ và ngắm tokonoma một lát. Cũng có thể xem các vật được trưng bày.
Thiền gây ảnh hưởng đến tokonoma lẫn chabana...chỉ khi chúng ta chú tâm đến những chi tiết nhỏ bé trong cuộc sống thì mới thấy vẻ đẹp trong những điều giản dị.
. Chabana:
Chabana là phong cách cắm hoa đơn giản mà thanh lịch của Trà đạo, có nguồn gốc sâu xa từ việc nghi thức hoá Ikebana. "Cha"theo nghĩa đen là"trà"và "ban" biến âm của từ hana có nghĩa là"hoa".
Phong cách của chabana là không có bất kỳ qui tắc chính thức nào để trở thành chuẩn mực cho nghệ thuật cắm hoa trong trà thất.
Hoa thể hiện tình cảm của chủ nhà trong một buổi tiệc trà. Hoa được cắm trong một chiếc bình hoặc một cái lọ mộc mạc với phong cách thay đổi theo mùa.
Lọ hoa có thể được làm từ bất kỳ chất liệu nào, từ đồng, gốm tráng men hoặc không tráng men, cho đến tre, thuỷ tinh và các vật liệu khác.
Khi cắm hoa cho một bữa tiệc trà, đầu tiên chủ nhà phải chọn hoa và lọ tương ứng. Hoa trong phòng trà gợi được cho người ngắm cảm giác như đang đứng giữa khu vườn tự nhiên.
. Kakejiku:
Kakejiku có thể là một bức tranh treo tường, một bức thư pháp hoặc là sự kết hợp cả tranh và chữ(thư họa) ở tokonoma. Những bức thư pháp treo tại tokonoma thường mang nghĩa sâu xa có thể là một công án Thiền tông. Chẳng hạn:
"Bình thường tâm thị đạo"
hoặc đơn giản chỉ là một chữ
"Vô"

Sưu tầm



#12
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
Trà đạo - 2:
Ngày nay nhắc đến Trà, nhiều người nghĩ ngay đến Trà đạo Nhật Bản, dù không phải ai cũng đã từng được xem pha trà hay được thưởng trà đạo Nhật. Thế thì thực chất Trà Đạo Nhật Bản là gì? Nó có gì khác biệt so với Trà sen - Việt Nam, Panyaro - Hàn Quốc và Gongfucha - Trung Quốc?

Posted Image

- Lịch sử Trà Đạo Nhật bản:
Từ Trung Hoa đại lục trà du nhập vào nhiều nước, trong đó có Nhật Bản nhưng Trà Đạo xuất hiện là từ nhu cầu tâm linh của người dân nước này. Theo cuốn Nhật Bản những điều cần biết thì:
Sự khởi đầu của nghành sản xuất trà Nhật Bản là vào năm 1191 khi nhà sư EiSai gieo trong vườn chùa những hạt giống trà mà ông đã mang về từ Trung Quốc. Rồi sư EiSai đã khuyến khích nông dân, phật tử tại nhiều vùng khác nhau trồng trà. Cùng lúc, ông cũng tuyên truyền quảng bá những lợi ích về mặt y học của việc trồng trà. Thực ra vào thời đó, ở Nhật Bản cũng đã có cây trà hoang mọc rải rác nhiều nơi nhưng chất lượng kém nên không được dùng đến còn trà từ những hạt giống do nhà sư EiSai mang về được người Nhật gọi là:"trà chính gốc".

Posted Image

Trong vòng 500 năm kể từ khi nhà sư EiSai mang giống trà từ Trung Quốc về trồng, trà chỉ thường dùng dưới dạng bột tức là trà Matcha - 1 loại trà chủ yếu dùng trong Trà Đạo. Từ đó có thể nói Trà Đạo đã manh nha tại Nhật Bản vào những năm của thế kỉ XII. Nhưng sau đó hơn 400 năm tiếp theo, những thủ tục mới được dần hoàn thiện và phổ biến rộng rãi. Vào cuối thế kỉ XVI, Trà đạo đã được Trà sư Sen no Rikyu hoàn thiện. Chính Sen no Rikyu là người đầu tiên làm 1 cuộc cải cách về phương tiện uống trà: các"Trà cụ"quý hiếm đắt tiền đã được ông bỏ đi và thay vào đó là những ấm, chén, bình, nồi bình dân để bất cứ người dân nào ở Nhật cũng có thể đến với Trà Đạo. Đến đầu thế kỉ XIX, tức là cuối thời kỳ Edo(1603-1868) văn hóa Trà Nhật đã thực sự phát triển rộng khắp, việc uống trà đã thực sự phổ biến trong mọi tầng lớp nhân dân với hàng loạt tiệm trà mọc lên như nấm.
Trong lịch sử Trà Đạo Nhật Bản, người ta thường nhắc đến Sen no Rikyu và So Ami - 2 bậc khai sáng ra Trà đạo vào thế kỉ XVI. Đến thế kỉ XVII thì người nối tiếp công việc và chấn hưng tinh thần Trà đạo mạnh mẽ nhất, được người Nhật biết đến nhiều nhất phải kể đến trà sư Furuta Oribe. Ông là bậc thầy Trà đạo vào thế kỉ này, đã đem sự tinh tế của Trà đạo hòa vào mạch sống của quần chúng. Sự tinh tế và tính quần chúng trong Trà Đạo vào thời kỳ này đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống văn hóa, tinh thần và đời sống tâm linh sâu sắc của người Nhật sau này.
- Nghệ thuật Trà đạo:
Nghi thức được bắt đầu cử hành tại một phòng trà đơn giản nhưng trang nhã gọi là"Trà thất"(Tea House), chỗ đi vào phòng trà là một cửa thấp được che bằng rèm. Sở dĩ cửa được làm thấp, là để xóa đi rào cản sang hèn trong xã hội, ai cũng phải cúi mình cung kính bước vào phòng, và người chủ thì quỳ phía trước để nghênh tiếp và biểu lộ sự tôn kính với khách.
Trong phòng trà, trên bốn bức tường người ta thường treo những bức thư pháp, những chiếc quạt giấy kiểu Nhật, những bức tranh thủy mặc có cả những bình hoa được cắm tỉa để trang trí và cũng là một vật để biểu hiện sự chào đón của chủ đối với khách. Tất cả được trang trí hài hòa, đẹp mắt trên bốn bức tường tạo cảm giác êm ả, ấm cúng cho người thưởng thức trà.
Phòng trà không có ghế ngồi mà chỉ có chiếc bàn thấp, có chiều cao độ khoảng 30 cm. Người uống trà phải xếp bằng trên"Tọa cụ" - đây là loại nệm ngồi mà những người tọa thiền thường sử dụng. Trên bàn trà được đặt 1 lư đốt trầm bằng gốm đỏ, 1 cái đèn giấy kiểu Nhật chỉ đủ tỏa ánh sáng vừa đủ cho bàn trà. "Trà cụ"được bày ra trên bàn gồm có: ấm, chén, bình đựng trà, bình chuyên, bình hãm trà, bếp lò than, nồi châm trà, gáo pha trà và đồ gạt trà.
Trước hết, phải đun nước bằng bếp lò than, bằng kinh nghiệm những Trà nhân sau khi nhận biết nước trong nồi đun vừa đủ độ nóng thích hợp để pha trà(khoảng 60OC), bằng động tác thuần thục họ mới bắt đầu tráng ấm chén, rồi bỏ trà vào ấm. Tiếp theo họ mới nhẹ nhàng dùng 1 chiếc gáo bằng gỗ múc nước trong nồi đun chế vào ấm trà. Sau khi hãm trà trong vài phút để trà được hòa vào nước mà vẫn giữ nguyên phẩm chất và hương vị của nó, họ cẩn thận rót vào bình chuyên rồi từ bình chuyên mới châm trà vào chén. Việc cuối cùng là đặt những chén trà lên bàn, mời khách dùng trà với 1 cung cách lễ phép kiểu Nhật.
Khách uống trà phải dùng hai tay nâng bát trà, đưa bát trà từ trái qua phải một vòng, và nhất định trong vòng ba ngụm phải uống hết. Ngụm cuối cùng nên có kèm theo một tiếng"khà"nho nhỏ để biểu thị sự tán thưởng khen ngợi.

Posted Image

Toàn bộ nghi thức Chanoyu cổ truyền cần từ 3-4 tiếng, gồm bốn giai đoạn:
Bước đầu tiên được gọi là"Hoài thạch": sau khi những người khách đã an vị, chủ nhà sẽ mời khách dùng một ít thức ăn điểm tâm( thường là bánh).
Bước thứ hai là"Trung lập": khách sau khi dùng món điểm tâm xong sẽ đi xuống Trà đình và ngồi nghỉ tại đó.
Sau đó là"Ngự tòa nhập": lúc này khách sẽ được dâng trà đặc. Và cuối cùng là dùng"Trà loãng".
Ngày nay có rất nhiều cuộc trà, và người ta đã đơn giản hóa nó đến mức chỉ còn bước cuối cùng. Hơi tiếc cho chúng ta, phải không? Hy vọng 1 ngày nào đó ta được dự một nghi thức Chanoyu đúng phong cách cổ truyền.
- Nghệ thuật Trà đạo có 4 đức tính cao quý là:"Hòa, Kính, Thanh, Tịch".
. Hòa: hòa là hòa đồng, hòa điệu và hòa nhã. Đến với nghệ thuật Trà đạo cần thể hiện sự hòa nhã, lễ độ, trong buổi uống trà nên cùng nhau hòa điệu để chia sẻ cảm thông với nhau, đối với cảnh vật xung quanh chúng ta nên hòa đồng.
. Kính: đức tính"kính"trong Trà đạo thể hiện qua hành vi kính trọng, lễ kính. Nó sẽ làm con người biết nhún nhường nhau, từ đó nết hạnh sẽ nảy nở trong lòng mọi người.
. Thanh: thanh trong Trà đạo được hiểu là trong sạch. Một ly nước cáu bẩn nhiều để lâu ngày chất bẩn lắng xuống, nó sẽ trong sạch. Điều này cũng giống như con người nếu lắng tâm yên tĩnh nhiều ngày, tâm hồn sẽ trở nên thanh tịnh.
. Tịch: Tịch có nghĩa là sự vắng lặng, tĩnh lặng. Chính sự tĩnh lặng mới khiến tâm trong sáng (thanh) từ đó là động cơ để phát khởi 2 đức tính:"kính"và"hòa".
- Nghệ thuật Trà Đạo còn có 7 quy tắc:
. Trà cần đậm nhạt vừa miệng.
. Lửa to nhỏ vừa phải.
. Tùy theo thời tiết bốn mùa mà để cho độ nóng của trà thích ứng theo.
. Hoa cắm trong phòng phải tươi mới.
. Người đến thưởng trà phải đến sớm( thông thường là khoảng 20-30 phút so với thời gian được mời).
. Bất luận trời mưa hay nắng cũng phải mang áo mưa theo.
. Quan tâm chu đáo đến khách, kể cả khách của khách.
Từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc, xuyên suốt cả buổi lễ là một tinh thần đầm ấm hòa hoãn và thân mật, đem lễ nghi để đãi khách - đó là phong cách của dân tộc Nhật Bản.
- Trà trong đời sống của người dân Nhật Bản:
So với nhiều nước Á Đông - Nhật Bản được xem là 1 trong những nước tiêu thụ sản lượng trà lớn nhất trong khu vực. Người Nhật uống rất nhiều trà vào nhiều buổi trong 1 ngày. Họ có thói quen dùng 1 chén trà vào mỗi buổi sáng sau khi thức dậy cho tỉnh ngủ, 1 chén trà trước khi bắt tay vào công việc, vài ba chén trà vào buổi chiều và ít nhất là 1 chén trà sau mỗi bữa ăn. Ngoài ra trong đời sống hằng ngày của người Nhật, việc dùng trà cũng đã trở thành tập tục trong giao tiếp đối đãi nhau.
Trong tiếng Nhật, trà được phiên âm là"Cha". Trà xanh gọi là"Ocha" và trà đỏ gọi là"Kocha". Ở Nhật có rất nhiều loại trà xanh, nó được trồng tập trung tại những khu vực có khí hậu ấm trong đó trà của tỉnh Shizuoka chiếm đến 1 nửa tổng sản lượng trà của toàn nước Nhật.
Tại Nhật Bản, trà thành phẩm dùng để làm thức uống phổ biến cơ bản cũng chỉ có 3 loại: trà Gyokuro(Trà cao cấp), trà Sencha(trà trung cấp) và trà Bancha(trà thứ cấp). Bên cạnh đó, người Nhật còn chế biến ra 1 loại trà bột có tên là Matcha chủ yếu chỉ để dùng trong Trà Đạo.
Khi uống loại trà bột Matcha này, người ta cho bột trà sẵn trong ly đổ nước vào rồi dùng 1 dụng cụ bằng tre khuấy lên cho đều.

Posted Image

Việc hái trà được thực hiện vào đầu tháng 5, loại trà hái vào thời điểm này được gọi là Ichibancha( nghĩa là"trà nhất"), loại trà hái vào cuối tháng 6 gọi là Nibancha(nghĩa là"trà nhì") và loại trà hái cuối mùa vào cuối tháng 7 gọi là Sanbancha(nghĩa là"trà ba"). Theo chuyên môn thì càng vào đầu mùa, thành phần trà có nhiều axit amin nên có vị thanh. Khi trà về cuối vụ nó có nhiều tanin nên sẽ bị vị chát.
Để có 1 tách trà ngọn, nhất là đối với người sành điệu trong việc thưởng thức trà Nhật, người ta ít khi dùng loại nước có nhiều thành phần khoáng chất như muối,sắt,canxi...để pha trà mà dùng loại nước"mềm", tức là loại nước được lấy ra từ những dòng suối trong vắt từ nơi khe núi chảy ra.
Khi uống trà đỏ(trà Kocha) người Nhật ít khi uống riêng nó mà thường pha thêm các chất như đường, sữa, chanh, rượu brandy...tạo thành 1 loại trà hỗn hợp có đặc vị riêng. Ngược lại, đối với trà xanh(trà Ocha) người Nhật chỉ uống riêng mà không dùng với bất kỳ thức uống nào kèm theo. Đó là để giữ cho hương vị thơm ngon của trà được thuần khiết, cũng như bảo đảm màu xanh hấp dẫn của trà.

Posted Image

Ngày nay, người Nhật cũng đã có thêm nhiều cách pha trà như Đại Bao trà(đó là loại trà được bọc trong túi giấy như trà Lipton), Tốc Dục trà(trà pha nhanh, chỉ cần bỏ trà vào nước sôi là uống được ngay), Băng trà(trà lạnh), Hương Liệu trà(trà ướp tẩm hương),Trung Dược trà(trà được trộn với thuốc Bắc)...Tuy nhiên những cách pha trà này đều không đặc biệt như Trà đạo. Tại Nhật Trà đạo đã đi vào đời sống tinh thần của mỗi người dân, gắn bó hòa quyện với nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp khác.

Sưu tầm


Bài viết này được chỉnh sửa bởi tea: 04 July 2008 - 11:18 PM


#13
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
Rượu Sake - một nét văn hoá ẩm thực của người Nhật Bản:
Sake là loại rượu truyền thống của người Nhật. Xuất hiện từ khoảng 2000 về trước - Sake là loại thức uống chuyên dành cho các nghi lễ của Thần Giáo Nhật Bản, dần dần được sản xuất để tiêu dùng và xuất khẩu đi các nước. Hiện nay, Sake là một trong những sản phẩm nông nghiệp của Nhật Bản được sản xuất và tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Posted ImagePosted ImagePosted ImagePosted Image

Không như nhiều người lầm tưởng rượu Sake hoàn toàn không có dính dáng gì với cây Sakê, một loại cây cùng họ với mít mọc rãi rác khắp Việt Nam. Nguyên liệu để làm rượu Sake là gạo mốc vàng, men bia và nước, cách làm cũng tương tự như cách làm rượu của người Việt Nam. Nhưng việc lựa chọn loại gạo, men, nguồn nước, cách ủ.... là yếu tố quyết định đối với chất lượng của rượu Sake. Và mỗi nơi có một bí quyết tạo cho rượu Sake có hương vị đặc trưng. Đến nay, người ta ước tính có khoảng 10.000 loại rượu Sake được sản xuất tại Nhật Bản.
Sake là một phần của các nghi lễ Thần Giáo, trong lễ cưới cô dâu và chú rễ cùng nhau uống 9 ly rượu Sake như là lời ước nguyện trăm năm. Trong hầu hết các vật dụng để uống rượu Sake đều có hình mặt trăng - một trong những biểu tượng quan trọng của Thần Giáo. Sake thường được uống trước bữa ăn. Người Nhật Bản thường không ăn các món ăn làm từ gạo nếu trong bữa đã dùng rượu Sake.
Theo truyền thống, khi uống Sake cũng phải cần có vật dụng và nghi lễ riêng. Một nguyên tắc quan trọng là khi uống Sake là người uống không tự rót rượu. Thay vì vậy, một người trong bàn rót rượu cho mọi người hay mọi người rót rượu cho nhau. Người rót cầm bình bằng hai tay và người nhận nâng ly bằng một tay, tay kia đỡ nhẹ đáy ly.
Người ta có thể uống Sake ấm, uống nóng hay uống lạnh tuỳ theo khẩu vị hay theo thời tiết, uống riêng hoặc thậm chí có thể pha với nhiều loại thức uống khác như rượu gin, bia, nước ép hoa quả... Điều quan trọng là không có nguyên tắc nào trong việc pha chế hay uống nóng hoặc uống lạnh. Một ngày nào đó bạn nổi bỗng hứng muốn uống Sake pha với rượu Ba Chúc cũng không sao! Chưa biết chừng bạn sẽ phát minh ra một cách uống Sake đặt biệt nhất.

Posted ImagePosted Image

Ra đời cùng với nghi lễ, uống trà, cắm hoa, uống rượu Sake thời Murômi Chi(1933-1573) là một trong những nét đặc trưng nhất của Nhật Bản
Ngày xưa ở Nhật Bản có ba trường phái uống Sake:
Trường phái quý tộc thì xem ai sành nếm rượu, trường phái võ sĩ chú ý làm đúng nghi lễ, trường phái thương nhân nhằm bày tỏ lòng hiếu khách. Sake có độ cồn 22o vào loại cao so các loại rượu trên thế giới.
Rượu Sake thường được đun nóng đựng trong vò hoặc lọ bằng gốm. Sake thường được uống trong khi giải trí như ngắm trăng, xem tuyết, ngắm hoa Anh đào...
Nếm Sake là một nghệ thuật tinh tế. Xưa kia thường có tục thi nếm Sake để biết rượu ở đâu làm... Ngày nay, những người sành rượu có thể đánh giá được chất lượng của Sake. Họ rót rượu vào một cái chén bằng sứ trắng ở đó có vẽ hai vòng tròn xanh thẫm lồng nhau tượng trưng cho mắt rắn. Đánh giá rượu Sake theo ba bước: nhìn để đánh giá độ trong, màu sắc, ngửi đánh giá hương vị và nếm. Ngôn ngữ Nhật Bản có 20 tính từ đánh giá độ trong và màu sắc rượu, 80 từ đánh giá về hương và có hơn 70 từ đánh giá về chất lượng Sake khi nếm. Loại rượu Sake quý nhất là Ghiugiô, có hương vị thơm thoảng như táo, chuối, dứa. Trước đây Ghiugiô sản xuất ít thường được sử dụng trong những đợt thi nếm. Ngày nay do cạnh tranh với bia, Whisky, rượu vang, Ghiugiô được sản xuất nhiều hơn. Hương vị đặc biệt, rượu Sake đã trở nên nổi tiếng trên thế giới, trong khu vực là một biểu tượng của đời sống văn hóa tương đối cầu kỳ nhưng tinh tế của người Nhật.
Một sự khác biệt giữa cách uống rượu của nguời Nhật và người Việt là trong khi người Việt mình không cho đá vào rượu thì người Nhật lai thường cho đá và nước hòa rượu trước khi uống. Và người Nhật cũng ít khi uống kiểu xoay vòng 100 % như ở Việt Nam mình.

Sưu tầm



#14
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
Kiếm Nhật - 1:
Hình ảnh những chàng võ sĩ Samurai tả xung hữu đột đã rất đỗi quen thuộc với nhiều người và thanh kiếm Nhật trong tay các Samurai cũng nổi tiếng trên toàn thế giới bởi nó không chỉ là vũ khí hữu hiệu mà còn là những tác phẩm nghệ thuật đích thực.

Posted Image

- Sách sử ghi lại: thanh kiếm Nhật Bản(tiếng Nhật: nihonto) có nguồn gốc từ thế kỷ 8. Những thanh kiếm Nhật Bản đặc biệt gây ấn tượng và được chú ý vì nghề luyện thép của Nhật Bản sớm đạt kỹ thuật điêu luyện và vì kiếm Nhật có hình dáng thanh nhã, những đường gờ, vân và nước thép tuyệt vời. Trong suốt hơn 12 thế kỷ, thanh kiếm có ý nghĩa tinh thần vô cùng to lớn đối với người Nhật. Cùng với gương và bảo ngọc, nó là một trong 3 biểu tượng của Hoàng gia.

Posted Image

Để làm ra thanh kiếm vừa là vũ khí vừa là một hình thức nghệ thuật cần có 2 điều kiện:
Phải có thời gian ổn định đủ để các thợ rèn kiếm chuyên tâm vào công việc của mình.
Phải tồn tại sự bất ổn đủ để tạo ra nhu cầu về kiếm. 500 năm đầu tiên trong lịch sử thanh kiếm Nhật Bản hội tụ cả hai điều kiện này. Hầu hết những trận chiến huyền thoại xảy ra vào thời gian đó.
Truyền thuyết Nhật Bản kể rằng người thợ rèn kiếm tài ba Amakuni vào khoảng năm 720 sau công nguyên chính là người đã sáng tạo ra thanh kiếm đặc thù Nhật Bản: kiếm dài 1 cạnh sắc, cong và cầm bằng hai tay. Trước đó, các thanh kiếm ở Nhật đều là bắt chước kiếm của Trung Quốc và Triều Tiên: cũng là loại cầm bằng hai tay nhưng thẳng và có 1 hoặc 2 cạnh sắc.

Posted Image

- Nghề rèn kiếm của Nhật Bản rất được kính trọng. Xưa kia, những thợ rèn kiếm thường là yamabushi, tức là thành viên của giáo phái Shugendo theo lối sống khắc kỷ và hoàn toàn thờ phụng tôn giáo. Có gần 200 trường dạy nghệ nhân rèn kiếm trên toàn Nhật Bản, mỗi trường có lịch sử và những đặc điểm riêng rõ rệt.
Kỹ thuật luyện thép được đưa vào Nhật Bản khoảng thế kỷ 3 đến thế kỷ 5 sau công nguyên và ngay từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 10 Nhật Bản đã làm ra những lưỡi kiếm cực kỳ sắc bén. Sau khi luyện, thép kawagane được quai búa nhiều lần thành các tấm thép mỏng sau đó làm cho cứng lại đập thành những miếng nhỏ như đồng xu rồi được rèn thành loại thép shingane không bị giòn nên khó bị gãy hơn. Quy trình rèn nhiều lần như vậy tạo ra lưỡi kiếm Nhật Bản có chất lượng độc đáo với những đường vân giống như gỗ.
Nước thép của lưỡi kiếm sau khi tôi(hamon) là một trong những đặc điểm đẹp nhất và dễ nhận thấy nhất của thanh kiếm đồng thời cũng là phần quan trọng để xác định nguồn gốc thanh kiếm. Nói chung mỗi trường hoặc mỗi người thợ rèn áp dụng một kiểu tôi kiếm riêng.

Posted Image

Lưỡi kiếm Nhật Bản được phân loại theo độ dài. Đơn vị đo là shaku(tương đương 30cm):
Taito(trường kiếm, tức kiếm tachi hoặc katana) có độ dài hơn 2 shaku.
Shoto(đoản kiếm, tức kiếm wakizashi) có lưỡi dài trong khoảng từ 1 đến 2 shaku. Lưỡi kiếm tanto thường ngắn hơn 1 shaku.

#15
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
Kiếm Nhật - 2:
- Quá trình lịch sử của kiếm Nhật Bản như sau:
Kiếm cổ koto được phát hiện trong các ngôi mộ cổ từ thời kỳ Kofun(năm 300-710) và đều bị rỉ sét. Các thanh kiếm cổ này nói chung có lưỡi gần như thẳng với mũi kiếm nhỏ vát nhọn. Kiếm của thời Nara(710-794) và đầu thời Heian(794-1185) cũng tương tự những kiếm tìm thấy trong các ngôi mộ kể trên, nhưng các thanh kiếm này ngắn hơn và nhẹ nên có lẽ dùng để đâm chứ không phải để chém. Từ khoảng thế kỷ 9 và thế kỷ 10, các lưỡi kiếm được làm dài hơn với hình hơi cong và có đường gờ ở hai bên, trở thành vũ khí hiệu quả cho các chiến binh cưỡi ngựa.

Posted Image

Chất lượng kiếm được cải thiện rất nhiều vào giữa thời Heian và đầu thời Kamakura(khoảng thế kỷ 10 đến đầu thế kỷ 13) khi kiếm được sử dụng nhiều hơn. Kiếm thời Kamakura(tachi) là loại có chất lượng cao nhất, cả về tính nghệ thuật và kỹ thuật với những thợ rèn tên tuổi như Muramasa và Masamune. Hầu hết các thanh kiếm bảo vật quốc gia của Nhật Bản đều là những thanh kiếm của thời kỳ này. Do những cải tiến về áo giáp, kiếm phải dài hơn và nặng hơn. Những thanh kiếm cuối thời Kamakura thường dài từ 1m đến 1,5m, và thường chỉ do những võ sĩ cưỡi ngựa sử dụng.

Posted Image

Sau đó người ta làm nhiều thanh kiếm ngắn hơn để đánh giáp lá cà.
. Trong thời Muromachi(1333-1568) vì xung đột kéo dài và chiến tranh liên miên, sản xuất kiếm tăng lên về số lượng nhưng chất lượng lại giảm sút, kiếm trở nên nặng hơn to bản hơn, ít cong và ngắn đi rất nhiều với mục đích có thể chém được các loại giáp dày. Loại lưỡi kiếm mới này gọi là katana và dài chừng 60cm. Tiếp đến xuất hiện loại lưỡi ngắn hơn gọi là wakizashi.
. Trong thời Azuchi-Momoyama(1568-1600) và thời Edo(1600-1868) nhiều thợ rèn mở trường mới và người ta chú ý đến những kỹ thuật rèn kiếm thời Kamakura đã thất truyền rất nhiều. Họ cố gắng bắt chước những thanh kiếm đó nhưng bị hạn chế bởi chỉ có nhu cầu về kiếm đánh giáp lá cà. Nhiều chiếc kiếm thời kỳ này có nước thép tôi tuyệt vời, thép rèn kỹ lại được chạm khắc đẹp. Bao kiếm, chuôi và dây đeo cũng được trang trí cầu kỳ.
. Những năm từ 1800 đến cuối thời Edo được gọi là thời kỳ Shinshinto(tân tân kiếm) trong lịch sử thanh kiếm Nhật Bản. Đây là thời kỳ phục hưng ngắn, được đánh dấu bằng nỗ lực cuối cùng nhằm hồi sinh vẻ đẹp và chất lượng của kiếm cổ.
. Năm 1868 - Nhật Hoàng Minh Trị ban hành quy định cấm sản xuất hoặc mang kiếm nhưng cho phép một nhóm nhỏ thợ rèn tiếp tục công việc để duy trì nghệ thuật này. Việc sử dụng kiếm tăng lên trong thời gian chiến tranh Nga-Nhật năm 1904-1905 và trước thế chiến 2, khi các sĩ quan buộc phải đeo kiếm như một phần trong quân phục và nhằm khơi dậy tinh thần võ sĩ đạo. Tuy nhiên kiếm dùng trong quân đội không phải là những thanh kiếm nghệ thuật thực sự mà làm từ thép sản xuất bằng máy và khi sản xuất hàng loạt thì đương nhiên chất lượng là yếu tố đầu tiên bị giảm sút.

Posted Image

. Sau Thế chiến 2 - lực lượng chiếm đóng ra lệnh hủy tất cả các loại kiếm, nhưng rồi lệnh này được sửa đổi nhằm để lại những thanh kiếm mang ý nghĩa tôn giáo, tinh thần hoặc nghệ thuật thuộc về các bảo tàng, đền chùa hoặc các bộ sưu tập cá nhân. Song một số lượng rất lớn các thanh kiếm tốt đã bị hủy và nhiều thanh kiếm khác bị đưa ra nước ngoài dưới hình thức quà tặng.
Tuy nhiên, mối quan tâm đến nghệ thuật rèn kiếm cổ dần dần tăng trở lại và nhiều thợ rèn đang cố khôi phục lại những kỹ thuật xa xưa. Năm trung tâm dạy rèn kiếm nổi tiếng nhất của Nhật Bản là Bizen, Sagami, Yamato, Yamashiro và Mino. Kể từ năm 1954, các cuộc thi kỹ thuật rèn kiếm hàng năm cũng góp phần quan trọng trong việc nâng chất lượng kiếm.

Posted Image

- Hiện tại có một số quy định như sau về kiếm Nhật Bản và nghề rèn kiếm:
. Chỉ các thợ rèn kiếm có bằng cấp được sản xuất kiếm Nhật(những dụng cụ cắt dài từ khoảng 15cm trở xuống không thuộc đối tượng của quy định này). Muốn được cấp bằng phải học việc từ một thợ rèn kiếm có bằng cấp trong thời gian tối thiểu là 5 năm.
. Một thợ rèn kiếm có bằng cấp chỉ được sản xuất tối đa mỗi tháng 2 trường kiếm và 3 đoản kiếm.
. Tất cả các thanh kiếm đều phải đăng ký với Cục văn hóa.

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Nhật Bản là đất nước nổi tiếng về gìn giữ những truyền thống xa xưa. Qua hàng trăm, hàng ngàn năm lịch sử nhiều môn nghệ thuật vẫn được duy trì cho đến tận ngày nay, trong đó có thanh kiếm Nhật. Bởi đã trở thành nghệ thuật chứ không chỉ đơn thuần là một vũ khí, thanh kiếm Nhật mới có thể truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ, thậm chí làm cho nhiều người trên thế giới say mê.

Sưu tầm



#16
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
- Núi Phú sĩ:
Nếu ai đã từng một lần chinh phục đỉnh Phú sĩ(Fuji-san) - một biểu tượng tuyệt đẹp của đất nước mặt trời mọc thì chắc rằng sẽ không bao giờ quên được cái cảm giác vui sướng mà rùng rợn người đó. Núi Phú Sĩ cao 3.776m và được hình thành cách đây 100.000 năm.

Posted Image

Núi Phú sĩ nằm gần bờ Thái Bình Dương của đảo chính Honshu trên đường ranh giới giữa hai tỉnh Shizuoka và Yamanashi(phía Tây Tokyo), từ đỉnh núi Phú Sĩ có thể được nhìn rõ từ thủ đô Tokyo vào những hôm trời quang mây.

Posted Image

Posted Image

Mỗi năm nơi đây thu hút khoảng 200.000 người leo núi Phú Sĩ, trong đó có khoảng 30% là người nước ngoài. Tuy nhiên khoảng thời gian đẹp nhất để leo lên tới đỉnh ngắm những cảnh vật tuyệt vời là từ 1/7 - 27/8 trong năm.

Posted Image

Nếu tính từ chân núi lên tới đỉnh Phú sĩ thì được chia thành 10 trạm nhưng đường lên tới trạm thứ 5, tức là đã cao tới 2.300m so với mặt biển. Tất cả đoạn đường đi đều được lát đá rất đẹp và dễ đi. Vì vậy ô tô có thể lên đến trạm thứ 3. Và nếu leo một mạch lên đến tận đỉnh thì du khách đi phải mất khoảng 7 tiếng.

Posted Image

Theo truyền thống người ta thường mặc đồ màu trắng khi leo lên ngọn Phú sĩ nhưng hiện nay rất hiếm người thực hiện. Thông thường du khách sẽ leo một mạch từ chân núi vào buổi đêm để có thể lên tới đỉnh núi đúng lúc mặt trời mọc.
Từ lưng chừng núi nhìn ra xa du khách sẽ được ngắm nhìn một cảnh tượng bao la, hùng vĩ và đẹp không có gì kể xiết; những cái hồ xanh ngắt lấp ló giữa cánh rừng bạt ngàn. Ở đây du khách sẽ được ngắm nhìn hồ Waldo Lake nổi tiếng rộng nhất và sâu nhất thuộc khu rừng quốc gia Willamette. Đặc biệt nước hồ này được xem là trong lành và tinh khiết nhất thế giới. Cách đây khoảng 100 năm con hồ này cũng đã từng phun trào những khối nham thạch khổng lồ.

Posted Image

Tại mỗi trạm dừng chân, du khách có thể thưởng thức những món ăn truyền thống của Nhật: món súp miso nóng(canh đậu tương)...để được tiếp thêm sức lực. Bởi càng leo lên cao nhiệt độ càng thay đổi rất nhanh từ nóng chuyển sang mát và cuối cùng là lạnh.

Sưu tầm


Bài viết này được chỉnh sửa bởi tea: 13 July 2008 - 12:25 AM


#17
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
Giảm stress kiểu Nhật:
Bạn luôn bận rộn với hàng núi công việc và thỉnh thoảng cảm thấy mình dường như bị kiệt sức vì những căng thẳng triền miên...Người Nhật đã nghiên cứu và tìm ra những phương pháp giảm stress cực kỳ hiệu quả.

Posted Image

Ngồi thiền sẽ giúp bạn tránh xa những phiền muộn. Hình minh họa.
. Hãy sống"chậm"và cố giữ cho tinh thần luôn thanh thản:
Khi lập ra một kế hoạch nào đó và mọi việc xảy ra không như ý, bạn đừng để mình rơi vào tâm trạng bồn chồn, lo lắng thái quá. Hãy tìm cách giảm bớt "tốc độ, nhịp sống" hằng ngày của mình và suy nghĩ"chậm"hơn. Bởi nếu bạn hoàn toàn không suy nghĩ nhiều đến những điều mà bạn đang chờ đợi, thì chúng sẽ dễ dàng với bạn hơn.
. Dành nhiều thời gian cho việc làm đẹp:
Khi bị stress phụ nữ Nhật thường chú trọng nhiều hơn đến việc làm đẹp. Làm đẹp để giảm stress không nhất thiết phải cầu kỳ, bạn có thể đi spa, tập thể dục hoặc làm đẹp tại gia với các hình thức như: đắp mặt nạ, tắm bồn thư giãn, ủ tóc...
. Tận hưởng mỗi phút giây hạnh phúc mà bạn đang có:
Đôi khi vì bận rộn với cuộc sống hàng ngày, bạn đã vô tình quên cách "hưởng thụ" cuộc sống của mình. Bạn có thể vừa tắm bồn thư giãn vừa nghe nhạc, hay đọc một quyển sách yêu thích vào bất kỳ thời gian rảnh rỗi nào...Nên tập trung cao độ trong mỗi việc bạn làm dù đó là việc đơn giản nhất như rửa bát, lau nhà hay tưới cây...Hãy tập cách suy nghĩ rằng, không phải bạn"đang tìm đến với những niềm vui"từ những việc nhỏ nhặt nhất ấy.
. Cây xanh"yên bình":

Posted Image

Hình minh họa.
Cây xanh và các loại bon-sai thường hiện diện trong ngôi nhà của người Nhật. Họ cho rằng: hình ảnh một bông hoa nhỏ bé hay một cành cây mong manh là cách để con người cảm nhận, để trở về với vẻ đẹp đơn giản và thuần khiết của thiên nhiên.
. Đôi khi bạn cần tịnh tâm và tạm cách ly với thế giới xung quanh:
Chỉ cần ngồi thiền trong 10 phút, đi bộ hay thưởng thức một tách trà, cà phê một mình cũng đủ khiến cho bạn tỉnh táo lại và nạp thêm năng lượng tinh thần. Trà đạo Nhật Bản luôn được người dân xứ sở hoa anh đào trân trọng và xem như đó là một phương pháp hiệu quả giúp con người tránh xa những lo toan, phiền muộn.
. Hãy bắt tay dọn dẹp nhà cửa:
Sự bừa bãi, lộn xộn dễ khiến cho chúng ta nổi cáu và stress càng dâng cao. Vì thế, nên giữ gìn và bắt tay vào thu dọn sạch sẽ, gọn gàng môi trường sống và khu vực làm việc của mình vào mọi lúc mọi nơi nếu có thể.
. Hãy giữ liên lạc với mọi người:
Gặp mặt, trò chuyện, quan tâm, chia sẻ...là phương thuốc giải stress tuyệt vời. Mỗi tuần bạn nên dành chút ít thời gian để hẹn hò, ăn uống hay gặp gỡ bè bẹn. Hãy tranh thủ tận dụng tối đa những giây phút thảnh thơi quý báu đó để vui vẻ và làm cho cuộc sống của bạn hạnh phúc hơn.

Sưu tầm


Bài viết này được chỉnh sửa bởi tea: 13 July 2008 - 01:13 AM


#18
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
Bonsai - Nghệ thuật sống:
Còn gì thi vị bằng vào một ngày cuối đông và đầu xuân ngồi thanh thản uống trà Tiên nữ(Ten Wu) hay trà Bích loa xuân(Pi Lo Chun) lại được ngắm một cành lan tím đang nở hoa hay một cây bonsai để thả hồn theo trí tưởng tượng, hòa mình với thiên nhiên và ký ức.
1 - Bonsai là gì?
Nếu dịch sát nghĩa thì bonsai chỉ có nghĩa là cây trồng trong cái khay. Chữ bonsai mới chỉ xuất hiện trong ngôn ngữ xứ Phù tang từ vài thế kỷ nay. Bonsai có nghĩa là cây cổ thụ làm nhỏ lại, bắt chước theo thiên nhiên chứ không có nghĩa là làm cây lùn đi hay do sự lùn di truyền.
Người Nhật ngày xưa có biệt danh là chú lùn, ngày nay do sự cải tiến dinh dưỡng họ không còn lùn nữa nhưng họ có khuynh hướng làm cái gì cũng nhỏ lại do hoàn cảnh điạ lý, nhân mãn, không gian, đất đai hiếm...Cứ nhìn sản phẩm của Sony thì thấy càng ngày càng nhỏ lại, người máy(robot, artificial intelligence) cũng vậy.
Bonsai mục đích là làm nhỏ thiên nhiên cũng vì nhu cầu thưởng ngoạn cây cảnh mà không có phương tiện thường xuyên tiếp xúc với thiên nhiên. Có một ông Zeko Nakamura - nghệ nhân bonsai(bonsai artist, bonsai master) có hơn 1.000 cây bonsai trong sân sau, không cây nào cao quá 4 inches.
Do định nghĩa trên bonsai bao gồm cả lịch sử, nghệ thuật, khoa học và cả ý nghĩa về triết học.
2 - Lịch sử Bonsai:
Nghệ thuật trồng tỉa và tạo hình các cây kiểng và cổ thụ làm nhỏ lại đã có ở Trung Hoa ít nhất từ thế kỷ thứ 7. Một vị thiền sư Nhật đã du nhập vào Nhật bản vào thời đại Kamakura(1192-1333). Dựa theo các di cảo trong văn khố, bonsai được ghi nhận đầu tiên trong bức tranh cổ của thiền sư Honen. Một vở kịch Noh(Kabuki) nổi tiếng mang tên Hachi No Ki đã đề cập đến cây mận, cây đào và cây thông được trồng trong chậu. Vở kịch đó chứng tỏ nghệ thuật bonsai đã được ca ngợi trước thời đại Heian(794-1191).
Mãi đến thời đại Edo(1615-1867 - tên cũ của Tokyo), nghệ thuật trồng bonsai mới trở nên phổ thông, được nhiều người yêu chuộng và phát triển mạnh mẽ.
Ðể đáp ứng với nhu cầu quần chúng ham mê chơi bonsai, lần thứ nhất một cuộc triển lãm bonsai đã được tổ chức tại Tokyo năm 1914. Ðến năm 1934 một buổi trình diễn bonsai khác được trưng bày tại Bảo tàng viện Nghệ thuật Ðông kinh và tiếp diễn cho tới ngày nay.
Bonsai ngày xưa được coi như thú tiêu khiển của các nhà giàu có. Ngày nay, bonsai được nhìn nhận là một nghệ thuật, một thú vui nhàn nhã cho đại chúng nhất là ở các đo thị lớn, ít gần gũi với thiên nhiên.

Posted Image

Hình minh họa.
3 - Bonsai là một nghệ thuật sống :
Sống về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Cái khác giữa sự thưởng thức một cây cảnh thường và thưởng ngoạn bonsai là trong cây cảnh thường người ta tập trung nhiều hơn vào việc ngắm hoa và lá. Ở bonsai, sự thưởng lãm thường nằm ở vẻ đẹp của toàn cây và sự hòa điệu của cây với chậu cành.
Bonsai được coi là nghệ thuật sống vì nó đang liên quan đến thực vật còn đang sống. Nó là một hình thức nghệ thuật cũng như nghệ thuật hội họa và nghệ thuật điêu khắc. Người họa sĩ đem vẻ đẹp của thắng cảnh lên khung vải, phương tiện của họ là màu sắc và sự khéo léo tinh xảo của bàn tay. Người nghệ sĩ bonsai cũng vậy, họ tái tạo thiên nhiên bằng cách thu nhỏ lại nhưng chất liệu là cây thật, cũng dùng bàn tay khéo léo cộng với sự tưởng tượng phong phú. Kết quả là cả hai đều có tác phẩm từ sự sáng tạo mà ra. Nhưng tác phẩm của họa sĩ dừng lại tại đó. Tác phẩm của nghệ sĩ bonsai vẫn chưa bao giờ hoàn tất vì nó là tác phẩm sống và vẫn sinh trưởng. Vì thế tác phẩm bonsai còn phải qua bao nhiêu thăng trầm, thử thách, có thể tốt đẹp hơn hay xấu hơn về lâu về dài, miễn là nó còn sống.
Tác phẩm bonsai cũng vô giá vì nó là một trong các bộ môn ưa thích của các nhà sưu tập. Truyền thống nước Nhật là các bonsai nổi tiếng đều thuộc các đại gia đình Samurai và Daimyo(sứ quân) danh tiếng. Mỗi bonsai là một tác phẩm duy nhất(unique) không bao giờ có hai cây hoàn tòan giống nhau kể cả chậu. Bon sai được yêu chuộng và còn được kính trọng vì tuổi tác của nó. Bonsai còn là gia bảo của các vua chúa, lãnh chúa, các samurai thuộc các dòng họ lớn. Nhân dịp nước Hoa kỳ kỷ niệm lễ Ðộc lập 200 năm(Bicentenial) Hoàng gia Nhật có gửi tặng sưu bộ bonsai 53 cây, trong đó cây già nhất là cây thông trắng 350 tuổi và một cây thông đỏ 180 tuổi. Lần thứ nhất bonsai Hoàng gia Nhật đi ra khỏi vườn Thượng uyển và lần đầu tiên ra khỏi nước Nhật để qua làm quốc khách trên đất Mỹ. Năm 1998, chính phủ Nhật lại bổ túc thêm 7 cây bonsai nữa cho chẳn 60.
Bonsai nổi tiếng thì các nghệ sĩ bonsai cũng nổi danh như các họa sĩ, điêu khắc gia quốc tế. Họ không chỉ tạo bonsai mà còn tạo cho nó một đặc tính - một linh hồn. Bonsai không có hồn thì không còn là bonsai.
Dầu mắc đến đâu bonsai cũng như bức tranh, giá trị nó không nằm trong chất liệu từ đó nó được tạo ra, mà giá trị do nó mang lại sự sảng khoái tâm hồn cho người ngắm nó.
4 - Bonsai và giá trị triết học:
Người chơi bonsai có một nhân sinh quan và một vũ trụ quan cao hơn mức độ bình thường.
Việc đem thiên nhiên thu nhỏ vào chậu với những đặc tính cao đẹp của nó cũng đã đòi hỏi một trình độ thưởng thức cao. Nhìn một cây bonsai với dáng dấp gió quất ngả(windswept style) ta tưởng tượng như đang ngắm một cây thông ngoài thiên nhiên, cang cường chống chọi với dương gió bão tố, khí hậu bất trắc, nói lên các đặc tính cao cả hiếm có của các"lão tướng"vẫn phấn đấu dẫu phải trơ gan cùng tuế nguyệt.
Người chơi bonsai còn tạo cho mình một tâm hồn yêu thiên nhiên, biết trọng cái đẹp của thiên nhiên và biết hòa mình vào thiên nhiên. Cái hòa nhịp(harmony) đó làm cho đời sống được quân bình giữa những bon chen, ô trọc... Ngay cách tưới bonsai cũng là một triết học - ta không thể tưới ào ào như tưới cây cảnh thường trong chậu sâu mà mỗi lần một ít đợi cho nước thấm rút rồi mới tưới tiếp, thời gian đó rất bổ ích cho sự quán tưởng các định luật sinh tồn, đến vòng sinh hoá của trời đất, tương quan giữa con người và thiên nhiên tạo nên một sự giao cảm giữa người và cây qua sự săn sóc trìu mến, nâng niu.
Vô hình chung người chơi bonsai tạo được đức tính thâm trầm, nhẫn nhục, biết yêu thương, tha thứ và có tâm hồn nghệ sĩ.

Posted Image

Hình minh họa.
5 - Bonsai là một khoa học:
Người yêu bonsai ngoài sự đòi hỏi trình độ thưởng ngoạn, cũng cần phải có kiến thức tối thiểu về thực vật học, về hóa học, vật lý học, quang học và tính kiên nhẫn.
Biết về thảo mộc học sẽ gíup ta chọn cành cây thích hợp cho hoàn cảnh sinh sống, cách nuôi dưỡng và săn sóc theo mùa.
Nắm được căn bản về kỹ thuật tạo hình, thay chậu, quấn dây, bón phân, pha trộn đất sẽ giúp cây được lành mạnh, tiếp tục sinh trưởng và không bị chết(nhất là các cây đắt tiền).
6 - Phân biệt Bonsai và Penjing:
Tại National Arboretum ở Washington D.C. còn có một bộ sưu tập khác do chủ một ngân hàng ở Hồng kông - ông Yee Sim Wu tặng chính phủ Mỹ vào năm 1986. Sưu bộ mới này gồm 31 cây bonsai(tiếng Trung hoa gọi là Penjing) từ 15 đến 200 tuổi.
Ðặc điểm là bộ sưu tập penjing vô giá trên các chậu xứ đều là đồ cổ quý giá không gì thay thế nổi. Một trong các chậu đó là một chậu xứ 300 năm hình chữ nhật màu xanh lục xen men trắng xuất phát từ tỉnh Quảng đông - Trung quốc. Cây cảnh thì có cây bông lài màu cam hơn trăm tuổi, cây trà Phúc kiến, thông Quảng đông...
Cũng là cây thu nhỏ, cái khác nhau giữa penjing và bonsai nằm trong đặc tính địa lý, thẩm mỹ và triết lý.
Penjing là cái nhìn từ ngoài nhìn vào. Thường penjing đi với đá, tượng tháp hoặc chùa kèm với cây cảnh.
Bonsai là cái nhìn từ bên trong nhìn ra. Bonsai tạo nên mộ sự tĩnh lặng, sự trang trọng của một khu rừng già, sự tinh khiết của một khe suối, và vẻ quắc thước hoặc thướt tha của một thân cây, một cành cây có một linh hồn, trong bonsai không dùng các hình tượng(figurine) để phát biểu, bonsai thích kèm rêu và đá để tạo quân bình(accent).
Trong penjing - ảnh hưởng khá rõ rệt của các trường phái hội họa trong các bức tranh cổ của giới nho gia(literaci) Trung quốc.
Penjing thường chú trọng của đặc tính của thân và cành, lá chỉ là phần phụ. Penjing dùng chậu sâu nhiều hơn.
Trong bonsai người Nhật cố gắng trong việc"chụp hình"được toàn thể cây kiểng trong dạng thu nhỏ hoặc tí hon nhưng vẫn phát biểu được sự đáng kính về tuổi tác với toàn thể rễ, thân, vỏ cây cũng như các cành rũ và lá. Bonsai dùng chậu cạn, những mảnh đá lõm hoặc bằng phẳng, chỉ có loại có dạng thác đổ(cascade) là bắt buộc phải dùng chậu sâu vì nhu cầu cân đối thẩm mỹ và đứng vững.
Ðiểm tương đồng giữa Bonsai và Penjing là cả hai tìm cách thu nhỏ cây lại qua cách tập luyện riêng rẻ hoặc từng nhóm. Kết quả không thực sự thu nhỏ toàn thể vì hoa và trái vẫn giữ vóc dáng bình thường, chỉ có lá là nhỏ hơn thôi.
Vì thế các loại cây kiểng có lá nhỏ đẹp, nhỏ nhắn mọc sát nhau và cành có dáng dấp đẹp là các loại lý tưởng để tạo thành bonsai và penjing.

Posted Image

Hình minh họa.
Ngoài các yếu tố trên, nên chọn các cây có khả năng phát triển trong chậu cạn và khả năng"chịu trận"qua sự cắt xén liên tục từ rể đến ngọn.
Các cây bonsai nổi tiếng làm từ các danh mộc cao nhất thế giới như cây sequoia(redwood), bald cypress...
Các loại cây Việt Nam có dáng bonsai đẹp tự nhiên là cây me, cây bông giấy, cây cỏ trúc, cây sung, cây cùm nụm, cây liễu rủ...
Có lần tôi mang một"đứa con"đi triển lãm với Liên hội Bonsai vùng Potomac. Tôi làm một cây bonsai bằng cây chuối con để y các lá khô cho có vẻ"cao niên" thêm rêu nhung, để một con ngựa màu bích ngọc(emerald) trong xanh và một cục đá atacamite xanh vân trắng có bệ gỗ của Ðại hàn. Trước sự ngạc nhiên của tôi, các hội viên và quan khách thi nhau chụp hình cây chuối - họ bảo chưa thấy bao giờ, khi họ tìm hiểu tuổi của cây bonsai tôi trả lời:"Một tuổi ". Họ phá lên cười vì đa số các cây khác đều trên 10 tuổi.

Bài viết này được chỉnh sửa bởi tea: 13 July 2008 - 12:30 AM


#19
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
7 - Phân loại Bonsai:
Bonsai có thể chia ra làm ba loại chính về nguồn gốc:
Bonsai thiên nhiên.
Bonsai nhân tạo.
Bonsai do sự trồng tỉa từ hột hoặc cắt tháp nhánh.

Posted Image

. Bonsai thiên nhiên:
Loại bonsai này thường thấy mọc trong các kẽ đá trên núi cao hoặc nơi các ghềnh đá dựng cheo leo dọc bờ biển trên các hoang đảo. Thường trên các cục đất rất khô khan và nghèo về dinh dưỡng thế mà nhiều cây sống đến vài thế kỷ tuy chỉ cao có vài feet, mang đầy đủ các đức tính hiếm có và đáng kính của các"lão tướng".
Muốn sưu tập loại bonsai này không phải dễ, nhiều người đã bỏ mạng trên các ghềnh đá chơ vơ.
Làm thế nào để bứng các cây bonsai đó mà không làm thiệt hại rễ? Làm thế nào để cây đem về được thích nghi với môi sinh mới? Nhiều cây bonsai thiên nhiên đã quen dạn dày sương gió, khi về nhung lụa vẫn chết vì"nhớ"mây nhớ nước, nhớ cảnh hùng vĩ, nhớ cả bão tố khí hậu hung tàn...
Nước Nhật cổ bao trùm bởi những huyền bí cái gì cũng biến thành đạo từ Thần đạo(shinto) đến Võ sĩ đạo(bushido), Kiếm đạo(genko), Hiệp sĩ đạo, Trà đạo, Hoa đạo...và họ tin là có các vị thần núi bảo vệ các cây cổ thụ, muốn mang về phải làm lễ bái không thì bị thần xô rớt xuống núi.
Cách bứng khá công phu vì phải đào trước một bên nửa gốc đổ đất tốt trộn phân rồi bó rễ lại...Ðể ba tháng sau cho rễ nuôi mọc rồi mới làm y như vậy phân nữa gốc kia...Ðợi thêm 3 tháng nửa mới bứng về để trồng trong các chậu
Các loại bonsai thiên nhiên nhiều và đẹp nhất nước Nhật thường nằm trên các đảo phía bắc đảo Hokkaido - ngày nay là quần đảo Kuriles. Trên các ghềnh đá các loại tùng(Juniper), thông đỏ, thông đen, sargeant juniper, ezo spruce...là các loại đẹp nổi tiếng để làm bonsai.

Posted Image

. Loại bonsai nhân tạo:
Có hai loại: từ cây giống thông thường trong các trại cây(nurseries) hoặc từ các giống kiểu được sưu tầm.
Cây giống thông thường:
Cây giống già từ 3 đến 10 tuổi là cỡ dễ tạo hình bonsai nhất. Hai loại cây thông dụng là loại lá xanh muôn thuở(evergreen) và loại cây lá đổi màu theo mùa(deciduous).
Loại cây xanh phần lớn có dáng chóp nhọn(conifers) gồm các loại thông, tùng, bách, trắc, các loại đỗ quyên(Azalea và Rhododrendron...). Họ thông điển hình là thông trắng, thông đen, thông đỏ, larch, fir, spruce, five needle, các loại thông cypress thì có bald cypress, hanoki cypress...
Loại cây lá đổi màu có cây phong Nhật, anh đào(cherry), bích đào (quince), loại peach cho hoa, cây mơ (apricot), các loại mận Dalat(plum), và các loại crabapple...Tất cả các loại kể trên đều có cành rất dễ uốn nắn, đưa vào chậu mùa thu là tốt nhất. Thường bắt đầu với chậu nhỏ để rễ được"làm quen"với sự phát triển trong môi sinh mới. Chậu càng cạn càng tốt, lá sẽ nhỏ lại dần dần sau mỗi lần sang chậu.

Posted Image

Các giống hiếm sưu tầm:
Nhóm này gồm các cây đào lên từ thiên nhiên đem về cắt xén cho vô chậu, nếu cần quấn dây huấn luyện nó theo hình dáng hoàn cảnh mới.
Ðối với những cây có dáng bonsai tự nhiên việc tạo hình dễ thôi, chỉ cần một giây đồng và vài sự thay đổi nhỏ trong ba tháng là thích nghi và ổn định với vóc dáng mới.
Ðối với các cây mà rễ đã bị hư hại nặng lúc đào xới cần được săn sóc cẩn thận hơn, nhất là vào đầu mùa hè đầu tiên khi khí hậu nóng và khô. Thường thường thì tiêu chuẩn bonsai là không được cao quá 3 feet, nếu cần phải hy sinh cắt bỏ bớt, nếu tiếc thì sẽ không còn là bonsai mà thành cây cảnh thường.

Posted Image

Loại bonsai gầy từ hạt giống hay cắt cành:
Ðây là một trong những cách công phu và hào hứng nhất trong nghệ thuật chơi bonsai vì chúng ta"đẻ"ra tác phẩm từ đầu và nuôi nấng qua thời gian.
Nếu hạt giống được gieo trong chậu cạn dưới 4 inches trong vài năm cây sẽ mọc thấp như một vạt rừng nhỏ, cây cắt từ các cành cắm xuống cũng tạo được hình ảnh một cánh rừng thưa tương tự.
Các giống cây điển hình tạo bonsai từ hạt giống đáng kể là các cây phong Nhật, cây birch thân trắng(bạch đàn), cây beech, cây lựu, cây sung, cây ezo spruce, các loại thông, tùng, bách, trắc, Wax tree, Lacquer tree, Maidenhair tree, Zelkowa...

Posted Image

Khi các cây on đã thành hình, chúng có thể chuyển qua chậu cạn riêng rẽ hay từng nhóm. Cứ mỗi hai năm lại sang chậu lớn hơn một chút, cứ thế sang chậu độ 2 hoặc ba lần là được.
Nếu lá non mọc quá thừa thãi, đừng tiếc mà phải ngắt bỏ đi cũng như các cành quá dài cũng phải cắt xén bớt, nếu thương tiếc thì dần dần sẽ mất dạng onsai mà trở thàng cây kiểng thường. Có các loại không nên ngắt đọt non là đỗ quyên(azalea), rhododrendron, ankranthris, hồng (persimmon), quince, lài (jasmine), Fringe tree, Crabaple...vì nụ hoa nằm trên ngọn chuẩn bị nở cho mùa xuân năm sau.
Riêng cây liễu rũ và cây tamarise được huấn luyện theo cách hay nhất là tất cả các cành mới đều bị cắt bỏ đi giữa mùa xuân. Như vậy khi các cành non mọc lại, nó sẽ trở nên mảnh khảnh yểu điệu và thanh thoát hơn.
Bonsai còn đẹp nhờ trổ hoa vào mùa xuân, đổi màu lá cho trái vào mùa thu.

#20
tea

tea

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 339 Bài Viết:
8 - Các dạng bonsai :
Tạo hóa là một nghệ sĩ tuyệt luân. Mỗi dạng cây ngoài thiên nhiên đều mang nét độc đáo với vẻ đẹp hiên ngang, hùng dũng hay ẻo lả của nó.
Cố gắng của người nghệ sĩ bonsai là tái tạo lại toàn bộ dạng cây trong một mô thức nhỏ bé nhưng phải lột tả hết tất cả những đặc tính của thiên nhiên cộng thêm với phần sáng tạo qua sự họa kiểu dựa theo đường nét, khối lượng, sự cân bằng của thị giác và thị hiếu trong một không gian ba chiều. Tất cả được tuân theo các quy luật thật tinh tế và khéo léo để đạt đúng nghệ thuật bonsai: đẹp, dễ nhìn và có hồn.
Bonsai có quy luật của nó, bất cứ dạng thức nào cũng đều nằm trong một tam giác vô hình. Bonsai được tạo để nhìn từ trước chứ không phải nhìn từ chung quanh nên các cành từ phía sau phải nhiều hơn để tạo nên chiều sâu, ngược lại không có cành chỏi về phía trước chỗ người đứng ngắm nó. Các cành được cắt bớt theo lối xen kẽ tạo nên một sự hòa hợp nhịp nhàng với thân, dạng cánh rừng chỉ được dùng số cây lẻ...
Tuy bonsai có quy luật nhưng nghệ nhân bonsai không bắt buộc phải cứng nhắc, mà họ có thể"phá cách"như trong thi họa, miễn là nó theo sát đường nét không chỏi lại toàn bộ và không"lạc điệu"làm mất vẻ thẩm mỹ.
Nói chung các dạng bonsai được phân loại(categorize) theo dạng thức dựa trên yếu tố chính là thân cây, do đó dạng bonsai được đặt tên theo dáng diện của thân cây. Có tất cả từ 30 đến 40 dạng bonsai.

Posted Image

Posted Image

Posted Image

. Dạng một thân(single trunk style):
Gồm các dạng thẳng đứng theo kiểu cổ điển, thẳng đứng kiểu tự do, dạng thân trên gỗ mục(driftwood), dạng gió rạp (windswept) , dạng rễ mọc trên đá(root over rock), dạng rủ(weeping), dạng thác đổ(cascade)...Mỗi dạng trên lại chia ra các dạng phụ.
. Dạng đa thân(multiple trunk style):
Hai ba hoặc cánh rừng nhỏ. Các dạng đa thân còn chia ra tiểu loại như loại trồng trên đá hoặc loại trồng thắng cảnh(landscape).
Dẫu dưới dạng thức nào chúng ta nên nhớ là bonsai chỉ có một ngôn ngữ chung: phát biểu một ý thức nghệ thuật để lại những ấn tượng quý mến lâu dài trong trí người thưởng lãm.
Nên nhớ ngoài cách phân loại trên có những cây Bonsai không được xếp loại vì hình dáng độc đáo, ví dụ cây họ palm, cây chuối...
9 - Cách nuôi dưỡng và săn sóc Bonsai:
Bonsai cũng như lan rất dễ trồng nhưng rất khó giữ nếu chúng ta trồng không đúng cách và không có thì giờ săn sóc. Bonsai càng khó hơn lan vì cách trồng trong châu cạn, đất rất mau khô. Phân bón nhiều quá cây se mọc um tùm mất dạng bonsai, phân ít cây không đủ dinh dưỡng sẽ chết. Nước và ánh sáng cũng thế, cái gì cũng vừa đủ không thừa không thiếu.

Posted Image

.Chậu bonsai:
Một trong các yếu tố quan trọng nhất sau chính loại cây được chọn là chậu. Chậu phải thích hợp với loại cây, chậu tròn, chậu vuông, chậu hình chữ nhật, hình đa giác, hình bầu dục. Màu sắc của chậu phải đồng điệu với cây tạo thêm sự duyên dáng cân bằng với cây. Nếu cây có dáng cổ thụ mà chậu thì"trẻ"quá cũng thiếu"môn đăng hộ đối". Trong các cuộc triển lãm bonsai tôi quan sát các chậu đựng bonsai nhiều cái là đồ cổ trên trăm năm.
Ngoài chậu đựng Bonsai còn phải đi kèm với rêu, nó tạo nên sự cổ phong và người Nhật thường thích để đá đẹp chung với bonsai hoặc để riêng bên cạnh để tăng lên sự nhịp nhàng(accent) của cây.
Rêu thì có nhiều loại nhiều màu khác nhau: đa số rêu nhung xanh là thông dụng hơn cả, tôi đã được thấy tận mắt rêu vàng, rêu nâu, rêu vàng đỏ, và có lần cả rêu màu tím thật lãng mạn.

Posted Image

Một cây bonsai đẹp phải phơi cả rễ, có cây rễ phủ quanh cục đá(on the rock). Nếu một cây bonsai mà gốc"cấm dùi"thẳng vào mặt đất thì chẳng còn gọi là bonsai được.
Như đã đề cập ở trên, môi sinh của Bonsai không được giàu quá cũng không nên nghèo quá. Trong kỹ thuật bonsai hình như hai chữ"quân bình"và"hòa điệu"(balance and harmony) là luôn luôn phải được nghĩ đến trước khi, đang lúc và sau khi hoàn thành một cây bonsai có tầm vóc.

Posted Image

. Cách pha trộn đất trồng bonsai:
Một hỗn hợp pha trộn đất trồng bonsai chung chung cho mọi thứ là: 3 phần đất thịt(loam) + 1 hay 2 phần cát thô hay perlite + 1 phần lá mủn hay peat moss + 1/2 phần phân chuồng(cow manure) + 1/2 thức ăn bằng xương nghiền nát(bone meal). Không bao giờ dùng potting soil pha chế sẵn.
Ngoài ra tùy loại cây chịu acid hay loại cây chịu tính kiềm mà chúng ta nên thêm vôi vào hổn hợp.
Nước và ánh sáng chiếm phần quan trọng còn lại trong việc săn sóc bonsai.
Thường bonsai loại xanh muôn thuở(evergreen), loại thông(coniferous) đều thích ở ngoài trời, tưới bằng vòi nước cho thật ướt cả cây lẫn đất.
Loại theo mùa(deciduous) cần phải đem vào nhà vào mùa đông. Ðể lên một cái khay tưới thật chậm, đợi cho nước thấm rồi lại tưới nữa, vừa tưới vừa"quán niệm"cho đến khi nào thấy nước chảy tràn ra khay hãy thôi.
Những người theo trà đạo thiền tập có thể áp dụng bài quán niệm hơi thở:
Thở ra thở vào
Là hoa tươi mát
Là núi vững vàng
Nước tĩnh lặng chiếu
Không gian thênh thang...
...sẽ tìm thấy được một hạnh phúc khó tả, một nguồn vui thanh khiết mang đến từ những đứa con tinh thần mà chúng ta nuôi dưỡng bằng nước và bằng tình thương do ta tưới tẩm.

Posted Image

. Ghép rễ bonsai:
Rễ là thành phần không thể thiếu của thực vật. Rễ có các chức năng:
Làm cho cây đứng vững trên mặt đất.
Hút nước và muối khoáng để nuôi cây và phát triển.
Đối với tác phẩm bonsai, rễ còn là yếu tố làm tăng thêm vẻ đẹp cũng như tạo cảm giác già cỗi(nhất là rễ lồi trên mặt đất). Do đó một cây bonsai hoàn chỉnh phải có một bộ rễ hoàn chỉnh không thể khiếm khuyết(tất nhiên để che lấp sự khiếm khuyết đó người ta sẽ sử dụng nhiều cách như dùng cỏ, rêu, đá để che chắn). Nhưng tôi thiết nghĩ là chúng ta nên tạo nơi khiếm khuyết đó một số rễ cần và đủ. Để làm được điều này chỉ còn cách là ghép rễ. Chủng loại cây ghép rễ: nói chung tất cả các chủng loại cây dùng làm bonsai đều có thể ghép rễ, thí dụ: cần thăng, mai chiếu thủy, gừa, sanh, si, sộp...miễn là chúng cùng loài với nhau.
Phương pháp ghép rễ:
Trước hết ta chọn một cây nhỏ cùng chủng loại với gốc sao cho tương đối phù hợp với dáng thế của cây và ý muốn dàn dựng bộ rễ nơi khiếm khuyết đó.
Nhổ cây bonsai ra khỏi chậu và giũ sạch đất, kết hợp với tỉa bớt cành lá.
Dùng một lưỡi khoan - vừa bằng đường kính cây nhỏ mà ta muốn lấy làm rễ - khoan xuyên gốc cây bonsai nơi mà ta muốn rễ mọc ra từ đó.
Sau đó ta nhét cây con vào lỗ đã khoan cho xuyên suốt gốc cây và ló ra ngoài từ 2cm-3cm, lấy dây buộc chặt để cố định rễ ghép ở nơi muốn ghép. Lấy mỡ bò trộn ký ninh hoặc mác-tít trét kín khe hở ở hai đầu để nước không ngấm vào. Xong trồng lại vào chậu đã thay phân đất mới kết hợp sửa bộ rễ cũ và mới theo ý muốn. Tưới cây và để vào nơi thoáng mát, khuất gió khoảng một tháng rồi chuyển dần ra nắng.

Posted Image

Cây con dùng làm rễ sẽ nẩy chồi khắp nơi ở cả hai đầu và ta để cho nó phát triển tự do. Trong vòng 4-6 tháng thì cây con dùng làm rễ sẽ lớn dần ra bít kín những khe hở và dính liền da với gốc ghép. Sau đó ta cắt nốt 2cm-3cm phần ló ra cho sát gốc ghép và lảy hết những cành lá mọc ở rễ ghép. Như thế ta đã có được một bộ rễ như ý vì đã dính liền với nhau nên chúng nuôi sống lẫn nhau.

Posted Image

Với phương pháp này ta có thể ghép cùng lúc 3-4 rễ quanh gốc.
Lúc đầu mới nhìn ta dễ phân biệt ra rễ ghép vì nó có màu sáng hơn gốc. Nhưng càng về lâu thì màu rễ và gốc sẽ giống nhau nên rất khó phân biệt. Chúng tôi đã thành công trên các chủng loại cần thăng, mai chiếu thủy, các giống Ficus và các chủng loại khác. Chúc các bạn thử nghiệm thành công để có một tác phẩm.

Sưu tầm


Bài viết này được chỉnh sửa bởi tea: 13 July 2008 - 01:05 AM







Perfumista - Thong tin nuoc hoa

Stars Counter Game

Balloon vs. Thorns

MU Phuc Hung

Làm Việc Tài Nhà

Mu Da Nang

Tuyển Nhân Viên Bán Hàng

Tư vấn sức khỏe trực tuyến

Close [X]