Jump to content

Welcome to [ iT ] Forums
Register now to gain access to all of our features. Once registered and logged in, you will be able to create topics, post replies to existing threads, give reputation to your fellow members, get your own private messenger, post status updates, manage your profile and so much more. If you already have an account, login here - otherwise create an account for free today!
Cộng đồng Âm nhạc Việt Nam

Hình ảnh

Truyện ngắn"Thần thoại, cổ tích" Việt Nam

* * - - - 1 Bình chọn

  • Please log in to reply
62 replies to this topic

#21
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:
Sự tích chim Đa Đa

--------------------------------------------------------------------------------

Ðã lâu rồi, ở dựa mé rừng thưa có đôi vợ chồng người tiều phu ăn ở với nhau hai mươi năm rồi mà không có đứa con để vui cửa vui nhà. Một hôm vợ chồng bàn với nhau nên đến ngôi chùa ở gần triền núi ăn chay niệm Phật để cầu con.

Quả nhiên đi cầu tự trở về được ít lâu, vợ người tiều phu có thai, sinh được một con trai, đặt tên con là Ða Ða. Lúc thằng Ða Ða lên bảy tuổi thì mẹ nó qua đời. Còn lại một cha một con không ai sớm hôm săn sóc cho đứa trẻ, người tiều phu phải ngày ngày vào rừng đốn củi mãi tối mịt mới về, sự mệt mỏi làm cho gã không đủ sức để săn sóc nuôi dưỡng con thơ. Sau nhiều lần cân nhắc gã tiều phu không còn biết làm cách nào hơn là cưới thêm một người vợ kế.

Người đàn bà này không được hiền lương như mẹ ruột của Ða Ða. Ngoài roi vọt, tiếng nặng tiếng nhẹ, chị ta còn bắt Ða Ða phải lặn lội trong cánh đồng lầy chăn đuổi bầy vịt của chị ta nuôi. Ðã vậy đến bữa, chị ta chỉ cho thằng Ða Ða ăn cơm thừa canh cặn đói no mặc kệ. Vì vậy tối đến thấy cha về thằng Ða Ða thường thút thít khóc kể với cha về nỗi dì ghẻ hành hạ chăn vịt, đòn bộng lại còn cho ăn đói.

Nghe vậy, người dì ghẻ càng ghét cay ghét đắng thằng Ða Ða nặng lời nhiếc mắng, đánh đập tàn nhẫn rồi để chồng tin, đợi lúc gần tối chị xúc một chén cát, lấy cơm trắng trải lên trên cho thằng Ða Ða bảo ăn. Thằng Ða Ða không dám cãi lời dì ghẻ, lại nghĩ tủi thân, hồi nào còn mẹ được ăn uống đầy đủ, nâng niu, săn sóc nay thì cực khổ, cơm lại trộn cát bảo ăn, làm sao ăn được. Nó cứ cầm chén cơm mà khóc cho tới lúc cha nó lơn tơn xách rựa về nhà.

Phần mệt nhọc, lại nghe tiếng dì ghẻ chanh chua mắng vốn: Ðó, ông xem thằng Ða Ða hành hạ tôi đến bực nào, cơm đã dưng tận tay nó không chịu ăn ngồi khóc rấm ra rấm rứt khi ma trù mà ẻo thì còn làm ăn gì được.

Gã tiêu phu nóng tính, nghe vậy bực mình rồi, lại thấy chén cơm trong tay Ða Ða là cơm trắng ngon lành tại sao không ăn mà ngồi khóc.

Nổi khí xung thiên, gã vớ lấy khúc củi đánh thằng Ða Ða, chẳng dè trúng nhầm đầu đứa bé ngã ra chết . Chén cơm trắng đổ tứ tung bày ra những vữa cát.

Bây giờ gã tiều phu mới hiểu được lòng dạ bạc ác của người vợ kế thì đã muộn rồi. Bác chỉ còn cách chôn con và đuổi chị ta ra khỏi nhà.

Ba ngày sau ra thăm mả thằng Ða Ða, gã tiều phu thấy từ dưới mả một con chim kỳ lạ sắc xám bay lên đậu trên cành nhìn bác rồi cất tiếng kêu:

Bát cơm cát trả cho cha, đánh bể óc ác la, ác la đa.

Gã tiều phu biết ngay rằng hồn thằng Ða Ða hoá thành chim, buông ra những tiếng kêu thê thảm.
__________________
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#22
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:
Vua Hoá Cọp

--------------------------------------------------------------------------------

Ngày xưa, về đời nhà Lý có ông Nguyễn Chí Thành, hiệu Minh Không thiền sư, ở chùa Đạm Xá, tỉnh Ninh Bình, theo học Từ Đạo Hạnh từ thuở còn bé. Minh Không thông minh xuất chúng, sau bốn mươi năm học tập, được Đạo Hạnh tin yêu nhất trong số các môn đệ, nên truyền phép cho. Khi Đạo Hạnh sắp chết, có dặn Minh Không: "Xưa Đức Thế Tôn đạo quả đã viên thành mà về sau còn bị chứng kim sang (ung thư), huống chi ta pháp thuật chưa đến chỗ tuyệt luân, tránh sao cho khỏi bệnh. Nay ta thác sinh làm đế vương, nếu mai sau có mắc bệnh gì, ngươi nhớ mà cứu ta với".

Vua Lý Thần Tông lên ngôi được ít lâu, mắc phải một chứng bệnh khác thường, mình mẩy mọc lông như hổ và gầm thét suốt ngày. Các danh y trong nước được vời đến cũng đều bó tay trước căn bệnh khó hiểu của vua. Bỗng một hôm có bọn trẻ hát rằng: "Muốn chữa bệnh vua phải tìm Đức Minh Không mới khỏi". Quan địa phương tâu lên, triều đình phái sư giả đi tìm Nguyễn Minh Không vào cung.

Khi sứ giả và thủy thủ mang thuyền đến rước, Minh Không lấy một nồi nhỏ nấu cơm mời ăn. Viên quan cầm đầu cười bảo: "Cả một đoàn chúng tôi mấy chục người mà ngài nấu có một nồi cơm nhỏ thì ăn sao đủ"? Minh Không đáp: "Phái đoàn đông thật, song cứ xin thử ăn xem có đủ không"? Họ tưởng nhà sư nói đùa, nhưng đến lúc chín cơm dọn ra cả đoàn ăn mãi không hết. AI nấy đều no đủ lấy làm lạ quá. Trời gần tối sứ giả mời nhà sư đi ngay cho chóng và mát mẻ. Minh Không bảo cứ cho quân lính xuống thuyền nằm ngủ, không cần phải vội, sớm mai sẽ gọi dậy đi sớm. Mọi người xuống thuyền ngủ, đến sáng ngày Minh Không đánh thức dậy, thấy đã đến bến kinh đô, cách xa mấy ngày đường. Cả đoàn đều kinh ngạc về pháp thuật tài tình của Minh Không. Khi vào cung các danh y và ngự y thấy ông nâu sồng quê kệch, tỏ ý khinh thường, Minh Không cầm một cây đinh dài lối một tấc, cắm vào cung điện mà nói: "Ai nhổ được cái đinh này ra thì mới chữa được bệnh". Các lương y đua nhau mà nhổ chẳng ai nhổ được. Minh Không đưa hai ngón tay khẽ rút một cái là đinh ra ngay. Vào đến chỗ vua ở, vừa trông thấy mặt, Minh Không nói lớn: "Ai biết được tại sao giàu có đến như vua mà lại mắc bệnh ngặt nghèo hơn cả thường dân"? Vua nghe thấy sợ hãi run rẩy, Minh Không sai lấy dầu đổ vào vạc nấu sôi một trăm chặp, rồi thò tay vào quấy, đoạn múc dầu tưới và mình vua. Dầu sôi tưới đến đâu thì lông rụng tới đó, trong chốc lát người vua lành lặn như cũ, bệnh khỏi hẳn.

Vua Lý Thần Tông trở lại bình thường, tôn Minh Không làm quốc sư và tạ ơn rất hậu, nhưng Minh Không không lấy gì cả, rồi cáo từ ra đi.
__________________
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#23
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:
Sự Tích Hoa Bằng Lăng Tím

Ngày xưa Ngọc Hoàng có mười hai nàng công chúc. Mỗi người một vẽ, không ai thua ai. Ngọc Hoàng rất thương mười hai nàng công chúa của mình. Một hôm Ngọc Hoàng bảo ta sẽ cho các con làm chúa của các loại hoa dưới nhân gian. Cô công chúa đầu thì đòi làm chúa của loài Hoa Hồng, Cô kế làm chúa loài hoa Mẫu Đơn, rồi Hoa Lan, Huệ, v.v.... Chỉ riêng cô công chúa Út 0 biết mình phải làm chúa hoa gì nữa. Cô lặng lẻ âm thầm đứng yên mãi đến khi Ngọc Hoàng lên tiếng.

- Hỡi nàng công chúa Út của ta, con muốn làm chúa loài hoa nào? Ta sẽ cho con toại nguyện.

Công Chúa Út suy nghĩ mãi vẫn chưa ra thì cô ta nhìn tà áo tím thướt ta của mình. Từ nhỏ cô đã thích màu tím. Vì thế cô xin với Ngọc Hoàng.

- Dạ tâu phụ hoàng, con rất thích màu tím ngây thơ. Xin Phụ Hoàng cho con làm chúa loài hoa mang màu tím.

Ngọc Hoàng suy nghĩ mãi mới quyết định cho nàng công chúa Út làm chúa hoa Bằng Lăng Tím.

Cùng lúc đó ở dương gian có chàng thư sinh nghèo, thấy loài hoa tím bằng Lăng vừa xinh lại dịu dàng. Chàng liền lấy về nhà trồng rồi mỗi ngày chàng điều ngắm loài hoa tím. Mỗi năm đến mùa hoa nở chàng thư sinh chết mê mệt với sắc màu tím và dần dần chàng lại đem lòng yêu thương hoa Bằng Lăng Tím. Cũng cùng lúc nàng công chúa Út của chúng ta cũng đem lòng suy mê văn tài của chàng thư sinh. Công chúa xin Ngọc Hoàng được xuống dương gian làm vợ chàng thư sinh. Ngọc Hoàng cương quyết 0 cho. Cô Công Chúa Út từ đó suy tư và 0 biết bao nhiêu chàng công tử trên trời đến cầu hôn nàng điều khướt từ. Và từ đó loài hoa Bằng Lăng càng ngày càng phai nhạt màu tím đi. Chàng thư sinh vẫn một lòng suy tình hoa Bằng Lăng Tím.

Thế nên từ đó loài người cho Hoa Bằng Lăng là loài hoa chung thủy, sự ngây thơ của màu tím đã tượng trưng cho tình đầu của thuở học trò
__________________
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#24
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:
Sự tích con sam
--------------------------------------------------------------------------------

Ngày xưa có hai vợ chồng một người đánh cá nghèo. Một hôm người chồng ra khơi với bạn nghề. Không may có một trận bão rất lớn nổi lên giữa lúc họ đang thả lưới. Không một người nào thoát khỏi tai nạn. Tin dữ về đến làng, tất cả mọi gia đình đánh cá đều đau khổ. Tiếng khóc lan đi các nhà. Riêng người đàn bà lòng đau như cắt. Như điên như cuồng, bà bỏ nhà ra đi, hy vọng tìm thấy chồng. Bà cứ theo bờ biển đi, đi mãi. Trải qua hai ngày đến một hòn núi lớn. Bà trèo lên rồi vì mệt quá ngủ thiếp dưới một gốc cây. Đang ngủ bỗng có một tiếng nổ dữ dội. Bà choàng dậy thấy một ông lão đầu tóc bạc phơ đứng trước mặt mình, hỏi:
-Người là ai mà dám đến nằm trước nhà ta? Người đàn bà mếu máo đáp:
-Tôi đi tìm chồng. Cụ làm ơn chỉ giúp kẻo tôi nóng lòng nóng ruột quá! Cụ già nói:
-Ta là thần Cây. Thấy nhà ngươi chung tình ta rất thương. Vậy ta báo cho biết là chồng ngươi còn sống, hiện ở ngoài hải đảo. Nói rồi, ông cụ trao cho người đàn bà một viên ngọc và bảo:
-Ngươi hãy ngậm viên ngọc này vào miệng thì sẽ bay qua được biển để gặp chồng. Nhưng phải nhớ là nhắm mắt ngậm miệng kẻo rơi ngọc mà nguy đó. ạng cụ nói xong biến mất. Bà ta lấy ngọc ngậm vào miệng và nhắm mắt lại. Thốt nhiên trời bỗng nổi gió ù ù. Bà thấy người như nhẹ bỗng, hai bên tai nghe tiếng vo vo. Được một lúc sau thấy chân chấm đất, bà mở mắt ra thì thấy mình đang đứng trên một bãi cát lạ mà gió bấy giờ đã lặng. Trông thấy chồng ngồi co ro trên bãi, bà mừng quá. Hai vợ chồng hàn huyên một hồi lâu rồi mới tính chuyện trở về làng cũ.
Người chồng ôm ngang lưng vợ để vợ đưa qua biển cả. Lòng người vợ sung sướng không thể nói hết. Vì thế, bà ta đã quên mất lời của thần Cây dặn. Miệng mắc ngậm ngọc nhưng bà vẫn cố hỏi chuyện chồng. Đột nhiên viên ngọc văng ra giữa không trung. Bà chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi cả hai vợ chồng đều sa xuống biển. Rồi đó họ hóa thành những con sam. Ngày nay, những con sam thường đi cặp đôi ở dưới nước, lúc nào con sam đực cũng ôm lấy con sam cái như khi chồng ôm vợ để bay qua biển. Có câu tục ngữ "Thương như sam", là do truyện này mà ra.
__________________
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#25
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:
Sự Tích Cây Củ Cải

--------------------------------------------------------------------------------

Ngày xưa có hai anh em đều đi lính. Anh thì giàu, em thì Nghèo. Người em không muốn sống nghèo khổ mãi, bỏ lính về làm Nông dân. Anh cuốc một vạt đất ở đầu cánh đồng và gieo hạt củ cải. Mầm mọc, củ lớn dần, lớn dần, lớn không ngừng đến mức có thể coi Là củ cải chúa, chưa bao giờ từng có củ cải nào to như vậy và cũng Sẽ chẳng bao giờ sẽ thấy củ cải to như thế. Cuối cùng, nó thành một Củ cải khổng lồ, một mình nó có thể chiếm hết một xe chở và phải Gióng hai con bò để kéo xe. Bác nông dân không biết dùng củ cải ấy Làm gì và tự hỏi không biết đây là phúc hay là họa. Rút cuộc, bác tự Bảo: "Nếu mang bán thì người ta sẽ trả bao nhiêu? Nếu ăn củ cải Thì ăn những củ nhỏ cũng đến thế thôi. Tốt nhất là ta mang tiến Vua để tỏ lòng thành kính".

Bác khiêng củ cải lên một cái xe, gióng hai con bò, dắt xe đến Cung nhà vua để dâng vua.

- Cái vật kỳ lại này là cái gì vậy?" - Vua phán - Ta đã từng trông thấy Nhiều vật lạ, nhưng chưa thấy một vật khổng lồ như thế này, không biết mọc từ Cái hạt giống gì ra? Hoặc giả ngươi là phù thủy và đã đích thân làm ra củ này? - Tâu bệ hạ, không phải thế đâu ạ - Bác nông dân trả lời - Thần Là một anh lính nghèo nuôi thân không xong nên phải thôi lính về Làm đất. Thần có một người anh giàu có, bệ hạ biết nhiều về anh ấy. Nhưng thần thì không có gì, nên bị mọi người ruồng bỏ. Nhà vua thương hại bác nông dân và phán:

- Nhà ngươi sẽ không nghèo đói nữa, ta sẽ ban cho ngươi của Cải để nhà ngươi cũng giàu như anh nhà ngươi.

Vua ban cho bác nông dân rất nhiều vàng, ruộng nương, đồng Cỏ và gia súc, đến mức bác trở nên rất giàu, của cải người anh Không sánh được.

Khi người anh biết là em trở nên giàu có nhờ có một cây củ cải, Thì anh ta ghen tức và nghĩ nát óc ra tìm một cách để cũng gặp may Như em. Anh láu hơn em, mang biếu nhà vua vàng và ngựa, nghĩ Rằng vua sẽ ban cho anh nhiều của cải hơn em. Nếu em ta chỉ biếu Nhà vua có một củ cải mà được vua ban cho chừng nấy của thì vua Sẽ ban cho ta biết mấy để đáp lại những tặng phẩm quý giá! Vua Nhận đồ dâng của anh và phán là không có gì quý hơn và hiếm hơn Là cây củ cải. Vua bèn cho anh cây củ cải to tướng. Người anh đành Chất cây củ cải của người em lên một cái xe rồi kéo về nhà.

Về đến nhà, người anh không biết trút cơn tức giận lên đầu ai Cho tới khi nẩy ra ý nghĩ độc ác là giết em. Anh thuê những kẻ giết Người và cho chúng nấp ở một nơi. Anh đến gặp em và bảo: "Chú ạ, Tôi biết nơi cất giấu một kho vàng, chúng ta cùng đi lấy rồi chia Nhau". Người em đi với anh, không nghi ngờ gì cả. Khi hai người đi Tới nơi đã định, những kẻ giết người nhảy xổ vào người em, trói em Lại và chuẩn bị treo cổ lên một cái cây. Khi chúng đang làm việc đó Thì ở xa có tiếng hát và tiếng vó ngựa vọng lại. Chúng sợ hãi nhét Người bị bắt - đầu lộn ngược - vào một cái bao, treo lên một cái cây Rồi chạy trốn. Ở trên cây, người em giãy giụa cho tới khi cái bao bị Thủng một lỗ, đầu lọt ra. Người đi tới chẳng qua là một cậu sinh Viên đi lang thang, một thanh niên đang vừa ruổi ngựa trong rừng Và hát vang lên. Người em ở trên cây thấy có người vừa qua bên Dưới bèn kêu to:

- Cậu đến thật đúng lúc!

Cậu sinh viên ngó quanh, không biết tiếng nói từ đâu ra. Cuối Cùng cậu nói:

- Ai gọi tôi thế?

Từ ngọn cây, người em trả lời:

- Hãy ngẩng lên mà nhìn. Tôi ở trên cao, trong một cái túi dạy Khôn. Trong một thời gian ngắn, tôi đã học được không biết bao Nhiêu điều hay; những điều học ở trường chẳng thấm vào đâu. Tôi Học sắp xong rồi, tôi sẽ xuống và tôi sẽ giỏi hơn mọi người trên thế Gian này. Tôi thông thiên văn, biết hướng đi của gió, cát ở ngoài Biển, cách chữa mọi bệnh tật, công dụng của cây cỏ, các loại chim và Các loại đá. Nếu anh chui vào đây, anh sẽ thấy ở trong túi dạy khôn Này hạnh phúc biết chừng nào.

Cậu sinh viên nghe thấy thế ngạc nhiên vô cùng và nói: - Quả là trời phù hộ cho tôi được gặp bác. Bác làm ơn cho tôi Vào trong túi một lúc có được không?

Người em trả lời như có vẻ chần chừ: "Tôi cũng muốn để anh Chui vào một tí nếu anh đưa tôi một ít tiền và ăn nói tử tế, nhưng Anh hãy đợi một giờ nhé. Còn có điều tôi muốn học thêm đã". Cậu sinh viên chờ một chốc, sốt ruột năn nỉ xin người em cho Chui vào vì anh nóng lòng muốn học khôn. Người em giả bộ như Cũng chiều ý cậu và nói:

- Muốn để tôi bước ra khỏi cái nhà dạy khôn này, anh hãy hạ Túi dọc theo cái dây thừng. Sau đó sẽ đến lượt anh vào". Cậu sinh viên hạ người em xuống, mở túi cho anh chui ra. Sau Đó, cậu kêu lên:

- Giờ thì hãy kéo tôi lên cao nhanh lên!" Rồi anh chui vào trong túi. "Hượm đã!" - người em nói, - "như Thế chưa được". Anh đẩy cậu sinh viên đầu lộn ngược vào túi, buộc Miệng túi lại rồi kéo lên cây. Anh đẩy cho cái túi đu đưa trên không Rồi hỏi:

- Cậu thấy thế nào hở cậu? Cậu thấy đấy, cậu cảm thấy khôn Ngoan đang đến đấy, cậu đã học được nhiều. Hãy cứ nằm im, cho Đến khi nào khôn ngoan hơn."

Sau đó, người em nhảy lên con ngựa của anh sinh viên và đi. Được một giờ, anh cho người đến tháo cho cậu sinh viên xuống. “Ở hiền gặp lành" là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nội dung của các Truyện cổ tích. Trong câu chuyện trên ca ngợi người em sống thật Thà thì luôn gặp may mắn, hạnh phúc. Người anh tham lam dù có Cố gắng đến đâu cũng không bao giờ đạt được mục đích./.
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#26
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:
hoa xương rồng

--------------------------------------------------------------------------------

Trong một khu vườn nọ, cây cảnh và các bông hoa đang trò truyện với nhau. Hoa hồng kiêu ngạo cứ cố vươn mình lên khoe những cái gai đầy kiêu hãnh một cách khoe khoang :

" Tớ thật sự không hiểu sao các bạn lại chỉ có vài cánh hoa trông thật là mềm yếu, phải kiêu hãnh gai góc như tôi thì mới kiêu sa chứ "

Các loài hoa khác cũng thấy thật sự hoa hồng rất đẹp và lại mạnh mẽ, và loài hoa nào cũng cảm thấy sao mình thật xấu xí trước vị công chúa đẹp đẽ này. Nên các loài hoa thay nhau khen ngợi vẻ đẹp của hoa hồng. Hoa hướng dương : "ôi nhìn kìa, cánh hoa của chị sao lúc nào trông cũng thật quyến rũ , giọt sương nào may mắn được đọng lại trên cánh của chị thể kia... giống những viên kim cương ...thật đẹp". Thược dược cũng tấm tắc : " chà, em ước gì cũng có được sư kiêu sa của chị, có được những chiếc gai mạnh mẽ kia..." Lũ cỏ dại nhìn lên đầy ngưỡng mộ : " ông trời sao bất công quá, tại sao chị ấy đã có nhan sắc, lại có được thêm những cái gai đầy quyến rũ thế kia nhỉ? Còn chúng ta sao mãi cũng không được một góc nhan sắc và hương thơm của chị ấy nhỉ? " Cứ như thế ngày qua ngày chúng thi nhau ca ngợi hoa hồng, nó vốn đã kiêu ngạọ nay lại càng chẳng coi ai ra gì, và luôn tự hào nó là bông hoa đẹp nhất vườn và được cậu chủ chăm sóc kỹ nhất.

"Các chị ơi, hình như vườn chúng ta sắp có một loại hoa mới đấy , hồi nãy em thấy cậu chủ chở về một cây gì lạ lắm."

"Xì... cái lũ ấy bao giờ mới xinh đẹp bằng tớ chứ" Hoa hồng bĩu môi.

Lũ hoa im bặt vì thấy cậu chủ đang tiến lại góc vườn, trên tay cậu là một chậu hoa, ồ không phải là hoa, là cây gì thế nhỉ? Các loài hoa thật sự ngạc nhiên vì chưa gặp loại cây này bao giờ. Một loại cây sao không thấy bông hoa nào mà mình đầy gai góc, lại sần sùi và trông xấu xí thô lỗ nữa.

"Chào các bạn" loài hoa lạ ấy đánh tiếng chào vườn hoa khi cậu chủ trở vào trong nhà. " ha...ha..." hoa hồng cười lớn, sao trông cậu xấu xí thế nhỉ, eo ôi nhìn kìa, chả có cái cánh nào toàn gai góc trông kinh quá "

"Hi..hi...Mình là xương rồng mà bạn, hiếm ra hoa lắm bạn ạ, đừng chê những cái gai xinh xắn của mình chứ, đó là cái điểm đặc biệt của họ hàng nhà mình mà.Bạn không biết đó thôi, nhờ những chiếc gai này mà họ hàng nhà mình di chuyển được qua nhiều nơi mà không hề bị héo hay chết đâu nha."

"Hứ, tớ chẳng hơi đâu nói chuyện với những đứa xấu xí như cậu" hoa Hồng quay lưng đi săm se những cánh hoa đỏ rực của mình dưới ánh mai.

Nhờ tính thân thiện, Xương rồng làm quen được bạn bè trong vườn rất nhanh, và vì ai cũng muốn nghe những câu chuyện về những nơi cậu từng đi qua hay được nghe bạn bè Xương rồng kể. Chỉ có hoa hồng dần dần chẳng ai còn muốn chơi với nó nữa, còn Xương rồng thì vẫn muốn được kết bạn với mọi người ,cả hoa Hồng. Nó gọi "hoa Hồng ơi, lại đây chơi chung nào."

"Gì cơ, ta mà lại đi chơi với lũ xấu xí chúng mày ư? Ta đẹp như thế này cơ mà"

"Sao bạn lại nói vậy, trong chúng ta ai cũng có những cái đẹp của riêng mình, không ai là xấu xí cả" Xương rồng ôn tồn trả lời.

"Phải đấy, nhờ Xương rồng mình mới biết chỉ có loài Hướng Dương bọn mình mới là bạn thân của Mặt trời đấy"

"Còn nhờ chúng em mà có thể nuôi lớn được lũ trâu bò đấy nhé" Bọn cỏ dại lên tiếng.

"Còn gì cao quí hơn tình mẫu tử, thế mà mình được làm biểu tượng của thứ tình cảm thiêng liếng ấy đấy nhé" Hoa Cúc vốn trầm lặng cũng cất lời.

"Phải rồi các bạn ạ, chúng ta đôi lúc ngưỡng mộ cái đẹp của người khác mà không biết rằng bản thân chúng ta cũng có những cái đẹp không ai so sánh bằng, chính những cái rất riêng đó của chúng ta đã làm nên cái đẹp riêng của mỗi người. Nhưng nếu chỉ đẹp một mình đơn độc thì cũng sẽ mau tàn lụi và không hoàn hảo, nếu các bạn đoàn kết thì sẽ tạo một vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ và rực rở hơn bất cứ vẻ đẹp gì."

Hoa hồng dường như đã cảm nhận được lời nói của Xường rồng thật sự ý nghĩa. Nó cảm thấy dạo gần đây, sắc đẹp của nó bị giảm đi rất nhiều khi không còn được các bạn vây quoanh và chơi cùng nó như trước đây nữa. Ngược lại những bông hoa trong vườn lúc này, khi cảm nhận được sâu sắc lời nói của Xương rồng , nó nhìn kĩ các bông hoa trong vườn, cũng là các bạn của nó, sao bây giờ nó mới thấy họ cũng rất đẹp. Chẵng phải ai cũng quyến rũ kiêu sa như nó, cũng có những loài hoa thật giản dị nhưng sao mà lại xinh thế. Các bạn của nó sao chơi với nhau vui vẻ và thân thiện được như vậy nhỉ?

Từ đó, hoa hồng biết lỗi và chơi với mọi người rất hoà đồng, và mọi hoa đều nhận ra hoa hồng nay còn đẹp hơn xưa rất nhiều, một vẻ đẹp đằm thắm và quí phái. Nên hoa hồng được coi là hiện thân của thứ tình cảm trong sáng nhất, đẹp đẽ nhất của con người đó là tình yêu.:lay
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#27
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:
Em Bé Thông Minh

Ngày xưa có một ông vua sai một viên quan đi dò la khắp nước tìm người tài giỏi. Viên quan ấy đã đi nhiều nơi, đến đâu ông cũng ra những câu đố oái oăm để hỏi mọi người, nhưng tuy mất nhiều công mà chưa thấy có người nào thật lỗi lạc.

Một hôm, viên quan đi qua một cánh đồng làng kia, chợt thấy bên vệ đường có hai cha con nhà nọ đang làm ruộng: cha đánh trâu cày, con đập đất. Ông bèn dừng ngựa lại hỏi:

- Này, lão kia! Trâu của lão cày một ngày được mấy đường?

Người cha đứng ngẩn người ra chưa biết trả lời thế nào thì đứa con chừng bảy, tám tuổi nhanh miệng hỏi vặn lại quan rằng:

- Thế xin hỏi ông câu này đã. Nếu ông trả lời được ngựa của ông đi một ngày được mấy bước tôi sẽ cho ông biết trâu của cha tôi cày một ngày được mấy đường.

Viên quan nghe nó hỏi lại như thế thì há hốc mồm sửng sốt, không biết đáp sao cho ổn. Ông thầm nghĩ, nhất định nhân tài ở đây rồi, chả phải tìm đâu mất công, bèn hỏi tên họ làng xã quê quán của hai cha con rồi phi ngựa một mạch về tâu vua.

Nghe nói, vua lấy làm mừng lắm. Nhưng, để biết đích xác hơn nữa, vua sai thử lại. Vua sai ban cho làng ấy ba thúng gạo nếp với ba con trâu đực, ra lệnh phải nuôi làm sao cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con, hẹn năm sau phải đem nộp đủ, nếu không thì cả làng phải tội.

Khi dân làng nhận được lệnh vua thì ai nấy đều tưng hửng và lo lắng không hiểu thế là thế nào. Bao nhiêu cuộc họp làng, bao nhiêu lời bàn tán, vẫn không có cách gì giải quyết cả. Từ trên xuống dưới, mọi người đều tin là tai vạ. Việc đến tai em bé con nhà thợ cày. Em liền bảo cha:

- Chả mấy khi được lộc vua ban, bố cứ thưa với làng làm thịt hai trâu và đồ hai thúng gạo nếp để mọi người ăn một bữa cho sướng miệng. Còn một trâu và một thúng gạo, ta sẽ xin làng làm phí tổn cho bố con ta trẩy kinh lo việc đó.

- Đã ăn thì còn lo liệu thế nào? Đừng có làm dại mà mất đầu đó con ạ!

Nhưng đứa con quả quyết:

- Cha cứ mặc con lo liệu, thế nào cũng xong xuôi mọi việc.

Người cha vội ra đình trình bày câu chuyện. Cả làng nghe nói vẫn còn ngờ vực, bắt cha con phải làm giấy cam đoan, mới dám ngả trâu đánh chén.

Sau đó mấy hôm, hai cha con khăn gói tìm đường tiến kinh. Đến hoàng cung, con bảo cha đứng ở ngoài, còn mình thì nhè lúc mấy tên lính canh vô ý, lẻn vào sân rồng khóc um lên. Vua sai lính điệu vào, phán hỏi:

- Thằng bé kia, có việc gì? Sao lại đến đây mà khóc?

- Tâu đức vua - em bé đáp - mẹ con chết sớm mà cha con thì không chịu đẻ em bé để chơi với con cho có bạn, cho nên con khóc. Dám mong đức vua phán bảo cha con cho con được nhờ.

Nghe nói, vua và các triều thần đều bật cười. Vua phán:

- Muốn có em thì phải kiếm vợ khác cho bố mày, chứ bố mày là giống đực, làm sao mà đẻ được!

Em bé bỗng tươi tỉnh:

- Thế sao làng chúng con lại có lệnh trên bắt nuôi ba con trâu đực cho đẻ thành chín con để nộp đức vua? Giống đực thì làm sao mà đẻ được kia chứ!

Vua cười bảo:

- Ta thử đấy thôi mà! Thế làng chúng mày không biết đem trâu ấy ra thịt mà ăn với nhau à?

Tâu đức vua, làng chúng con sau khi nhận được trâu và gạo nếp, biết là lộc của đức vua, cho nên đã làm cỗ ăn mừng với nhau rồi.

Vua và đình thần chịu chú bé là thông minh lỗi lạc. Nhưng vua vẫn còn muốn thử một lần nữa. Qua hôm sau, khi hai cha con đang ăn cơm ở nhà công quán, bỗng có sứ nhà vua mang tới cho một con chim sẻ, với lệnh bắt họ phải dọn thành ba cỗ thức ăn. Em bé bảo cha lấy cho mình một cái kim may rồi đưa cho sứ giả, bảo:

- Phiền ông cầm lấy cái này về tâu đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim.

Vua nghe nói, từ đó mới phục hẳn.

Lập tức, vua cho gọi cả hai cha con vào, ban thưởng rất hậu.

Hồi đó, có một nước láng giềng lăm le muốn chiếm bờ cõi nước ta. Để dò xem bên này có nhân tài hay không, họ sai sứ đưa sang một cái vỏ con ốc vặn rất dài, rỗng hai đầu, yêu cầu xâu một sợi chỉ mảnh xuyên qua đường ruột ốc.

Sau khi nghe sứ thần trình bày mục đích cuộc đi sứ, vua quan nhìn nhau. Không trả lời được câu đó oái oăm ấy tức là tỏ ra thua kém và thừa nhận sự thần phục của mình đối với nước láng giềng. Các đại thần đều vò đầu suy nghĩ. Có người dùng miệng hút. Có người bôi sáp vào sợi chỉ cho cứng để cho dễ xâu v.v... Nhưng, tất cả mọi cách đều vô hiệu, bao nhiêu ông Trạng và các nhà thông thái triệu vào đều lắc đầu bó tay. Cuối cùng, triều đình đành mời sứ thần ra ở công quán để có thì giờ đi hỏi ý kiến em bé thông minh nọ.

Khi một viên quan mang dụ chỉ của vua đến thì em còn đùa nghịch ở sau nhà. Và khi nghe nói xâu chỉ vào vỏ ốc, em bé hát lên một câu:


Tang tình tang! Tính tình tang
Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng
Bên thời lấy giấy mà bưng
Bên thời bôi mỡ, kiến mừng kiến sang
Tang tình tang...

Rồi bảo:

- Cứ theo cách đó là xâu được ngay!

Viên quan sung sướng, lật đật trở về tâu vua. Vua và các quan triều thần nghe nói thì mừng lắm. Quả nhiên con kiến càng đã xâu được sợi chỉ xuyên qua đường ruột ốc trước con mắt thán phục của sứ giả nước láng giềng.
Rồi đó, vua phong cho em bé làm Trạng nguyên. Vua lại sai xây dinh thự ở một bên hoàng cung cho em ở, để tiện hỏi han.
__________________
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#28
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:

Sự Tích Hoa Mẫu Ðơn
~oOo~



Khi Mẫu Ðơn chuẩn bị xuất giá thì mẹ nàng đột ngột qua đời, để lại cho nàng sáu đứa em thơ dại. Biết làm gì đây, đời rồi sẽ ra sao? Mặc dù yêu Ximêôn say đắm, nhưng lời hứa với mẹ sẽ nuôi dưỡng đàn em côi cút đã giữ chân nàng ở lại ngôi nhà rách nát của cha. Chẳng lẽ Ximêôn không hiểu điều đó?

- Hãy gắng chờ ít năm nữa con ạ, chẳng bao lâu em gái con lớn lênvà nó sẽ chăm sóc mấy đứa em thay con - Cha nàng Mẫu đơn nói và nàng đã vâng mệnh. Thế nhưng khi em nàng khôn lớn, có người yêu ước hẹn, nó bèn khóc lóc van xin chị đừng nỡ phá vỡ hạnh phúc của nó. Và thế là nàng Mẫu Ðơn đành hoãn việc đi ở riêng của mình lại.

- Thời gian tựa chim bay, chàng ôi, mà thời gian nghiệt ngã càng thử thách tình yêu của đôi ta, - Nàng Mẫu Ðơn lựa lời an ủi người tình.

- Hết chờ rồi lại chờ, - Ximêôn thốt lên.

Cha mẹ chàng đã bất đồng ý kiến nhau và rốt cuộc họ đã đuổi chàng trai chưa vợ ra khỏi nhà. Sau khi hứa với nàng Mẫu Ðơn là sau hai năm nữa sẽ nhờ chim bồ câu đưa thư trả lời, Ximêôn và một bông hoa trắng cắp ở mỏ bay về tìm nàng Mẫu Ðơn.
- Cảm ơn chàng, chàng yêu quý của em - Nàng Mẫu Ðơn viết cho Ximêôn - Em hiểu là chàng vẫn chưa quên em. Và những tháng năm qua em cũng không một phút quên chàng. Nhưng đôi ta còn phải chờ đợi thêm hai năm nữa, khi ấy em trai của em mới kịp lớn khôn.

Trong khi đứa em trai phương trưởng nó hình dung ra những chuyến du ngoạn đầy thú vị, và nó không muốn cho chị gái ra khỏi nhà. Nàng Mẫu Ðơn lại báo tin cho Ximêôn biết và xin chàng cố chờ thêm hai năm nữa. Rồi hai năm ấy lại trôi qua, nàng Mẫu Ðơn vẫn không nỡ bỏ nhà mà đi, vì cô em thứ ba của nàng cũng đã đến tuổi thành hôn.

- Anh sẽ sang bên kia đại dương tìm kiếm hạnh phúc - Ximêôn viết - Hãy cho anh biết nàng muốn quà gì để anh gửi tặng.
- Xin chàng hãy gửi cho em một bông hoa để em trồng ở vườn nhà, - nàng Mẫu Ðơn đáp lại người tình như vậy, vì nàng không tin rằng chàng sẽ thành đạt và trở nên giàu có ở một xứ xa lạ, để rồi có thể gửi vàng, bạc, châu báu về cho mình.

Năm tháng cứ trôi qua vùn vụt... Sau hai năm, Ximêôn lại đánh tiếng hỏi nàng Mẫu Ðơn chừng nào thì hai người có thể làm lễ thành hôn được. Và nàng lại bắt chàng phải kiên trì chờ hai năm nữa, vì giờ đây đứa em trai đã lớn của nàng đang muốn chu du thiên hạ. Hiện giờ nàng chỉ còn phải chăm một đứa em nữa thôi.

Nàng Mẫu Ðơn nào ngờ được căn bệnh quái ác đã cướp đi đứa em gái của nàng sớm có gia thất và bỏ lại ba đứa trẻ côi cút. Ai sẽ chăm sóc, nuôi dậy chúng một khi cha của chúng suốt ngày bận bịu với công việc cấy cày? Nàng không che chở chúng sao được khi cha của chúng đã đe rằng sẽ đem chúng vào rừng và bỏ cho sói ăn thịt?

Nàng Mẫu Ðơn lại báo cho người bạn đời tương lai của mình các tin trên để chàng đừng vội về khi người em rể của nàng chưa tìm được người vợ mới. Tang lễ xong xuôi, người em rể đi bước nữa. Nhưng mụ dì ghẻ này rất ghét những đứa con riêng của chồng, vì vậy nàng Mẫu Ðơn lại phải gánh trách nhiệm nuôi dạy chúng.

Chẳng ai biết được nàng Mẫu Ðơn và Ximêôn có còn tiếp tục tính toán chuỗi ngày còn lại trước lễ cưới không, chỉ biết rằng khi những đứa trẻ mồ côi kia phương trưởng, nàng Mẫu đơn lại tiếp tục nuôi dạy thêm những đứa cháu con của cô em út nữa. Năm tháng tựa bóng câu qua cửa sổ, gánh nặng gia đình đã làm tấm lưng mẫu đơn còng xuống, nỗi buồn và sự sầu muộn khiến tóc nàng bạc trắng và khi nàng trở nên thừa đối với mọi người, thì tất cả những đứa trẻ mà nàng từng chăm bẵm xưa kia cũng quên luôn cả con đường dẫn đến túp lều tồi tàn của bà già đơn độc. Sáng sáng, nàng chống gậy đi ra cổng, và dừng lại đó rất lâu có ý trông chờ chim bồ câu bay tới để nhờ chim nhắn với người phương xa mấy lời:

- Em vẫn đang chờ chàng, chàng yêu quý của em!

Khi chim bồ câu mang tin trở lại, nàng Mẫu Ðơn mới bắt đầu chuẩn bị cho ngày cưới. Nàng mặc chiếc áo khoác ngoài may từ hồi còn trẻ, đội vành hoa cưới lên đầu, và cứ như thế nàng đứng suốt ngày trước cổng ra vào, khiến khách qua đường phải ngạc nhiên, mỉm cười. Nhưng cái con người mà nàng chờ đợi kia vẫn không trở về. Ngay cả những đứa trẻ mà nàng từng nâng niu, cho bú mớm cũng không quay trở lại. Song le, lưỡi hái của tử thần, điều mà Mẫu Ðơn không cầu xin, không ước muốn đã vẫy gọi nàng. Mẫu Ðơn được đưa ra nghĩa địa. Trên nấm mộ của nàng, người ta đắp lên một đụn cát vàng. Khi đám người làm phúc đi khỏi thì có một người lạ mặt tìm đến nghĩa địa và đứng lặng trước nấm mộ đất còn mới nguyên

- Vậy là đôi ta đã gặp nhau ở đây, Mẫu Ðơn của ta, - Người lạ mặt nói làm như người đang nằm dưới đất sâu kia có thể nghe thấy được. - Ta đã hối hả đáp tầu vượt đại dương, đã cưỡi lạc đà băng qua sa mạc, đã vượt bao đầm lầy với hy vọng được thấy mặt nàng. Ta mang về cho nàng một bông hoa. Ðể tỏ lòng thương nhớ nàng, ta đặt tên cho hoa là Mẫu Ðơn và hương của nó toả ra sẽ thật là ngọt ngào.
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#29
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:
Ơn Đền Nghĩa Trả

--------------------------------------------------------------------------------

Linh Tiên, người huyện Thiên Hưng, tỉnh Triết Giang, lấy chồng từ năm mười sáu tuổi. Chẳng may năm ấy trời khô hạn. Chồng đi lấy nước bị xẩy tay mà té… giếng chết, khiến Tiên rầu rầu bảo dạ:
- Vợ chồng hương lửa đang nồng, mà vội sớm lìa xa, ắt kiếp trước có làm chi không phải!
Chị chồng của Linh Tiên là Ngọc Thư, thấy em còn trẻ người thon đẹp, mà sớm tối bao ngày chỉ đặng một mình ên, mặc cho bão rớt mưa tuôn cũng… ì ra như dzậy, nên nhân lễ mãn tang vừa xong ngay hôm đó, mới gọi Tiên vào mà nói nọ nói kia:
- Hôm nay em đã mãn tang chồng, thì đừng… thủ tiết làm chi nữa. Chớ hoa có thời. Em có lứa - mà chẳng chịu bước thêm - thì lỡ mai sau muốn phang luôn cũng không làm sao tới được!
Linh Tiên lắc đầu, đáp:
- Em đã lấy chồng, thì sống là người họ Phạm. Chết thì làm ma nhà họ Phạm. Chớ không canh cải gì nữa cả!
Ngọc Thư vội đảo mắt một vòng. Khi tin chắc là chẳng có ai, liền ghé miệng vào tai của Linh Tiên mà gấp gáp nói rằng:
- Đã làm thân con gái, thì phải biết nuôi… chồng nuôi con. Nay em chửa có con, mà chồng lại vui chơi nơi miền đất lạnh, thì em phải kiếm chồng khác mà… nuôi nữa. Chớ lẽ nào… rảnh thế được hay sao?
Linh Tiên ngoác miệng ra cười một tiếng thật to, rồi liến thoắng nói rằng:
- Nuôi chồng. Vừa hao mòn tâm trí. Vừa tổn hại xác thân, thì mập béo chi mà vơ vào cho mệt?
Ngọc Thư cơ hồ như tức nghẹn. Máu dồn lên tới cổ, đỏ cả mang tai, lớn tiếng mà nói rằng:
- Chẳng thà em xấu chị còn đở tức. Đằng này em mượt mà. Êm tựa như nhung, mà để phí cả ra, thì còn nói đến chữ khôn ngoan làm chi nữa!
Linh Tiên biết chị mình đang giận, nên chẳng dám nói thêm, mà chỉ quay lưng rồi thì thầm bảo dạ:
- Mặc ai nói ngã nói nghiêng, thì ta cũng vững như kiềng ba chân. Thôi thì chị thương tình chị nói, miễn mình không chịu thì thôi. Chớ đừng nói tới nói lui mà hư tình thân thuộc.
Từ đó, Linh Tiên lấy nghề dệt cửi làm phương cách sinh sống, cho tới hơn năm mươi vẫn còn bên khung cửi. Một hôm, sửa soạn đi nằm. Chợt nghe tiếng gõ cửa ầm ầm thật cấp bách. Linh Tiên nhìn ra, thấy một thiếu nữ tay xách bị cói đang đứng ngoài khung cửa. Tiên lấy làm lạ, bèn vội vã hỏi rằng:
- Nàng tên gì? Ở đâu? Sao lại đến đây trong đêm dài tăm tối?
Người con gái đáp:
- Con họ Thôi, tên là Tiểu Oanh, vì trốn đứa đạo tặc mà trôi dạt đến đây, mong bà nhủ lòng thương mà ra tay cứu giúp.
Linh Tiên vội mời Tiểu Oanh vào nhà. Khêu ngọn đèn lên, thì thấy một trang thiên hương quá chời là đẹp, liền thì thào tự nhủ:
- Hồng nhan đa truân. Chẳng vậy mà người con gái này khổ vì cái sắc của mình, đến nỗi phải chạy trốn trong đêm, thì mới biết có sắc chưa hẳn là sung sướng!
Đoạn, mời Tiểu Oanh ngồi xuống. Lấy chén súp cho ăn, rồi thong thả nói rằng:
- Ta làm nghề dệt cửi. Thiếu của… để mà chỉ có của ăn, thì làm sao cứu giúp nàng cho đặng?
Tiểu Oanh liền đảo mắt một vòng, biết ngay nhà trống vắng, thiếu hẳn bóng đàn ông, nên hớn hở hớn ha trải phơi niềm tâm sự:
- Bà ở một mình. Thôi thì nhận con cho có người cười vui trong sớm tối. Đỡ bớt quạnh hiu, mà lại có kẻ chăm sóc khi Đông về giá lạnh. Còn việc dệt cửi thì con thừa sức làm. Bà chẳng phải lo, đến miếng cơm của người đang sức sống…
Linh Tiên mừng thầm trong bụng, nhưng chưa tiện nói ra. Mãi một lúc sau mới thì thào bảo dạ:
- Ở đời thường xảy ra cảnh hoạn nạn, đau khổ của kẻ khác, nhưng lại là niềm sung sướng hân hoan của chính mình. Thôi thì sự tình đã ào ra như rứa, ta cũng chơi luôn. Chớ không thể để mất cơ may đang bày ra trước mắt!
Nghĩ vậy, liền bảo Tiểu Oanh thu xếp đồ đạc, rồi chỉ vào cái giường để ở góc nhà, mà nói:
- Từ nay, bà cháu mình ngủ với nhau trên cái giường này. Vui cùng hưởng, hoạn nạn cùng chia. Dẫu chẳng máu mủ bà con, nhưng cũng cứ coi nhau như là ruột thịt…
Tiểu Oanh mừng quá, vội chắp tay van vái Trời Đất, rồi quay lại nhìn vào mắt của Linh Tiên, mà tha thiết nói rằng:
- Có người, suốt đời chỉ quanh quẩn với những lợi ích của chính mình, mà chưa một lần thoát ra để nghĩ tới người khác. Còn bà. Lòng như biển cả. Lượng tựa non cao, khiến con đây mát lòng mát dạ.
Nói rồi, vào trong thay áo quần đi ngủ. Lúc bước ra, Linh Tiên sửng sốt mà nói rằng:
- Ta đã bằng ấy tuổi, mà đứng trước sắc đẹp của con, còn muốn… chết. Huống chi bọn phàm phu tục tử. Háo sắc háo danh, thì có thể bán cả… tổ tiên để mong chút duyên may nhỏ xuống đời khô khát…
Tiểu Oanh phì cười, nói:
- Nếu mà được như dzầy, thì thiệt là quá đã!
Từ đấy, một già một trẻ tâm đầu ý hợp, nên việc làm như mây bay nước cuốn. Chẳng vấp váp gì hết cả. Đã vậy Tiểu Oanh lại khéo tay, nên vải dệt ra đều trơn bóng mịn màng, khiến thiên hạ đặt hàng như tôm về buổi sáng. Linh Tiên thấy vậy, muốn đem chuyện Tiểu Oanh đang ở tạm nhà mình nói cho chòm xóm nghe, nhưng Tiểu Oanh gạt phắt, còn nói với lại rằng:
- Nếu bà không cẩn thận lời nói, con sẽ ra đi. Chớ không thể ở thêm giây phút nào nữa cả!
Linh Tiên rụt rè nói:
- Người ta gặp một chút. Nào có mất mát gì. Sao con lại khó khăn với mình nhiều như thế?
Tiểu Oanh nhẹ nhàng đáp:
- Tai vách mạch rừng. Con chỉ sợ tên đạo tặc biết con trú ngụ nơi đây, thì hai bà cháu sẽ ra người thiên cổ. Vả lại, nếu là bạn gái đến thì tiếp họ cũng chẳng ngại gì. Chỉ sợ kẻ thất phu, ăn nói sàm sỡ, làm nhơ bẩn chốn tâm can, thì dẫu chuyển kiếp cũng khó mà ra được.
Một hôm, có Phí Sinh là danh sĩ trong ấp, nhân tiện đi ngang qua nên ghé vào thăm. Chợt thấy Tiểu Oanh đang ngồi bên khung cửi, bèn lẹ miệng hỏi rằng:
- Nàng có họ hàng gì với bà này? Sao lại lạc đến đây cho đời thêm… tươi sáng?
Tiểu Oanh liền nhìn Linh Tiên cười cho một phát. Tiên dịu giọng nói rằng:
- Nó là cháu bên họ nhà chồng. Chớ chẳng xa lạ gì hết cả.
Phí Sinh hớn hở nói:
- Tôi nghĩ là nàng chưa có chồng. Có đúng vậy chăng?
Tiên cười cười đáp:
- Cháu tôi tuổi Dần, hơi cao số, nên đến hôm nay vẫn chưa hiểu được gia đình nó ấm áp mần răng!
Phí Sinh như trống dồn trong bụng. Chẳng biết nói sao, nên từ tạ ra về. Hôm sau, đợi lúc Linh Tiên đem hàng đi bỏ mối, Phí Sinh mới chận lại, rồi dúi vào tay hai chục lượng vàng ba số chín, mà khẩn thiết nói rằng:
- Tôi chưa vợ. Cháu bà chưa chồng. Vậy hai chục lượng này, có là nhịp cầu nối kết được không đây?
Linh Tiên lắc đầu, đáp:
- Chuyện duyên nợ không thể lấy tiền bạc ra mà đo được.
Phí Sinh vội thò tay vào bọc. Dúi thêm mười lượng nữa, rồi ấp úng nói:
- Chưa đến mức ăn thua, mà mất toi ba chục lượng vàng ròng. Bà còn chưa vừa ý, thì xem nhau như… đồng hương làm sao được?
Linh Tiên liền mở ruột tượng ra, nhét vàng vào, rồi vui vẻ nói:
- Tôi chỉ mở lời. Còn được hay không, thì số vàng kia cũng chẳng bao giờ trở lại…
Phí Sinh xua tay, đáp:
- May thì được vợ. Không may thì được… thú đau thương. Có chi mà hối tiếc!
Tối ấy, lúc nằm ngủ chung. Linh Tiên mới đem chuyện của Phí Sinh ra mà kể, không quên dặm mắm thêm muối cho tăng phần ướt át. Kể xong, mới hỏi Oanh rằng:
- Phép lạ của tình cờ chỉ đến một lần. Không đến lần thứ hai. Vậy con nghĩ sao về tình duyên đang đến?
Tiểu Oanh lặng người đi một chút, rồi chậm rãi đáp:
- Muốn tiến đến một cuộc tình trước mặt, thì phải quên đi những chuyện tình sau lưng. Con chưa có chuyện tình sau lưng, nhưng không thể lấy thằng này làm chồng cho được!
Linh Tiên thất sắc, hỏi:
- Sao con lại nói tùm lum như thế?
Tiểu Oanh mạnh dạn:
- Mới gặp người ta, mà đã muốn chuyện đá vàng, là người thiếu hiểu biết. Mới nhìn thấy sắc, đã chết lịm tâm can, thì cái yêu kia sẽ tàn tạ chậm nhanh theo cái sắc đang còn hay đi… xuống, thì đúng là người thiếu chung thủy. Mới trao đổi một vài câu. Chưa tỏ tường tính nết. Cái ở cái ăn, mà vội xáp vô như mèo thấy mỡ, thì đúng là người bồng bột ham vui. Chỉ biết thỏa mãn cái ham chớ chẳng biết nghĩ suy gì hết cả…
Đoạn, thở hắt ra một cái, rồi chắc nịch nói rằng:
- Người mà hội đủ ba cái tầm bậy đó. Lấy đặng hay sao?
Linh Tiên suy nghĩ một hồi lâu, rồi chậm rãi giải phân điều hơn thiệt:
- Phí Sinh là danh sĩ trong ấp. So với ngoài xã hội, cũng có tiếng tăm. So với kẻ giàu sang, cũng thuộc thứ ngang hàng vai vế. Nay con chịu nhận Phí Sinh làm chồng, thì trước là có sự nể vì ngoài xã hội. Sau có tiền để làm đẹp với người ta, thì khỏi phải tiếc lo tuổi xuân mình qua chóng…
Rồi ngừng lại một chút để thở, đoạn nắm lấy tay của Tiểu Oanh, mà thận trọng nói rằng:
- Không có đàn bà xấu. Chỉ có đàn bà không có tiền để làm đẹp. Nay con có cơ hội để kiếm tiền. Há lại chịu bó mình trong cái cực hay sao?
Tiểu Oanh cười cười đáp:
- Bà có nhận đồ hối lộ của người ta hay không mà nói cho người ta nhiều dữ dzậy?
Linh Tiên vội đưa tay vào trong ruột tượng. Lôi ra một lượng vàng ba con chín, rồi ngập ngừng nói rằng:
- Sáng nay, Phí Sinh có nhờ ta làm nhịp cầu nối kết, để tính chuyện phu thê. Ta chưa kịp nhận, thì Phí Sinh đã dúi vào tay lượng vàng này, nói là để bà mua trầu ăn tới tới. Ta vui mừng trộm nghĩ: Chưa đám cưới đã rộng rãi thế này. Chừng đón họ rước dâu, ắt tài lộc sẽ đến chơi nhiều hơn nữa.
Tiểu Oanh nghe vậy, mới hổng biết nói sao, bèn thì thầm tự nhủ:
- Ân công của ta dẫu suốt đời bên khung cửi, cũng khó lòng kiếm được một chỉ một phân. Chớ nói chi đến lượng vàng ba con chín. Nay ta được ân công đùm bọc. Vui nhọc xẻ chia, thì không thể vì chuyện đâu đâu mà đánh mất thâm tình đang có được.
Nghĩ vậy, bèn nở một nụ cười thật tươi, mà hớn hở nói rằng:
- Bà đã lỡ nhận tiền của người ta mà con không cho gặp là bất nhân. Được bà cứu vớt mà vội vã quên ơn là cái phường bất nghĩa. Con tuy không phải là người tài cao hiểu rộng, nhưng quyết không trở thành thứ bất… tum lum như thế!
Đoạn, nhìn vào mắt của Linh Tiên, mà thủng thẳng nói rằng:
- Con có thể vì bà mà tiếp kiến ông ấy một lần - nhưng chữ nợ duyên - Chắc ăn là hổng có!
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#30
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:
Chuyện chàng Lía

--------------------------------------------------------------------------------

Ngày xưa ở một làng nọ có vợ chồng người làm vườn nghèo khổ, sinh được đứa con trai đặt tên là Lía. Cha qua đời, Lía còn nhỏ tuổi chịu cảnh mồ côi cha. Thường ngày Lía theo mẹ bắt ốc hái rau để sống. Lúc lên mười tuổi, mẹ Lía đem Lía đợ cho một người nhà giàu trong vùng để chăn trâu.

Thấy mẹ ăn uống cực khổ, Lía mới trộm gà của chủ đem về làm thịt cho mẹ ăn. Mẹ Lía biết chuyện rầy la dữ lắm, Lía mới thôi không trộm gà nữa.

Thường ngày, Lía đuổi trâu ra đồng để mặc trâu đi đâu thì đi, còn Lía tụ tập vài ba đứa trẻ hoang, hết bày việc đánh nhau bằng gậy gộc, lại rủ nhau trộm bầu bí, khoai lang củ sắn.

Một lần nọ, thằng Lía để trâu lạc vào vườn của phú ông làng bên cạnh. Ông phú hộ truyền bắt trâu cột lại để bắt đền kẻ để trâu phá vườn ông.

Bị mất trâu, thằng Lía không dám về nhà, nó rủ thằng Hung và thằng Hoang đi tìm. Tình cờ nó nhìn được con trâu t rong nhf ông phú hộ. Nó liền bàn kế hoạch với hai thằng bạn của nó, đốt nhà ông phú hộ, để mọi người lo cứu, bấy giờ nó lẻn vào bắt trâu đem về cho chủ.

Chủ hay được, sợ liên luỵ, nên đuổi thằng Lía đi. Nó trở về sống với mẹ già, và xin với mẹ nó cho nó đi học. Mẹ nó phải van lạy ông thầy để cho nó được học .Nó rất tối dạ, lại hay sinh sự đánh nhau, nên thầy học không dám dạy nó nữa. Thằng Lía liền hợp với thằng Hung và Hoang và vài đứa trẻ ngỗ nghịch đi bắt trộm gia súc của người giàu trong làng, rồi đem về chia cho người nghèo. Hành động của thằng Lía càng ngày càng lộng hành, người trong làng mới hiệp nhau đầu cáo với quan trên. Làng lính liền tìm bắt Lía. Nó hoảng sợ trốn lên tỉnh, được một viên đội tâm phúc của quan tỉnh thâu nhận là thuộc hạ. Lía bèn học tập côn quyền võ nghệ. Càng lớn lên, Lía càng có sức mạnh hơn người. Tánh nghĩa hiệp nên gặp chuyện bất bình là xông vào can thiệp, vì vậy giữa Lía và bọn cường hào ác bá thường có những trận gây gổ đánh nhau.

Năm đó có mở khoa thi, những ai giỏi luồn cúi hoặc có tiền đút lót thì được đỗ, bằng không thì bị đánh hỏng dù văn hay chữ tốt. Tuy học hành dở dang, Lía cũng vào thi, nhân thấy bọn tham quan bắt nạt, ngược đãi kẻ nghèo nàn, Lía vô cùng bất bình. Thừa đêm tối, cùng đám bạn lẻn vào nhà viên chủ khảo giết chết người này rồi trốn vào rừng.

Quân mở cuộc truy nã ráo riết. Lía chiêu tập đám người vô nghề nghiệp lẩn lút trong rừng chống lại quan quân. Nhiều trận hai bên giáp chiến dữ dội, quan quân đại bại phải rút lui. Lía đem bộ hạ tràn ra làng xóm chiếm đoạt tài sản của người giầu chia cho người nghèo. Thanh thế ngày càng lớn. Triều đình phải treo giải thưởng cho ai bắt sống hoặc phải giết chết được thắng Lía. Nhưng Lía giỏi lẩn trốn, thành ra quan quân phải bắt mẹ Lía đem ra thị oai. Nếu thằng Lía không chịu ra nạp mình thì mẹ nó bị giết. Ðộng lòng hiếu đễ, thằng Lía phải chịu nạp mình cho mẹ được tha. Nhưng chẳng bao lâu Lía trốn thoát.

Bấy giờ, Lía phải trốn tránh rất là cực khổ, đói khát nhiều ngày. Bất đắc dĩ, Lía phải cải trang sửa dạng trốn vào trong thành để kiếm sống. Quan quân dò xét biết liền bao vây lấy thành mở cuộc lục xét khắp nơi. Lía trốn vào nhà một ông lão hiền lành. Lúc này, Lía nghe tin mẹ mình bị bệnh mà chết, các bộ hạ lớp bị bắt, lớp bị giết thì đau lòng, không thiết gì sống nữa. Một hôm, Lía nói với ông lão rằng: "Chưa bao giờ tôi bị thất bại chua cay như lần này. Có lẽ trời hại tôi. Vậy ông hãy chặt đầu tôi đem nạp cho quan trên để lãnh thưởng, chỉ còn cách đó để đền đáp ơn ông".

Ông lão bằng lòng. Lía tự trói mình để cho ông đẹm nạp quan trên. Thế rồi Lía bị đem ra trảm quyết.

Ðến sau có câu hát cảm thương Lía như sau:

Chiều chiều én liệng Truông Mây

Cảm thương chú Lía bị vây trong thành

"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#31
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:
Công Chúa Thủy Cung Gái Ngoan Dạy Chồng

--------------------------------------------------------------------------------

Ngày xưa có một người đàn ông giàu, vợ chết sớm, chỉ có độc một người con trai . -Đứa con vốn người xấu nết, đần độn, lại là tay chơi bời lêu lổng không chịu học hành hay làm ăn gì cả.

Thấy con không lo nối nghiệp nhà, người nhà giàu rất buồn phiền, biết rằng của cải của mình sẽ có một ngày đội nón ra đi mà thôị Bởi vậy, ông bèn tính chuyện kiếm cho con một người vợ khôn ngoan đảm đang, để may ra nó sẽ ngăn chặn tay chồng, bảo vệ một phần nào cơ nghiệp.

Nghĩ vậy, ông cất công đi khắp nơi tìm kiếm, nhưng đi đã nhiều nơi mà vẫn chưa thấy một người nào vừa ý.

Một hôm, đến một vùng kia, nhân mỏi chân, ông nghỉ lại một gốc đa bên đường. Ông bỗng thấy ở một cây táo gần đấy có một bọn trẻ đang tranh nhau trẩy ăn . Một chốc sau, một cô gái tuổi chừng đôi tám, cũng đến trẩy táọ Ông mới lân la lại gần hỏi xin ăn .

Lúc này, táo chín đã bị bọn người trước trẩy hết, chỉ còn những quả xanh, nhưng cô gái cũng cố chọn lấy những quả ương ương đưa cho khách.

Thấy cô gái tốt bụng, ông ta nghĩ : "Sởi lởi, trời gởi của cho, quăn co, trời gò của lạị Chỉ có người nào tốt bụng với mọi người mới xứng đáng được hưởng giàu có sung sướng".

Bởi vậy, ông mới tìm đến nhà cô gái, giả làm một người lỡ độ đường, xin nghỉ trọ một tốị Và rồi ông được gia đình cô gái ân cần tiếp đãị

Để thử xem cô gái có khôn ngoan không, ông lân la làm quen với nàng. Khi biết cô sắp đi chợ, ông đưa ra một quan tiền nhờ mua hộ cho mình "một nắm gió, một bó lửa". Cô gái chẳng nói chẳng rằng, mua về cho ông một cái quạt và một con dao đánh lửạ Thấy thế, ông thầm khen ngợi, nhưng vẫn định thử thêm cho biết.

Qua ngày hôm sau, ông dậy sớm, giở tay nải đưa cho cô mấy bát gạo nếp, nhờ nàng thổi giúp cho mình một nồi vừa cơm vừa bánh để ăn và đem đi ăn đường. Cô gái không từ chối, vội lấy gạo ra vo . Trước khi cho vào nồi, nàng bớt lại một ít giã làm bột vắt bánh rồi hấp luôn vào cơm . Khi nàng bưng ra, ông già lấy làm vừa ý, cho là con người đó đủ cả đức hạnh, khôn ngoan, đảm đang ít có. Bèn quyết định trở về sửa soạn lễ hỏi cho con trai làm vợ.

Đứa con trai của ông từ ngày có vợ lại càng lêu lổng ; hắn thường bỏ nhà đi đánh đàn, đánh đúm với bọn vô lại, làm cho ông hết sức buồn. Và điều làm ông lo lắng nhất là hắn thỉnh thoảng lại trộm tiền của ông, khi dăm bảy quan, khi một vài vác, tung vào cuộc đỏ đen . Mặc dù ông đánh đập, mặc dù vợ hắn khuyên lơn, nhưng hắn chứng nào vẫn tật ấỵ Dần dần ông buồn phiền thành bệnh. Một hôm, biết mình sắp chết, ông gọi con dâu đến bên giường dặn nhỏ :

- Này cha đã gần đất xa trờị Chồng con là một thằng "Phá gia chi tử", cơ nghiệp này chỉ còn một sớm một chiều mà thôi . Cha rất thương con xấu số. Từ lâu cha làm ăn dành dụm, có để được một hũ vàng chôn ở sau vườn. Vậy cha cho riêng con hũ vàng đó, đừng cho chồng con biết. Sau này chồng con có thật sự ăn năn hẵng giúp cho nó làm lại cuộc đờị

Đứa con trai ông sau khi người cha qua đời, lại càng chơi bời mặc sức. Vợ hết khuyên lơn đến cầu khẩn, hắn chẳng những đã không nghe lại còn phũ phàng với vợ. Mỗi lần thua bạc, hai người lại càng xô xát. Nhiều lần vì vợ cản trở, hắn đánh đập vợ không tiếc tay và làm nhục nàng trước mặt mọi ngườị Một hôm để khỏi vướng, hắn viết giấy cho vợ đi lấy chồng khác rồi đuổi nàng ra khỏi cửạ

Từ đó, hắn phỉ chí tung hoành không một ai dám cản. Quả như lời đoán của bố hắn, mấy chục mẫu ruộng đều lần lượt "nướng" vào sòng bạc. Hết ruộng vườn tới nhà ở, chẳng bao lâu tất cả cơ nghiệp mấy đời lưu truyền lại đều sạch sành sanh . Cuối cùng không một đồng dính túi, không một nghề cầm tay, hắn đành bỏ làng mạc quê quán, đi lang thang khắp đầu đường xó chợ, ngửa tay xin ăn qua ngàỵ

Còn về người đàn bà sau khi bị chồng đuổi, mới đổi tên, tìm đến trấn thành mở một ngôi hàng nước. Sau ít lâu, kiếm được một số nhỏ, nàng bắt đầu buôn hàng tấm. Số vốn của nàng ngày một lớn dần. Một hôm, gặp hai em bé gái mồ côi đi ăn xin, nàng thương tình đưa về nuôi làm con, coi như ruột thịt. Cuộc đời dần dần nở hoa trước mắt nàng. Trong một dịp đi tìm kiếm củi, hai con nàng nhặt được một khúc gỗ mục, về chẻ ra thấy có mấy thoi vàng. Có vốn lớn lại có tài kinh doanh, nên chẳng bao lâu, nàng trở nên giàu có, nổi tiếng trong trấn. Tiền bạc tuôn về như nước. Tuy sống sung sướng nhưng nàng vẫn ở một thân một mình. Thấy nàng giàu có, nhiều kẻ ngấp nghé muốn "gá nghĩa Châu Trần", nhưng người đàn bà ấy nhất thiết từ chối mọi lời đường mật. Mặc dù người chồng bạc bẽo và mặc dầu mười lăm năm xa cách, nàng vẫn không quên được tình xưa nghĩa cũ. Đã nhiều lần nàng thuê người lần đi các chợ búa phố phường dò hỏi nhưng tin tức của chồng càng hỏi, càng bặt tăm .

Năm ấy, sau mấy tháng hạn, lúa khoai chết mòn trên những cánh đồng nứt nẻ. Giá gạo cứ lên vùn vụt. Ngoài đường, người đi xin ăn kéo từng đoàn. Người đàn bà lúc này đã là bà chủ hiệụ Bà xin phép quan trên cho mình đem tiền gạo ra phát chẩn cho kẻ khó. Làm như thế, nàng còn mong một khi thấy yết thị dán khắp thôn xóm thì chồng mình tất sẽ lần mò về, nếu hắn còn sống. Y như thế thật, ngày bắt đầu phát, nàng đã thấy bóng dáng của chồng ngồi ở hàng cuối đội quân lĩnh chẩn. Đúng là hắn. Từ ngày bắt đầu cầm bị gậy đến nay, hắn vẫn chưa có cách gì để sống khá hơn và đỡ hèn hạ hơn trước. Bây giờ nghe nói có phát chẩn, hắn vội mò đến đây và ngồi đầu hàng về phía tả. Thế nhưng khi phát, những người giúp việc cho bà chủ hiệu lại được lệnh phát từ phía hữu lạị Khi sắp sửa đến lượt hắn thì bọn họ tự nhiên nói lớn :

-- Hôm nay đã hết gạo, mời bà con về đợi đến ngày mai !

Hắn buồn bực trở ra . Qua ngày sau, hắn cố tìm đến thật sớm, ngồi vào đầu hàng bên hữụ Nhưng hắn không ngờ, những người phát chẩn hôm nay lại bắt đầu phát từ phía bên kia . Lúc sắp phát đến hắn thì chúng lại giơ thúng không lên :

-- Hôm nay thế là lại hết gạọ Bà con hãy đợi đến mai .

Hắn thở than cho số đen đủi, lần trở ra về. Qua hôm sau, lại mò đến thật sớm. Lần này hắn len vào ngồi đúng chính giữa đội quân lĩnh chẩn. Trong bụng hắn nghĩ lần nầy thì không để mất phần được. Nhưng đến giờ phát, hắn không ngờ người nhà của bà chủ hiệu hôm nay lại phát hai đầu phát lại và cuối cùng người không được gì cả, vẫn lại là hắn. Ba lần hỏng cả ba, hắn rất ngao ngán, bèn đánh liều tìm đến dinh cơ bà chủ để xin ăn . Gặp hai đứa con gái nuôi của vợ, hắn ngả nón kêu van hết lờị Ở trong nhà ; người đàn bà nhìn ra biết là chồng, đã do mưu của mình mà đến đây, bèn sai người hầu ra hỏi, xem hắn có biết làm việc gì không để thuê mượn. Nghe hỏi thế, hắn vội trả lời :

-- Xin ông bẩm với bà lớn rủ lòng thương, cho tôi được ở hầu bà, rửa bát, quét nhà, mọi việc tôi đều xin hết sức. Chỉ cho tôi ăn ba miếng là đủ rồi !

Người nhà trở ra cho hắn biết bà chủ nhận lờị Từ đó, hắn chăm chỉ làm lụng, cố làm vừa lòng chủ. Nhưng chung quy hắn vẫn không biết chủ chính là vợ cũ của mình. Về phần người vợ cũng không hề để lộ một tí cho hắn biết, chỉ dặn hai con và người nhà đối đãi tử tế mà thôi . Sau một thời gian, thấy hắn chịu khó làm ăn, người đàn bà mừng lắm. Một hôm nàng cho gọi hắn lên nhà hỏi xem có biết chữ nghĩa gì không ! Hắn đáp :

- Tôi lúc nhỏ được đi học có biết ít nhiềụ

- Vậy từ mai trở đi, anh không hầu hạ nữa, cho anh ở gian nhà khách dạy đám trẻ học tôi sẽ trả mỗi năm ba mươi quan .

Nghe nói, hắn tưởng không có gì sung sướng hơn thế nữa, cảm thấy lòng nhân đức của bà chủ đối với mình bằng trời bằng biển, vội nhận lời ngay . Từ đó, hắn đóng vai thầy đồ cố sức làm cho chủ tin cậỵ Nhưng người vợ vẫn thử mãi không thôi .

Một lần, gặp ngày tết, bà chủ sai lấy tiền ra cho kẻ hầu người hạ. Nàng nói :

- Ta cho mỗi người năm quan, hãy mang đi đánh bạc cho vui, nếu hết sẽ cho thêm . Thầy đồ ta cũng được năm quan tiền. Nhưng trong khi mọi người đem tiền nướng vào xóc đĩa, bài mười, thì trái lại, hắn mang nguyên vẹn số tiền đó về gửi cho chủ. Bà chủ hỏi :

- Tại sao anh không thích đánh bạc ? Hắn trả lời :

- Bẩm bà, tôi ngày xưa, vì cờ bạc mà đến nông nỗi nàỵ Cho nên bây giờ buộc chỉ cổ tay thề rằng không đụng đến nó.

Thế rồi luôn miệng, hắn kể hết cho chủ nghe, từ cuộc đời cũ có ruộng nhiều, có vợ ngoan như thế nào, rồi bán ruộng đuổi vợ ra sao, cho đến lang thang đói rách, và ngày nay đã ăn năn hối lỗi v.v... Bà chủ hỏi :

- Anh còn thương vợ nữa không ? Hắn rầu rĩ :

- Tôi đã nhiều lần dò tìm mà không thấỵ

- Nghe anh nói tôi rất thương tình. Vậy tôi cho anh năm quan để anh đi tìm vợ. Nếu hết tiền mà vẫn chưa thấy, anh cứ về đây, tôi sẽ cho thêm mà tìm cho rạ

Hắn mừng rỡ vâng vâng, dạ dạ, mang tiền đi tìm. Nhưng sau ba tháng trở về với bộ mặt thiểu não, hắn cho chủ biết không hề thấy tung tích đâu cả, chắc là vợ hắn đã chết.

Từ đấy, vợ thấy chồng chí tình, lại có lòng tu tỉnh, nên rất mừng. Nhưng nàng vẫn chưa ra mặt vội, chỉ an ủi hắn hãy ở lại đây, may ra sẽ có ngày hội ngộ.

Một hôm, nhân ngày giỗ cha chồng, bà chủ nhờ thầy đồ chép bài văn tế. Hắn ta ngạc nhiên và bội phần mừng rỡ khi thấy bài vị của tổ tiên nhà chủ chính là bài vị tổ tiên mình. Lập tức, hai vợ chồng ôm nhau khóc lóc. Rồi sau khi cúng xong, họ mời làng xóm và người nhà ngồi lại kể rõ sự tình. Ai nấy đều cho là một cuộc tái ngộ hiếm có.

Về sau, hai vợ chồng dựng vợ gả chồng cho hai con nuôi, giao cửa hiệu lại cho chúng cai quản. Sau đấy, họ dắt nhau trở về quê hương xưa, chuộc lại vườn tược nhà cửa cũ. Và sau khi đã sống yên ổn ở quê nhà, vợ mới sai đào hũ vàng bố chồng cho mình ngày xưa lên . Nàng nói :

- Có vàng chưa chắc đã có hạnh phúc. Cho nên trong những cơn túng thiếu nhất, tôi vẫn không cần đến nó.

Nói đoạn, đem số vàng ấy cúng cho đền chùa để bố thí cho người nghèọ Từ đấy, hai vợ chồng sống với nhau đến đầu bạc. Câu tục ngữ : "Làm trai rửa bát quét nhà. Vợ gọi thì 'Dạ bẩm bà tôi đây !'" là do chuyện này mà ra.

--------------------------------
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#32
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:
Sự tích con muỗi

--------------------------------------------------------------------------------

Có hai vợ chồng nhà nọ yêu nhau rất mực. Ngày mới lấy nhau, họ đã từng ăn thề hẹn không bỏ nhau. Nếu không may một trong hai người chết đi thì người kia sẽ chết theo để xuống âm ty cho có bạn. Sau đó không bao lâu, người vợ trẻ tự nhiên bị cái chết mang đi một cách đột ngột. Không ai có thể tả được hết tình cảnh đau thương của người chồng. Anh chàng đã mấy lần toan tự tử, nhưng bị người nhà ngăn trở và canh phòng ráo riết. Hôm sắp sửa cất đám bỗng có một đạo sĩ đến bày cho chàng phép cải tử hoàn sinh mà theo lời ông ta, đã từng có nhiều người dùng rất ứng nghiệm. Phép của ông ta chẳng có gì khó, chỉ cần người sống gan dạ và kiên trì một chút là được. Nghĩa là người sống mỗi ngày ba lần ôm ấp và truyền hơi ấm của mình vào cho tử thi. Làm luôn như thế không nghỉ ngày nào thì chỉ trong khoảng ba tháng mười ngày là người chết sống lại. Người chồng cảm ơn đạo sĩ và làm đúng như lời dặn, hy vọng đưa người yêu trở lại cõi thế. Ngày ngày chàng ôm ấp vợ, truyền sức nóng, hơi thở của mình vào cái xác đã lạnh toát. Nhưng sau đó ba ngày, mùi thối của tử thi bay ra khắp xóm làm cho mọi người không chịu được.
Họ kéo nhau đến nhà bắt chàng phải chôn lập tức. Bất đắc dĩ, người chồng nhờ xóm giềng chặt nứa làm giúp một cái bè để mình đưa xác vợ đi một nơi khác. Nhiều người vui lòng giúp anh chàng trong việc này. Chỉ trong nửa ngày, hắn đã chở xác người yêu đi biệt. Chiếc bè theo dòng nước trôi mãi. Người chồng vẫn ngày ngày ấp ủ vợ không thôi. Cái tử thi đó trông vẫn như người nằm ngủ. Lòng anh chàng tràn trề hy vọng. Đến một nơi kia, hắn cắm bè lại kề một bãi cỏ rộng, lên bộ nấu ăn. Tình cờ trong khi đi nhặt củi chàng ta gặp một cụ già. Nhìn thấy ông cụ chống gậy đi một mình giữa cảnh trời nước hoang vu, lại râu tóc trắng xóa, hình dung không có gì là lam lũ, chàng trẻ tuổi lấy làm ngạc nhiên. Hắn đang suy nghĩ thì thoáng cái ông cụ đã đứng trước mặt. Hiểu ngay đó là bậc Tiên Phật, hắn vội phục xuống chân cụ già rồi kể lể sự tình, cuối cùng không quên cầu khẩn ông cụ sinh phúc giúp cho vợ mình sống lại. Cụ già đó chính là đức Phật, thấy anh chàng nài nỉ hết sức, bèn thương tình, đi theo xuống bè, bảo hắn chích máu ngón tay trỏ ba giọt vào miệng vợ. Tự nhiên người đàn bà mấp máy môi rồi từ từ ngồi dậy như vừa tỉnh một giấc mơ. Trước khi ra về đức Phật có hỏi người vợ:
-Anh chàng này cho vay ba giọt máu để ngươi được hồi sinh. Vậy nhà ngươi có yêu anh ta chăng? Trước câu thề bồi chắc nịch của người đàn bà, đức Phật bảo:
-Không can gì. Nếu không yêu nữa thì chỉ việc trả lại ba giọt máu cho anh ta là đủ!
Thấy bọn họ nóng lòng muốn trở về quê hương, đức Phật gọi một con cá sấu khổng lồ từ dưới vực sâu lên bảo chở họ đi. Cá sấu vượt sông được nửa ngày đường thì bụng đã đói. Nó bảo hai vợ chồng lên bộ nghỉ ngơi để cho nó đi tìm cái ăn. Hai vợ chồng dắt nhau vào quán cơm. Trong quán hôm đó có một người khách thương sang trọng. Hắn ta thấy nhan sắc người vợ diễm lệ ít ai sánh kịp thì bỗng nảy tà tâm, mưu toan chiếm đoạt. Hắn lân la lại gần, đưa các mẫu hàng tơ lụa và đồ trang sức ra vờ chào khách, kỳ thực là để tán tỉnh người đàn bà đẹp. Hắn nói trong thuyền hắn đậu ở gần đấy còn có nhiều món hàng nữa rất quý và rẻ, muốn mời họ xuống xem. Nhưng người chồng thì chẳng thiết một tí nào. Cơm nước xong, chàng bỏ mặc người khách thương, dắt vợ ra bến vắng, ở chỗ hẹn với cá sấu, ngồi đợi. Họ ngồi dưới bóng cây trò chuyện một chốc rồi vì mệt quá, ngủ quên lúc nào không biết. Họ cũng chẳng ngờ sau lưng họ, người khách thương kia vẫn theo hút không rời. Khi thấy hai người nằm ngủ, hắn đi nhẹ đến thức riêng người vợ dậy, mời nàng xuống thuyền đậu kề đó để hắn biếu một món trang sức: "Thuyền của tôi chỉ cách đây mươi bước. Bà không phải đợi lâu đâu!"
Nghe nói thế, lòng người đàn bà bỗng thấy lay chuyển. Nàng đứng lên, đi theo người khách thương xuống thuyền. Chỉ trong nháy mắt, theo ám hiệu của chủ, bọn thủy thủ chiếc thuyền buôn nhổ neo và giong buồm cho thuyền chạy mất. Lại nói chuyện cá sấu lúc ngoi lên chỗ hẹn thì thấy chỉ có một mình người chồng, bấy giờ vẫn đang ngủ say. Cá sấu thức chàng dậy hỏi chuyện. Anh ta ngơ ngác không hiểu thế nào. Một mất mười ngờ, hắn đổ tội cho cá sấu đã ăn thịt mất vợ. Để giải mối ngờ, cá sấu mới bảo hắn kiếm cây luồn qua miệng mình, khua trong dạ dày xem thử cho biết. Anh chàng làm theo, chỉ thấy trong bụng cá sấu toàn là xương cá và đá cuội, mới biết mình ngờ sai. Tìm khắp mọi nơi chẳng thấy vợ, hắn trở về bến, ôm đầu kêu khóc rất thảm thiết. Cá sấu thương tình bèn bảo hắn cưỡi lên lưng rồi phóng đi, đuổi theo những chiếc thuyền vừa qua lại để dò tìm tung tích. Sau mấy lần dò hỏi, người ta cho biết một chiếc thuyền buôn vừa đi qua, trong đó có một người đàn bà trẻ và đẹp. Họ tả nét mặt và hình dạng thì đúng là vợ chàng. Cá sấu bèn cố công đuổi riết. Khi nhìn thấy vợ ngồi trong thuyền khách thương, người chồng nói với vào:
-Nàng cứ nhảy ra đây... Tôi không thể sống xa nàng được... Tôi sẽ làm cho nàng sung sướng... Nhưng người vợ trả lời chồng:
-Chàng về đi! Em đành phụ chàng. Chàng tha thứ cho em vậy. Rồi đưa cho chồng một gói vàng:
-Chàng hãy nhận lấy vật này và coi như em đã chết từ hôm nào rồi. Vừa bực tức vừa thất vọng, chồng ném gói vàng xuống nước rồi nhờ cá sấu đưa mình trở lại tìm đức Phật. Khi đức Phật gặp bọn họ, liền giục cá sấu hối hả rượt theo chiếc thuyền khách thương để cho anh chàng thất tình đòi lại ba giọt máu của mình. Lại nói chuyện người đàn bà sau khi chích máu ở tay để lấy ra ba giọt trả nợ cho chồng thì ngã vật xuống chết ngay. Người khách thương hết sức chữa chạy nhưng vô hiệu. Rồi sau đó hắn ném xác nàng xuống biển. Nhưng do phép mầu của đức Phật, người đàn bà ấy hóa thành con muỗi. Vì thiếu máu, nên lúc nào muỗi cũng lén lút đi chích trộm của mỗi người một tý để sống.
:-
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#33
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:

Chuyện Con Công Và Con Quạ



Xưa con công với con quạ làm bạn với nhau thân lắm, vì hai con cùng xấu cả. Một hôm công và quạ ngồi nói chuyện với nhau, Quạ bảo công
rằng:
- Thử xem, các giống chim trên rừng, trên núi, giống nào cũng đẹp. Này như: con phượng hoàng, cái mình nó quý giá biết bao, đến nỗi người ta thường khen: "Một cái lông con phượng hoàng bằng cả một làng chim chích". Còn như con hạc, cái hình, cái dạng, cái chân, cái tóc nó thanh tao biết bao, để cho người ta phải nói:" Hạc đứng chầu Vua "Nghìn năm tóc bạc, tuổi rùa càng xinh". Con` như anh em ta đây! than ôi! thân hình thật không còn giống nào xấu bằng nữa.
Công nói:
- Phận xấu đành vậy, chớ biết làm sao bây giờ?
Quạ nghĩ một lúc rồi bàn rằng
- Xấu mà làm ra đẹp, cũng được chớ gì! Bây giờ hai đứa ta thử tô điểm vẽ vời lẫn cho nhau xem có đẹp hay không?
Công bằng lòng.
Quạ bèn tô điểm, vẽ vời cho công trước. Quả nhiên cái mình, cái đuôi công lóng lánh, có bao nhiêu màu sắc đẹp, đẹp hơn những giống chim khác nhiều.
Đến lượt công ngồi tô điểm, vẽ vời cho quạ, thì chợt nghe tiếng ríu rít, biết bao nhiêu chim con ở phía đông bay lại
Quạ liền hỏi :
- Các bạn đi đâu mà kéo đàn, kéo lũ như thế?
Đàn chim nói:
- Chúng tôi nghe đồn ở dưới phương Nam có thật nhiều gạo, nhiều gà, và rất nhiều đồ ăn ngon khác.... Chúng tôi rủ nhau đi kiếm ăn đây. Anh làm gì đấy?... Hay ta cùng đi một thể
Quạ nghe nói, trong lòng háo hức muốn đi theo đàn chim kia ngay lập tức. Quạ mới nói với công rằng:
- Bây giờ mà tôi ngồi đợi để cho anh tô điểm vẽ vời, thì chưa biết đến bao giờ mới xong. Thôi, hay sẵn cả đĩa mực đây, anh cứ cầm thế mà đổ lên mình tôi để tôi đi theo bọn kia, kẻo lỡ mất một dịp may kiếm ăn tốt.
Công thấy quạ bảo thế, chiều ý làm theo, cầm cả đĩa mực dốc vào mình quạ . Thành bao nhiêu lông cánh của quạ toàn một màu đen như mực.
Quạ bay đi kiếm ăn không còn nghĩ gì đến xấu với đẹp nữa. Nhưng đến lúc ăn no trở về, quạ thấy con cò trắng muốt bay qua trông thấy nó mà cười. Quạ tức lắm...bèn ngắm lại mình thì ôi thôi...Quạ thấy mình đen thui thủi, thiệt xấu xí, thẹn quá bèn bay đi trốn..
Từ đó, không ai còn thấy quạ đâu nữạ..trừ nơi hoang dã vắng vẻ :d
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#34
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:

Bà Chúa Ngọc


Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cáị Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưạ Năm ấy, đến độ dưa chín, sáng nào ra ruộng thăm, ông bà cũng thấy dưa bị hái trộm. Lạ một điều, chỉ có một quả dưa lớn nhất đẹp nhất là bị hái, nhưng kẻ trộm không ăn mà cũng chẳng mang đị Quả dưa còn nằm ở một chỗ trống, nhưng bưng lên đã thấy bị nẫụ

Thấy sự lạ, hai ông bà bèn bàn nhau cất công để ý rình. Rồi một đêm trăng sáng, họ đến nấp vào một bụi cây cạnh ruộng. Gần đến nửa đêm, bỗng đâu có cô gái trạc độ mười ba mười bốn tuổi tự nhiên hiện ra ở giữa ruộng dưạ Cô gái rón rén đi, nhìn ngắm từng quả dưa một, rồi sau đó, hình như đã chọn được quả ưng ý nhất thì cúi xuống hái lên. Cô ngắm đi ngắm lại mãi, rồi tìm ra một chỗ trống, tung quả dưa từ tay bên này sang tay bên kia, và cứ như thế, một lúc lâu, sau lại ôm lấy quả dưa mà ngắm nghía mãi không biết chán ...

Đúng lúc ấy, từ chỗ nấp, hai ông bà chạy ùa cả ra, nắm ngay lấy tay cô gáị Còn cô gái, tuy không chạy trốn kịp nhưng cũng chẳng tỏ ra có chút gì sợ hãị Cô trả cho họ quả dưa, và khi được hỏi thì cô lễ phép trả lời: Cô là con nhà nghèo không còn cả cha lẫn mẹ, nhà cô ở cách đây rất xa và cô cũng chẳng nhớ được quê mình ở đâu nữa ...

Thấy cô gái dễ thương, lại nghĩ mình không có con cái, nên ông bà bàn nhau nhận cô về làm con nuôi, rồi cả hai cùng nói với cô gái ...

Còn cô gái, thấy cử chỉ, lời lẽ của hai ông bà đều chân thành thì cô im lặng lắng nghe và suy nghĩ, rồi sau đó nhận lờị

Cô theo họ về nhà. Sáng hôm sau, hai ông bà sửa lễ gia tiên, rồi hai bên chính thức nhận nhau là bố mẹ và con cáị Từ đấy trong ngôi nhà của họ, không khí vui vẻ đầm ấm hẳn lên. Hai ông bà hết lòng yêu thương chăm sóc cô, còn cô thì cũng rất mực yêu thương kính trọng bố mẹ.
Một hôm trời đổ cơn mưa lớn, nước lũ ở thượng nguồn tràn về mênh mang, khiến mọi người đều ở trong nhà không ai đi làm được cả. Bố mẹ cô, lẽ dĩ nhiên là rất lo lắng, mong sao cho nước mau cạn để cây cối khỏi bị chết úng, thì cô, do tính tình còn trẻ dại, lại thích nô đùạ Rồi cô xuống bên mé nước cậy đá lên, xếp chúng thành một hòn núi giả, lại đi tìm những cành lá gẫy cắm vào xung quanh, để chơi ...

Thấy vậy, ông bà bực quá, nghĩ rằng con cái chẳng hiểu được lòng bố mẹ, bèn lên tiếng trách cứ rồi la mắng. Nào ngờ, cô gái thấy tủi thân quá, bèn lủi ra đầu hồi nhà, đứng khóc một mình. Một lúc lâu sau, nhân lúc bố mẹ không ai để ý, cô lại lén ra khỏi nhà, rồi men theo những dải đất cao, đi ra phía bờ biển. Cũng lúc ấy, dập dềnh bên mé nước có một cây gỗ kỳ nam, không biết trôi từ đâu đến. Cô gái còn khóc hồi nữa, rồi nhìn quanh nhìn quẩn, thấy mình hoàn toàn lẻ loi, cô đơn, cô bèn nhảy luôn lên cây gỗ, và một điều kỳ lạ xảy ra: Cô gái đã nhập thân vào cây gỗ. Cây gỗ dập dềnh ở đấy một lúc nữa, như có điều gì còn ghi nhớ và lưu luyến, rồi sau đó, theo sóng biển, trôi mãi lên phương Bắc ...

Ông bà bố mẹ nuôi cô gái đang bận việc chẻ củi và may vá trong nhà, tưởng con khóc rồi chơi ở ngoài đầu hồi, nên cũng không để ý. Đến mãi sau, khi lên tiếng gọi thì chẳng thấy con đâu! Hai ông bà bèn nháo nhào đi tìm nhưng khắp chốn cùng nơi, cũng vẫn tuyệt âm vô tín. Nước lụt mênh mang như thế, lại đang cuộn chảy mãi ra biển, họ cho là con gái xảy chân đã trôi ra biển mất rồị Thế là ông bà gào thét, khóc than thảm thiết, sau đó làm lễ cúng chay cho con, và từ đấy trở đi, sống âm thầm, rầu rĩ cho đến cuối đời ...

Còn cây gỗ kỳ nam, sau một hồi dập dềnh rồi trôi lên phương Bắc, và cứ thế trôi mãi ... trôi mãi ... Đến khi sóng lặng gió yên thì đã trôi được cả ngàn dặm đường và dạt vào bờ ...
Một buổi sáng dân địa phương nọ ra bờ biển, vô cùng ngạc nhiên thấy có cây gỗ lạ rất đẹp trôi từ đâu đến. Họ bảo nhau mang thừng chão ra buộc vào rồi cùng kéo lên bờ, nhưng hàng trăm người xúm vào mà cây vẫn không nhúc nhích. Họ bèn đóng cọc ghim lại để tìm kế sách khác, và cũng từ đấy, dường như ngay tức khắc, tiếng đồn về cây gỗ kỳ lạ đã lan ra khắp cả vùng.
Hoàng tử ở phương Bắc bấy giờ vào tuổi kén vợ, đang đi chu du khắp chốn cùng nơi để tìm cho ra một người ưng ý. Khi đến vùng này, nghe chuyện cây gỗ kỳ lạ, chàng cũng tò mò tìm đến. Thấy cây gỗ đẹp thì có đẹp nhưng cũng không lớn lắm mà sao cả trăm người kéo không được thì chàng lấy làm lạ lắm. Cũng vẫn là tò mò, chàng xắn tay áo lên, bảo mọi người cho mình kéo thử một cái xem saọ
Chiều ý Hoàng tử, mọi người lui cả rạ Nhưng thật vô cùng bất ngờ, khi hoàng tử vừa cầm thừng co tay lại thì cây gỗ cũng lập tức chuyển động, rồi dần dần, theo sức kéo mà tiến vào bờ. Đến khi chạm đất, Hoàng tử kéo mạnh một cái nữa thì cây hoàn toàn đã nằm trên bãi biển.
Mọi người vô cùng phấn khởi, vỗ tay reo hò không ngớt. Xong xuôi, sau khi hỏi ý kiến dân làng, Hoàng tử cho quân lính đem cây gỗ về Kinh đô.
Về phía dân làng, tuy cũng có người còn tiếc rẻ, nhưng đa phần cho rằng, đưa cây gỗ về kinh là hợp lý hơn cả vì như vậy tất cả bàn dân thiên hạ sẽ đều được chiêm ngưỡng. Còn về phía Hoàng tử thì cũng chẳng có vui mừng nào hơn, chàng cho là có duyên cớ, bèn không tiếp tục đi tìm vợ nữa, mà cùng quân lính trở về kinh, cùng với cây gỗ.

Khỏi phải nói, khi về đến Kinh đô thì mọi người, mọi nơi nghe tiếng, nao nức tìm đến xem đông như thế nàọ Nhưng rồi sự kiện ấy cũng mau chóng qua đi bởi lẽ mọi người nhìn mãi rồi cũng chán, vì cây đẹp thì có đẹp nhưng chẳng thấy có biểu hiện gì là lạ lùng cả. Mà dân chúng cần là cần sự lạ lùng, xưa nay chưa từng có, chứ không phải là một cái cây đẹp.
Chỉ riêng có Hoàng tử, do chính tay mình đã chứng kiến và thực hiện được một điều kỳ diệu, nên còn giữ mãi trong lòng sự vui mừng và niềm mong đợị Khi mọi người đã xem chán xem chê, đến mức không còn ai thiết xem nữa, thì Hoàng tử mới sai quân lính đem cây về trước Đông cung để hàng ngày được nhìn ngắm và gần gũi với câỵ

Cây quả là đã có tình ý với Hoàng tử thật. Từ đó trở đi, mỗi đêm trăng sáng, Hoàng tử bỗng thấy trong thân gỗ bước ra một người con gái xinh đẹp tuyệt trần, và cùng lúc, là mùi hương thơm ngào ngạt tỏa ra theo mỗi bước chân của nàng.

Mê mẩn trước người đẹp, Hoàng tử vội vàng chạy tới, nhưng lần nào cũng vậy, hễ cứ giáp mặt, là người con gái lại biến ngay vào trong thân gỗ.

Sau vài lần như thế, Hoàng tử đã nghĩ ra được một cách, cũng khá đơn giản chứ chẳng có gì ghê gớm lắm.Chàng cho mấy người lính hầu đứng nấp ở xung quanh, còn tự mình cũng nấp saÜn ở gần đấỵ Khi cô gái vừa xuất hiện thì Hoàng tử đã bước ra nắm chặt lấy tay nàng, và mấy người lính cũng lập tức khiêng cây gỗ đem dấu biến đị Hoàng tử bảo cô gái hãy vui lòng vì chàng mà ở lạị Cô gái e lệ cúi đầụ Thế rồi, ngay lúc đó chàng dẫn nàng đến trình với đức vua cha và hoàng hậu, kể lại hết đầu đuôi ngọn ngành, và xin cha mẹ hãy tác thành cho họ.
Nhà vua lắng nghe, rồi nói: "Được. Để xem", xong cho gọi thị nữ đưa nàng về phòng riêng, còn Hoàng tử thì trở về Đông cung.

Sáng hôm sau thiết triều, nhà vua cho triệu quan Thái bốc lại để bói xem điều lành điều gở thế nàọ Sau khi nghe tấu trình là quẻ đại phúc, nhà vua cả mừng rồi ngay sau đó, cho cử đại lễ để hoàng tử sánh duyên cùng cô gáị

Từ đó, cuộc sum vầy của đôi trai gái diễn ra thật vô cùng êm ả, hạnh phúc. Ba năm sau, họ sinh được một gái và một traị
Tưởng rằng cuộc tình duyên ấy sẽ mặn nồng mãi mãi đến lúc đầu bạc răng long. Nào ngờ Hoàng tử cũng là kẻ bạc tình, chỉ chung thủy được có mấy năm đầụ Khi vợ đã có con thì chàng ta đâm ra hay chơi bời chứ chẳng quan tâm được như trước. Nay rượu, mai cờ bạc, rồi đi dong duổi khắp nơi, không chú ý gì đến việc dạy dỗ con cáị Nàng đã nhiều lần khuyên can nhưng chàng vẫn chứng nào tật ấy, làm nàng rất chán nản. Vì vậy, ở trong hoàng cung, sống giữa nhung lụa, kẻ hầu người hạ không thiếu, mà nàng cảm thấy bơ vơ, rồi buồn tủi xót xa, chỉ muốn tìm cách bỏ đi, không chút luyến tiếc. Bởi vì con người ta vốn là vậy, nên dẫu là thần thánh, thì khi tình yêu đã hết, tất cả sẽ chỉ là vô nghĩạ

Thế rồi một hôm, nhân khi Hoàng tử bỏ đi chơi lâu ngày, nàng tìm thấy cây kỳ nam mà khi trước bọn lính đã đem dấu biệt. Nàng gọi hai con đến rồi đọc một câu thần chú, thế là cả ba mẹ con cùng nhập vào cây kỳ nam. Cây kỳ nam tự chuyển động rời khỏi hoàng cung rồi lăn xuống sông. Từ sông, kỳ nam dòng nước trôi ra biển. Biển lúc ấy bỗng nhiên nổi luồng gió tráị Và theo chiều gió, cây kỳ nam trôi mãi, trôi mãi ... Cuối cùng trở lại biển phương Nam.

Đến đúng trước cù lao Huân thì gió lặng và cây kỳ nam dừng lạị Cây trôi vào sát mép nước. Từ thân cây, cả ba mẹ con bỗng chốc hiện ra, bước lên bờ, rồi trở về nhà cũ. Cả hai ông bà cha mẹ nuôi lúc ấy đều đã mất. Nhà vắng vẻ tiêu điềụ Ba mẹ con bắt tay ngay vào việc dọn dẹp sửa sang cửa nhà, lập bàn thờ cha mẹ, ông bà tổ tiên, rồi cùng làm ăn sinh sống với dân làng. Từ đấy trở đi, quê hương, vùng cù lao Huân mỗi ngày một thêm ấm no, trù phú. Thế rồi đến một hôm, giữa lúc trời quang mây tạnh, trước sự chứng kiến và ngạc nhiên của mọi người, cả ba mẹ con cùng bay vút lên trời ...

Ở phương Bắc, Hoàng tử đi chơi về thấy vợ con mất tích. Tìm cây kỳ nam ngày trước thì cũng chẳng thấy đâụ Chàng hối hận vô cùng, lòng tự nhủ lòng sẽ tìm ra bằng được ba mẹ con, dẫu có phải đi xuống tận địa ngục.
Khi xưa, lúc ở bờ biển chàng có nghe dân chúng nói cây gỗ này trôi từ biển phương Nam lạị Thế là Hoàng tử vào từ biệt vua cha và hoàng hậu, rồi cùng một số gia nhân, binh lính và thủy thủ xuống thuyền, dong buồm vượt biển hướng về phương Nam.

Khi thuyền vừa đúng đến cửa Đại An thì bỗng đâu một trận cuồng phong dữ dội nổi lên. Thuyền đắm, cả Hoàng tử cùng gia nhân thủy thủ đều chìm sâu xuống đáy nước. Nhưng khi cơn bão tan thì tự nhiên biển ở chỗ ấy cũng nổi lên một mô đá nhỏ, vượt cao khỏi mặt nước. Trên mặt mô đá có những hình thù ngoằn ngoèo tựa như những hàng chữ nổị Từ bao đời nay, đã có nhiều người hay chữ và kiến thức uyên bác đi thuyền tới đó, nhưng chưa ai đọc được đấy là những chữ gì. Và có lẽ như thế nên có thể cho rằng, những điều bí mật của thiên cơ, chắc còn lâu người ở dưới trần gian mới có thể hiểu thấu được hết.

Ba mẹ con nàng tiên đã về trời, nhưng từ đó đến nay vẫn thường hiển linh ở các nơi gần xa quanh vùng cửa Đại An, vùng cù lao Huân, cù lao Yến. Vì vậy dân đi biển, đi đánh cá, đi tìm tổ yến vẫn thường bày lễ vật, thắp hương rồi hướng mặt lên trời cao cầu xin sự che chở, phù hộ độ trì của nàng tiên, mà từ đó trở đi được kính cẩn tôn xưng là bà chúa Ngọc.

Bà chúa Ngọc còn được gọi là bà chúa tiên hay Thánh mẫu Thiên Ya na, theo cách gọi của người Chăm pa, một dân tộc đã định cư lâu dài ở vùng đất nàỵ Từ Huế đến Nha Trang ở đâu cũng có điện thờ bà chúa Ngọc. Triều Nguyễn có sắc thượng phong cho bà là "Hồng Nhân phổ tế linh ứng Thượng đẳng thần".

Tại Nha Trang có tháp lớn cao sáu trượng để thờ bà chúa Ngọc. Lại có cả những tháp nhỏ xung quanh để thờ Hoàng tử, hai người con và hai ông bà bố mẹ nuôị Bia đặt trong tháp lớn do chính tay quan đại thần Phan Thanh Giản thời Tự Đức soạn.


Trước kia, hàng năm triều Nguyễn đều ủy thác cho bộ Lễ về đây làm lễ quốc tế.




Hết
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#35
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:
Con Chó biết nói

--------------------------------------------------------------------------------

Ngày xưa, có một ông già giàu nhất làng. Tiền bạc của ông kiếm được phần nhiều là do những món nợ ăn lời quá vốn, hoặc những âm mưu cướp giật ruộng đất, nhà cửa của dân lành. Càng có nhiều tiền lão càng cay nghiệt. Không bao giờ lão chịu bố thí, cứu giúp cho chòm xóm. Lúc nào lão cũng lăm lăm kiếm nhiều tiền hơn nữa để trở thành phú hộ ăn trên ngồi trước thiên hạ.

Lão có nuôi một con chó mực, lão thương con chó còn hơn con ruột. Lão cho con chó ăn ngon như lão, cho ngủ trên giường và chăm sóc kỹ lưỡng. Lão thường ao ước:

- Giá như con mực này biết nói tiếng người thì ta sẽ trở thành một người nổi tiếng nhất làng. Ta sẽ làm tiền thiên hạ mỗi khi ai muốn nghe nó nóị Và nhờ vậy mà ta sẽ có nhiều tiền, ta sẽ ăn trên ngồi trước ngườị

Một anh đầy tới biết ý muốn của lão chủ, nghĩ kế làm tiền chủ cho bỏ ghét. Anh lựa lúc chủ vui mà nói rằng:

- Thưa ông chủ, tôi biết một vị tu sĩ trong núi có phép dạy chó nói tiếng ngườị Nếu ông cho tôi dắt chú mực đi học, chắc chắn trong ba tháng sẽ nói được như tôị

Lão già khoái quá hỏi giá bao nhiêụ Anh đầy tới tính phỏng lối năm nén bạc. Lão liền đưa cho anh năm nén bạc và một nén làm lộ phí.

Anh đầy tới dắt chó ra đị Anh không đi vào núi mà lại đưa chó về nhà cha mẹ mình ở cách đó khá xạ Anh giao chó cho cha mẹ nuôi và trăm năm nén bạc, nhờ cha mẹ mua ruộng cho anh. Ở chơi vài ngày rồi anh trở lại nhà chủ, thưa rằng:

- Ông tu sĩ nhận tiền và hứa sẽ dạy chú mực biết nói trong hai tháng. Ông ta đòi thêm ba nén bạc nữa về lớp dạy gấp rút nàỵ

Lão già bằng lòng lắm, hy vọng sẽ có con vật đặc biệt nhất làng. Lão đi khoe khắp nơi và hăm rằng kẻ nào khinh khi lão sẽ bị chó chửi thay lãọ

Thời gian trôi qua, đến ngày hẹn, lão trao ba nén bạc nữa cho anh đầy tới và cho thêm hai nén đi đường. Anh chàng khôn ranh ôm bạc về nhà nhờ cha mẹ cất, chờ anh về cưới vợ. Anh gọi con chó lại vuốt đầu tỉ vẻ cám ơn nó. Vài hôm sau anh trở lại nhà chủ một mình.

Lão già ngạc nhiên thấy không có con chó, lật đật hỏi:

- Chó mực đâu? Chó mực đâu? Sao mày lại về một mình?

Anh làm bộ âu sầu kể lại rằng:

- Thưa ông chủ, tôi không ngờ chú mực lại vô ơn bội nghĩa đến thế. Ông tu sĩ đã dạy nó nói được tiếng người đàng hoàng như tôi, vừa thấy tôi là chú kêu tên tôi ngaỵ Tôi hỏi thăm sức khỏe của chú để thử tài ông thầy, thì chú trả lời ron rót y như tôi nói chuyện với ông chủ vậỵ Chú nói rằng: "Tôi về nhà rồi chủ tôi sẽ biết. Tôi sẽ kể hết tội ông chủ làm lâu nay, như cho vay lấy lời cắt cổ, gạt người ta lấy của, kiện cáo đoạt nhà, cướp ruộng thiên hạ, lo lót quan trên, hãm hại dân lành. Tôi sẽ tố cáo ông chủ trước mặt quan phủ để ngài bắt lão chủ bỏ tù, tịch thu tài sản mới được...".

Thưa ông chủ chú còn nói nữa, nhưng tôi không dám thuật hết cho ông chủ nghe, tóm lại chú biết hết các chuyện ám muội của ông chủ và nhất định cho ông chủ vào tù. Tức quá tôi lấy búa chém đứt đầu nó rồị

Lão già toát mồ hôi hột. Lão đâm lo vì tội ác rành rành như thế, nếu con chó nói hết thì lão không tránh khỏi tai họạ Lãm cảm ơn anh đầy tớ đã giúp lão giết con vật "chó chết" và cứu lão thoát nạn. Lão cho anh ba nén bạc gọi là thưởng công anh.

Từ đó lão bớt dần tính ác độc và bủn xỉn, lão sợ những con vật rồi đây sẽ biết nói và sẽ không bỏ qua những việc làm có tội của lãọ

Còn anh đầy tới, anh xin nghỉ làm ở nhà chủ, anh về nhà với cha mẹ lo làm ruộng, rồi anh cưới vợ, cất nhà riêng. Anh nuôi con chó mực như các con chó khác, và nó cũng chỉ "biết nói" gâu gâu mà thôị
__________________
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#36
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:
Hồ Ba Bể



Ngày xưa, ở vùng Bắc Cạn, mỗi năm dân làng Năm Mẫu đều có tổ chức lễ cúng Phật lớn, gọi là lễ Vô Giá. Dân chúng khắp miền mạn ngược tề tựu lại rất đông. Một hôm, có một bà lão bệnh cùi đến làng dự lễ. Quần áo bà rách rưới, tả tơi. Người bà bốc mùi hôi hám, rất khó chịu, khiến mọi người phải lánh xa. Bà lão hủi này đến nhà nào xin ăn, đều bị xua đuổi, mắng nhiếc. Người ta sợ lây bệnh cùi hủi.
Tuy nhiên, có người biết động lòng thương hại. Đó là một người đàn bà goá, ở với con trai. Bà không kinh tởm, gọi bà lão hủi vào nhà cho ăn uống no đủ. Sau đó, bằng lòng cho bà lão ăn mày ngủ nhờ một đêm, ở góc vựa lúa, trong lều. Đến nửa đêm, hai mẹ con bỗng giật mình thức giấc, nghe có tiếng động ầm ầm dữ dội từ phiá vựa thóc. Mở cửa vựa thóc ra, không thấy bà lão cùi đâu, mà là một con rắn lớn uốn mình ầm ầm như tiếng sấm. Hai mẹ con kinh hãi trở ra, thao thức, lo sợ, không ngủ được nữa. Đến sáng, thấy bà lão đi ra từ vựa thóc, nói:
- Tôi thật sự không phải là người, chỉ giả dạng ăn mày để thử lòng từ thiện của tín hữu nam nữ đến làng Năm Mẫu lễ Phật. Tất cả mọi người đều xua đuổi tôi, ngoại trừ 2 mẹ con nhà này. Họ đều là khẩu Phật tâm xà, sẽ không tránh khỏi hình phạt của bề trên đã giao phó cho tôi thi hành. Hai mẹ con bà biết thương kẻ khốn cùng, cho nên tôi xin báo trước là sắp có tai họa lớn xảy ra. Hễ khi nào thấy có nước nguồn bắt đầu đổ về đây, thì hai mẹ con hãy mau mau chạy lên đỉnh núi mà tránh.
Nói xong, bà lão biến mất. Qua ngày hôm sau, trong lúc mọi người đang chen nhau đến dự lễ Phật giữa làng, bỗng nhiên, nước ở đâu cuồn cuộn đổ tới tứ phía, tràn vào thung lũng. Người ta trèo lên mái nhà, trèo lên cây. Nhưng nước cứ dâng tràn đầy lên mãi, ngập cả những nóc nhà và cây cao. Tất cả mọi người đều bị chết ngộp, trừ 2 mẹ con bà goá kia đã chạy vội thoát lên được trên đỉnh núi cao.
Trên núi, hai mẹ con dựng lên một gian nhà nhỏ sinh sống. Nơi này, về sau trở thành một ngôi làng đông đúc, và ngày nay vẫn có tên là làng Năm Mẫu. Cả thung lũng bị nước tràn ngập thì hoá thành 3 cái hồ rộng lớn, mênh mông như bể, nên người ta gọi là Hồ Ba Bể. Nước ở ba hồ lưu thông nhau, nhưng ghe thuyền không thể đi được từ hồ này sang hồ kia, vì có các đập đá lớn ngăn trở. Hồ Ba Bể rộng bát ngát, nước trong xanh như ngọc bích, nổi bật giữa núi rừng hùng vĩ của miền thượng du Bắc Việt.
#-o
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#37
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:

Liễu Hạnh Tiên Chúa






Ngày xưa, vào năm Thiêu Hựu, đời Hậu Lê (1557) ở thôn An Thái, làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, thuộc tỉnh Nam Định ngày nay, có một gia đình nhà họ Lệ Phu nhân Lê Thái Công mang thai gần đến kỳ sinh nở, mắc phải bệnh suy nhược, chỉ thích ăn toàn là hoa quạ Không có thuốc men nào chữa khỏị
Một hôm, có một vị đạo sĩ đến ra mắt, xin chữa bệnh cho phu nhân. Trước bàn thờ, người đạo sĩ này đọc mấy câu thần chú, rồi vứt chiếc buá ngọc xuống đất. Ông Lê Thái Công bỗng ngã ra bất tỉnh, rồi thấy mình được đưa lên Thiên Đình. Tại đây, Thái Công thấy mình dự một bữa tiệc lớn, do Ngọc Hoàng khoản đãị Ông thấy Công Chuá Quỳnh Nương lỡ tay làm rơi chén ngọc, bị đày ải xuống trần gian.
Khi Thái Công tỉnh dậy, thì hay tin là phu nhân vừa hạ sinh được một cô con gáị Thái Công sung sướng đặt tên con là Giáng Tiên.
Lớn lên, Giáng Tiên xinh đẹp thêm, giỏi văn thơ, đánh đàn thổi sáo và soạn nhiều bài hát rất hay. Năm 18 tuổi, nàng kết duyên cùng Đào Lang, là con nuôi của một vị quan trí sĩ ở cùng làng.
Ba năm sau, vào ngày mồng 3 tháng 3, Giáng Tiên đột ngột từ trần. Người ta nói nàng là tiên trở về thượng giới. Tuy nhiên, Ngọc Hoàng thấy nàng chưa hết hạn đi đày, bắt nàng phải trở xuống thế gian. Lần này, nàng xuất hiện dưới lốt một vị nữ thần, đi theo là hai ngọc nữ Quế Nương và Thị Nương. Theo lệnh thiên đình, Ba vị tiên nữ đã hiện xuống giữa ban ngày ở vùng Phố Cát, tỉnh Thanh Hóa
Ba nàng tiên đã lập chỗ trú ngụ giữa một nơi phong cảnh kỳ tú của nước Việt. Chẳng mấy chốc, cả vùng đều biết tiếng các vị tiên nữ, vì những phép linh ứng của 2 nàng. Dân chúng tỏ lòng biết ơn, đã xây một ngôi đền thờ cạnh núi, để thờ phượng. Đền thờ này được gọi là đền thờ Công Chuá Liễu Hạnh.
Công Chuá Liễu Hạnh thường hiển hiện ban phúc lành cho dân gian. Triều đình nghe danh tiếng, đã phong tặng nàng làm Thượng Đẳng Phúc Thần.
Vào cuối đời Lê, có một vị lão quan tám mươi tuổi, một hôm nằm mộng thấy Công Chuá Liễu Hạnh đi giữa hai ngàn tiên nữ theo hầu, mang đến cho ông một chiếu sắc của Ngọc Hoàng. Trong giấc mơ, ông thấy Công Chuá Liễu Hạnh lên xe mây, có nhiều cờ xí lộng lẫy trùng điệp dẫn đường, và thấy có vô số nhạc công đi theo. Người ta đoán rằng Công Chuá đã mãn kỳ hạn ở trần gian, nay đã trở về trời
Trong thời gian còn ở Thanh Hoá, Công Chuá Liễu Hạnh đã ngao du khắp nước Việt, nhất là ở Lạng Sơn. Nàng thường hay lui tới các thắng cảnh ở Kinh Đô. Có lần, nàng đã giả dạng làm một cô hàng bán rượu ở Hồ Tây, để hoạ thơ với danh sĩ Phùng Khắc Khoan cùng hai người bạn của ông họ Ngô và Lý
Sau khi Liễu Hạnh về trời, hai tiên nữ Quế Nương và Thị Nương thường đứng ra làm trung gian cho dân chúng cầu xin đến Công Chúạ Dân gian tin tưởng Bà Chuá Liễu, lập đền thờ bà khá trọng thể ở Phủ Giầy, Nam Định, nơi nàng đầu thaị Dân cũng lập đền thờ Bà Chuá Liễu ở Phố Cát và Đền Sòng tại Thanh Hoá, nơi nàng xuống trần lần thứ hai.
Tại Hà Nội, có Đền Sùng Sơn ở đường Hàng Bột, thờ phượng bà Chuá Liễu. Hàng năm, đến ngày huý của Công Chuá Liễu Hạnh, người ta tưng bừng rước lễ, dân chúng đã đi trảy hội rất đông.
:)
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#38
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:
Huyền Thoại Vua Thần Nông





Theo các bộ sử lớn viết bằng chữ Hán như Ðại Việt Sử Ký, Khâm Ðịnh Việt Sử, An Nam Chí Lược, Việt Sử Lược thì nguồn gốc dân tộc Việt Nam như sau "Ðế Minh cháu bốn đời vua Thần Nông nhân đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh, kết hôn với một nàng tiên đẻ ra một người con là Lộc Tục. Vua lập đài tế cáo trời đất, phong cho con trưởng làm vua phương Bắc, tức vua Nghi, phong con thứ là Lộc Tục làm vua phương Nam..." (Trần Ðại Sỹ, Từ Triết Học Ðến Huyền Thoại Nguồn Gốc Tộc Việt, Hai Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại tr.1046). Về nguồn gốc dân Việt là con cháu vua Thần Nông bên Tầu này đã có nhiều học giả Việt Nam tranh luận. Người cho Thần Nông là người Tầu, kẻ lại cho Thần Nông là người Việt (Hừng Việt).
Thần Nông là người Việt?
Trong các học giả cho Thần Nông là người Việt, người tiêu biểu là giáo sư Kim Ðịnh. Giáo sư Kim Ðịmh theo Mộng Văn Thông cho là Thần Nông là vua của Viêm tộc tức Việt. Theo Mộng Văn Thông trong Cổ Sử Nhân Vi, Viêm là Việt + Miêu, giáo sư Kim Ðịnh gọi là Vimê. "Theo thuyết trên thì vua Thần Nông hiệu là Viêm đế là Việt chứ không phải Tàu. Vua ấy giỏi nông nghiệp và bị một thủ lãnh của Tàu là Hiên Viên hạ sát để cướp đất và cướp luôn nền văn minh nông nghiệp đó" (Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam tr.93).
Thần Nông Là người Tàu?
Học giả Bình Nguyên Lộc chống đối kịch liệt lại việc cho rằng Thần Nông là người Việt. Cụ cho rằng Mộng Văn Thông gọi chúng ta là Viêm là có ý đồ chính trị "sách của ông là một mưu đồ chính trị rất là thâm sâu và độc ác... Khi mà họ làm cho 700 triệu người Tàu tin rằng Tàu là Việt thì 700 triệu người ấy hẳn sẽ có khuynh hướng thống nhất ta... và khi 30 triệu người Việt cũng tin in hệt như thế thì ta mất hết cả ý chí chống xâm lăng. Hoa và Việt đã là một thì thống nhứt là đúng, còn chống làm gì nữa" (tr.91). Người Tàu có gọi ta là Viêm bang : "họ có chỉ nước ta là Viêm bang, nhưng đó là sau đời Hán" (tr.86). Cụ kết luận "như thế thì Thần Nông chỉ có thể là Tàu" (tr.103). Theo câu sử trên ta cũng thấy Ðế Minh "đi tuần thú phương nam" chứng tỏ ông là người phương bắc, tức là người Trung Hoa. Ðế Minh lấy một nàng tiên ở Ðộng Ðình Hồ, vùng núi Ngũ Lĩnh đẻ ra Lộc Tục nhưng con cả lại là Ðế Nghi như thế Long Nữ là vợ bé và Kinh Dương Vương là con vợ bé. Vua đầu tiên của Việt Nam là con vợ bé ông vua phương bắc Ðế Minh. Như thế Thần Nông là ông vua Tầu. Nguồn gốc chúng ta là người Tầu.
Thần Nông là ông tổ chung cả Tầu và Việt?
Theo câu sử trên ta cũng thấy Thần Nông là ông tổ chung của Tầu và Việt. Chúng ta là dòng con vợ bé. Bác sĩ Trần Ðại Sỹ cũng chấp nhận điều này: "Xét triều đại Thần Nông, khởi từ năm 3118 trước Tây lịch, đến đây (Ðế Minh) thì chia làm hai:
1. Thần Nông Bắc
Vua Nghi (2889-2884 trước Tây lịch)
Vua Lai (2843-2794 TTL)
Vua Ly (2795-2751 TTL)
Vua Du Võng (2752-2696 TTL)
Ðến đây triều đại Thần Nông Bắc chấm dứt, đổi sang triều đại Hoàng Ðế từ năm Giáp Tý (2697 TTL). Các nhà chép sử Trung Quốc lấy thời đại Hoàng Ðế làm kỷ nguyên. Trong Sử Ký, Tư Mã Thiên khởi chép quyển một là Ngũ Ðế Bản Kỷ, coi Hoàng Ðế là quốc tổ Trung Quốc.
2. Triều Ðại Thần Nông Nam
Thái tử Lộc Tục lên làm vua năm Nhâm Tuất (2879 TTL) hiệu là Kinh Dương, lúc mười tuổi. Sau này người Việt lấy năm này làm kỷ nguyên lập quốc. Nếu cộng chung cho tới nay là 4872 năm, vì vậy người Việt hằng tự hào là có năm nghìn năm văn hiến" (Tr.1046). Ðó là sử Việt viết về Thần Nông còn sử Trung Hoa họ nói gì về Thần Nông?
Theo truyền thuyết thì Thần Nông là vị vương thứ nhì trong tam vương: Phục Hy, Thần Nông và Yen Ti. Theo truyền thuyết thì Thần Nông là một vị thần nông nghiệp. Ông là vị thần đầu giống hình đầu bò, người dậy dân chúng cách làm ruộng, trồng trọt cũng như dùng cây cỏ làm thuốc. Ngày nay còn quyển sách thuốc có tên là Thần Nông Bản Thảo. Ông có hiệu là Viêm đế. H1: Vua Thần Nông (Shennong) đầu bò, vị vương thứ nhì của Trung Hoa, dậy con người trồng trọt và dùng dược thảo. (Bản khắc trong Sanzai tuhui (năm 1607). Ðại Học Hồng Kông.) Theo cái hiệu Viêm đế này có người cho rằng ông là vị thần "gió nóng" (burning wind). Có người cho ông là vị thần lửa. Giáo sư Kim Ðịnh theo Mộng Văn Thông cho ông là người Việt vì người Trung Hoa thời nhà Chu gọi chúng ta là Viêm bang và gọi phương nam là viêm phương.
"Theo sử Tầu thì Thần Nông làm vua được 8 đời mới bị Hiên Viên diệt" (BNL tr.104). Hiên Viên là Hoàng Ðế.
Có Hay Không Có Thần Nông?
Vì có nhiều điều không ổn về Thần Nông nên khiến chúng ta khó tin rằng Thần Nông là ông tổ của chúng ta.
Thần Nông là vị vương thứ nhì của Trung Hoa. Ông tổ của chúng ta là một người Tàu. Dĩ nhiên không thể chấp nhận được. Các học giả Việt Nam cũng biết vậy nên tìm một giải pháp dung hòa cho Thần Nông là ông vua của cả Tàu và Việt.
Thần Nông chỉ có làm vua tám đời và cách đây chừng 5.000 năm. Tổ của chúng ta quá trẻ. Như thế tổ của Thần Nông là ai? Như thế Thần Nông không phải là ông tổ tối cao thật sự theo đúng nghĩa của nó. Nhưng tại sao các nhà viết sử hay dã sử lại dừng lại tại thời điểm Thần Nông? Có một sự gì sai lạc ở đây.
Thần Nông là ông vua giỏi về canh tác làm ruộng thì là ông tổ của Hừng Việt chuyên sống về nông nghiệp sông nước là hữu lý rồi. Nhưng những khai quật khảo cổ học cho thấy việc trồng trọt cây cỏ sinh sống đã có từ lâu rồi chứ không phải chỉ mới có 5.000 năm gần đây thôi. Giáo sư về nhân chủng học Wilhelm G. Solheim II, Ðại học Hawaii trong bài New Light On a Forgotten Past (Ánh sáng mới rọi vào Quá Khứ Lãng Quên) đã tuyên bố "Tôi đồng ý với Sauer rằng những thảo mộc đã được trồng cấy thuần canh đầu tiên (first domestication of plants) trên thế giới đã được thực hiện bởi những người có nền văn hóa Hòa Bình, ở một chỗ nào đó tại Ðông Nam Á. Tôi không lấy gì làm ngạc nhiên là sự thuần canh này đã bắt đầu sớm tới 15.000 trước Tây lịch" (National Geographic, March 1971 tr.339). Như thế Thần Nông ông tổ nông nghiệp chỉ có 5.000 tuổi sai thấy rõ.
Người Trung Hoa gốc dân du mục săn bắn mà có ông tổ nông nghiệp chung với chúng ta thật là phi lý.
Vua Thần Nông chuyên nông nghiệp có hiệu là Viêm đế tức vua lửa thật là tréo cẳng ngỗng. Cái niên hiệu Viêm đế trái ngược với tên Thần Nông hiểu theo nghĩa nông nghiệp. Trồng trọt canh tác cần nước nhất. Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống. Một ông vua Nông nghiệp mà lấy hiệu là vua "nóng" vua "lửa" thì cây cỏ bị hạn hán chết hết. Viêm đế không thể nào đi với Thần Nông có nghĩa là nông nghiệp. Không ổn. Nên nhớ Thần Nông theo sử chỉ cách đây có 5.000 năm thôi mà sự phát kiến ra lửa phải là lâu đời lắm. Như thế nếu Viêm đế đúng là thần lửa thì cái tên Thần Nông hiểu theo nông nghiệp là sai và ngược lại. Chính sự không ăn khớp, trống đánh xuôi kèn thổi ngược này giúp ta tìm ra chân tướng Thần Nông là ai. Có người lại cho rằng ông vua này đem lửa vào Trung Hoa. Dĩ nhiên quá ấu trĩ. Lửa đã có từ thuở khai thiên lập địa. Con người biết tới lửa rất lâu chứ không phải mãi tới đời vua Thần Nông chỉ cách đây có 5.000 năm thôi. Lửa thiên nhiên như núi lửa, cháy rừng, cháy núi, cháy các đồng cỏ (savanna) con người khi còn là đười đã biết tới và có kinh nghiệm với lửa. Sự cháy hoang dã (wild fire) này làm côn trùng và thú nhỏ bị chết cháy rất nhiều và thú lớn chạy tản mát đi nơi khác. Muông thú đã phải đi theo sau các đám cháy này tìm mót thực phẩm. Loài đười cũng phải kiếm sống bằng cách này. Và người thái cổ đã khám phá ra thịt thú vật bị chết cháy ăn thơm ngon hơn ăn sống. Món ăn chín đầu tiên mà loài thú, loài đười và người homo sapiens nếm là món thịt nướng do những đám cháy thiên nhiên. Biết lửa từ lâu và khám phá ra món thịt nướng cháy thiên nhiên ăn ngon hơn thịt sống tanh tưởi đã khiến con người nghĩ đến cách nướng thức ăn. Do dó con người nghĩ đến việc tìm cách giữ lửa và gầy lửa. Dĩ nhiên phải mất một thời gian dài. Gần vùng hồ ngầm dưới đất Escale ở Pháp các nhà khảo cổ học tìm thấy dấu tích của lửa và của con người cư ngụ lâu đời tới 700.000 năm, tuy nhiên chứng tích rõ ràng nhất là các hố lò lửa khám phá thấy cách đây 300.000 năm. Như thế vua Thần Nông chuyên về trồng trọt lại kiêm là vua biết gầy ra lửa hay giữ lửa chỉ cách đây có 5.000 thì quá gần, không thể nào chấp nhận được Ðể giải thích sự vô lý giữa cái tên Thần Nông trồng trọt và tên hiệu Viêm đế, các học giả Trung Hoa ngày xưa đã cố thêu dệt cho ông cũng là thần "gió nóng" ("burning wind") có khả năng làm hết được hạn hán.
Thần Nông theo sử Tàu làm vua được tám đời nhưng chẳng thấy dấu tích đâu cả. Tại sao lại tám đời ?
"Cứ theo các cổ thư Trung Hoa thì vua Thần Nông đánh diệt Bổ Toại". (BNL tr.93). Nhưng Bổ Toại là ai? Nước nào? Sử không nói rõ. Vậy đây chỉ là hoang thoại? Người Trung Hoa đã cóp nhặt Thần Nông từ các chủng tộc khác? Cũng giống như đã nói trong bài Nhận Diện Danh Tính Vua Tổ Hùng Vương ở số trước vì những điểm vá víu, vô nghĩa nên Thần Nông cũng như Bàn cổ có lẽ Trung Hoa đã lấy của chúng ta rồi sửa đổi và cải danh đi.
H2: Bàn Cổ cầm trong tay trứng Hỗn Mang (Chaos) Âm Dương, sống 18.000 năm. Thạch bản, thế kỷ 19, Bảo tàng Viện British, London. Học giả Bình Nguyên Lộc cho đây chỉ là hoang thoại: "Nhưng thật ra thì vua Thần Nông không bao giờ có, thế thì Viêm đế cũng không bao giờ có. Giáo sư Kim Ðịnh cũng đồng ý với các nhà bác học Tây phương (mà ngày nay các nhà bác học Trung Hoa cũng đồng ý như vậy) là họ chỉ là một nhóm người Tàu văn minh trước các nhóm người Tàu khác mà các Chu Nho ngây thơ theo tinh thần Evhémère đã biến thành một nhân vật" (tr.105).
Thần Nông Người Là Ai?
Dù gì thì cổ sử cũng vẫn chép rằng ông tổ tối cao của chúng ta là Thần Nông. Chúng ta nhận là con cháu Thần Nông. Thần Nông có hiệu là Viêm đế rất ăn khớp với chúng ta Xích quỉ Hừng Việt thờ Mặt Trời. Viêm là nóng là lửa là mặt trời... Vậy Thần Nông người là ai? Chúng ta phải quật "mồ" người lên để nhận diện chân tướng người. Chúng tôi lại dựa vào phương pháp truy tìm tầm nguyên ngữ học của chúng tôi. Nếu chúng ta nhận Thần Nông là người Việt thì từ Nông phải là Việt ngữ. Chúng ta ai cũng biết Hán ngữ nông là làm ruộng như nông nghiệp. Vì là Hán ngữ chúng ta gạt nghĩa nông nghiệp này ra ngoài. Tổ tiên ta không thể có tên bằng Hán ngữ. Tổ tối cao tối thượng của chúng ta chưa biết làm ruộng.
Việt ngữ Nông:
Việt ngữ nông có những nghĩa sau:
Nghĩa thông thường nhất là cạn, không sâu. Ý nghĩa cạn với sâu này liên hệ tới nước (nông liên hệ với na, lã, với nỏng, lỏng).
Nông là cái bọc, cái túi, ví dụ chim bồ nông. Tại sao lại gọi là chim bồ nông? Xin thưa bồ là do bổ đọc trại đi mà thành. Theo b=m (b là dạng cổ của m như bồ hôi = mồ hôi), bổ = mổ = mỏ. Cái mỏ là cái mổ, cái bổ. Còn nông là cái bao, cái túi. Chim bồ nông là loại chim dưới mỏ và cổ có cái bao, cái bọc, cái túi để xúc cá
Nông cũng liên hệ với nọng. Trong bài "Cái Ðầu Lâu Hoa Cái Nhà Mày" khi nói về từ cổ, chúng tôi đã nói về từ nọng này. Nọng là phần thịt xệ xuống ở dưới cổ như cái nọng heo. "Ðầu trọng nọng khinh" là thịt đầu thì trọng, thịt nọng cổ thì khinh. Ở người mập thịt dưới cằm xệ xuống gọi là nọng cằm. Chim bồ nông là loài chim có cái túi, cái bao, cái nọng dưới mỏ. Tóm lại Nông với ý nghĩa liên hệ với nước và là cái bao cái túi. Nói gộp lại hai nghĩa, nông hàm chứa ý nghĩa cái bọc nước. Vậy Thần Nông là thần Bọc Nước (sẽ giải thích ở dưới). Bây giờ chúng ta mò tìm những từ gần cận với nông. Sau đây là những chữ gần cận với nông:
Nang
Theo chuyển hóa o=a (hột = hạt) ta có nông = nang.
Nang là cái bao, cái bọc, quả cau, cái trứng.
Nang là cái bọc. Thường chỉ cái bọc có nước bên trong vì nang có na(ng) là na, nã, lã, nác, nước. Danh từ y học bướu nang hay bước bọc nước dịch từ chữ cyst.
Nang là quả cau. Về hình dạng bên ngoài thuôn tròn trái soan cau trông giống quả trứng. Khi bổ ra làm đôi quả cau trông cũng giống hệt trái trứng. Quả cau có hột tròn bao quanh bởi lớp thịt trắng, trông giống lòng đỏ và lòng trắng của trứng. Bổ dọc một quả cau ra làm đôi trông giống hệt một quả trứng luộc bổ dọc làm hai. Người Mường ngày nay vẫn gọi cau là nang. Ðả Cần rằng:
"Còn thểu thứ ăn khang oỏng cloọng"
Binh Mường lể phất phất lả clù màng
Kịt kịt buồng nang clởng
Cla bao đệp, xếp bao đọi
Rằng:
"Tâu mơi ông, hỡi ông hà
Cảy nì là chù man nang
Cho ông ăn khang ỏng lọng"
(Trương Sỹ Hùng Bùi Thiện, Vốn Cổ Văn Hóa Việt Nam, nxb Văn Hóa Thông Tin Hà Nội 1995, tập II, tr.694).
Dịch ra Việt ngữ:
Ðá Cần lại rằng:
"Còn thiếu thứ ăn sang uống trọng"
Binh Mường lấy phất phất lá trầu màng,
Trĩu trĩu bẹ nang trứng,
Tra vào đệp, xếp vào đọi,
Ðưa lại rằng:
"Tâu ông ơi, hỡi ông à!
Ðây là trầu, nang,
Cho ông ăn sang, uống trọng".
(tập I tr. 810)
Ðoạn trên đây trích trong bài hát tế "Ðẻ Ðất, Ðẻ Nước" của thầy mo Mường. Ðá Cần cũng gọi là Tá Cần, con trai trưởng trong số năm mươi người ở lại trên núi với mẹ Ngu Cơ. Bẹ nang trứng là buồng cau trứng, hai tác giả dẫn trên giải thích là quả cau to tròn như quả trứng. Thật ra nang là trứng. Cau là trứng. "Nang cloọng" là từ ghép điệp nghĩa. Ta thấy rõ quả cau là quả nang, quả trứng. Mo nang là mo cau. Mã Lai ngữ pinang là cau. Nang là từ nôm. Người Trung Hoa gọi cau là binh lang, họ không thờ trầu cau và không ăn trầu cau nên nang là Việt ngữ, Mường ngữ, Mã ngữ không phải là Hán Việt. Hán Việt binh lang chắc chắn chỉ có thể là từ phiên âm của chúng ta.
-- Ta cũng có từ ghép trứng nước ví dụ phải dập tắt âm mưu từ trong trứng nước. Chúng ta nói trứng nước vì trứng là một cái bọc nước và trứng khởi đầu là một tế bào mầm có nước bên trong. Do đó nông nghĩa là bọc nước ta đã thấy ở trên cũng có nghĩa là trứng. Thần Nông là thần Bọc Nước, Thần Trứng. Như thế nang là cái bọc nước, cái trứng. Ðến đây với nghĩa của Nông và nang vừa giải thích ta thấy rõ Thần Nông là Thần Bọc Nước, Thần Trứng.
Ngoài ra cau còn có nghĩa là không qua chứng tích từ ghép trầu không.
ăn trầu không = ăn trầu cau
lá trầu không = lá trầu cau
ước lược những chữ giống nhau ở mỗi vế, ta còn lại:
không = cau
Không có một nghĩa là khoảng không, không gian, vũ trụ. Vậy cau = nang = nông = không với không có hàm nghĩa là không gian vũ trụ. Ta có thể kiểm chứng lại cho chắc ăn. Trong toán học số không (zero) biểu tượng bằng vòng tròn như chữ o. Ta ví o tròn như quả trứng gà. Như thế không = o (zero) = trứng = cau. Trái cau là trái trứng, trái không (gian). Ta cũng đã biết Pháp ngữ non (đọc là nông) có nghĩa là không là chuyển hóa của Việt ngữ không. Trong bài viết "Mỡ Ểu Áo Vàng Chẳng Có Việc" chúng tôi đã chứng minh Pháp ngữ non = không (Việt ngữ) theo qui luật chuyển hóa kh=n như khỏ (khô, trái bưởi khỏ là trái bưởi múi bị khô) = nỏ, khện = nện. Như thế nông (túi, cau, Pháp ngữ non) dù cùng nghĩa hay khác nghĩa về thanh âm cũng vẫn là chuyển hóa của không (gian, zero, chẳng) được. Vậy trái không là trái nông, trái nang, trái cau. Trầu không là trầu cau. Quả cau, quả không là hình ảnh không gian, vũ trụ. Gộp lại các nghĩa vừa có ta thấy thần nông, thần nang là thần trứng không gian, trứng vũ trụ. Tiến sâu hơn nữa, đọc thêm hơi vào cau ta có cau = chau, châu. Châu là đỏ, trời. Trái cau ăn với trầu cho ra chất nước màu đỏ. Trầu là châu cũng có nghĩa là đỏ. Phạn ngữ pan hay pahn, trầu cau. Theo p=b, pan = ban, Việt ngữ ban là đỏ như ban sởi (Nhận Diện Danh Tính Vua Tổ Hùng Vương, số trước). Trầu cau đều là đỏ nên dùng để thờ cúng Tổ Ðỏ và đây là lý do sự tích trầu cau có từ thời vua Ðỏ Mặt Trời Mọc Hừng vương. Vậy nông, nang là trứng không gian vũ trụ. Thần Nông, thần Nang là thần Trứng vũ trụ (cosmic egg).
Nung
Theo chuyển hóa o=u (tôi = tui), nông = nung. Nung là nóng, đốt, hầm lửa như nung nấu, nung gạch. Thần nông, thần nung là thần nóng, thần lửa. Thần Nông với nghĩa là Thần Nung có hiệu là Viêm đế thì đúng đứt đuôi con nòng nọc rồi.
Nong
Nong là vật đan bằng tre tròn, lớn để phơi đồ. Cái nong mang hình ảnh của mặt trời. Thần Nong là thần mặt trời, thần vòm trời.
Nồng
Nồng là nóng như nồng nực, oi nồng... Ðiều này cũng thích ứng với thần Nông, thần Nồng có tên hiệu là Viêm đế.
Nọng
Nông liên hệ với nọng như đã thấy ở trên. Ở đây xin nói tới nọng với nghĩa là lọng (n=l). Lọng là cái tán che. Lọng tròn đỏ ngày nay còn thấy thờ trong đền chùa và dùng cho vua. Chúng ta thờ lọng đỏ tiêu biểu cho mặt trời tròn đỏ, cho vòm trời. Nọng, lọng cho ra nón. Chiếc nón thúng của người Bắc tiêu biểu cho mặt trời. Người Ao (Âu) Naga ở Assam, phần cực tây của địa khối Vân Nam cũng thờ mặt trời (In a way, there is a sun worship...) (William Carlson Smith, The Ao Naga Tribe of Assam, 1925, tr.87) cũng có nón thúng hình tròn như người Bắc: "They have a large cicular hat, about three feet in diameter, made of palm leaves and bamboo strips" (William Carlson Smith, tr.19) (Họ có cái nón hình tròn đường kính khoảng ba bộ làm bằng lá gồi và nan tre). Ðường kính ba bộ dài gần một mét giống hệt nón thúng quai thao của phụ nữ miền Bắc ngày nay còn dùng. Trong các đền miếu còn thờ các loại nón thúng mặt trời này nhất là đền của các bà đồng thờ Mẹ trời.
H4: Phụ nữ miền Bắc đội nón thúng quai thao. (hình sưu tập của Poujade de Ladevèze, Femme coiffée du grand chapeau, in lại trong Những Hình Ảnh Xưa, Nguyễn Khắc Ngữ). Nơi đất tổ lập quốc của Lạc Việt ở Bắc tổ tiên chúng ta đã đặt tên cho ngọn núi cao nhất là núi Tản:
Nhất cao là núi Tản Viên
Núi Tản Viên vừa có nghĩa là núi hình "tán tròn", núi hình lọng tròn tiêu biểu cho vũ trụ, vòm trời, mặt trời vừa có nghĩa là núi Tản, núi Ðản nghĩa là núi Trứng, núi Ðẻ. Vậy thần Nông là thần Lọng, Thần Vòm Trời, Thần Mặt Trời.
Nùng
Theo o=u ta có nồng = nùng. Chúng ta có câu nói "núi Nùng sông Nhị". Núi Nùng cũng là tên gọi núi Tản. Tại sao gọi là núi Nùng? Xin thưa nùng là số một (number one). Núi Nùng sông Nhị là núi Một sông Hai. Thật vậy chứng tích còn thấy là trong Thái ngữ nung là một. Ðiều này cho thấy núi Nùng là núi Nguyên Thể (primlevel mountain) tạo ra trái đất. Tại thượng du Bắc Việt có một sắc tộc nổi tiếng gan dạ là người Nùng. Sắc tộc này đã gọi mình theo thần Nông. Vậy thần Nông thần Nùng là thần số Một, thần Vũ Trụ.
Nòng
Theo n=l=tr, nòng = lòng = tròng. Ta nói lòng trứng, tròng trứng, lòng đỏ, tròng đỏ... Con mắt có tròng nâu tròn và phần trắng bao quanh trông giống cái trứng có tròng đỏ và tròng trắng nên ta cũng nói tròng, lòng mắt. Mắt là tiêu biểu cho trời. Mắt và mặt cùng một vần. Lòng còn có nghĩa là bụng, là dạ. Ta có từ ghép lòng dạ. Dạ đây không hẳn là dạ dầy mà là dạ con. Lòng-dạ-con mang nghĩa sinh đẻ tương đương với trứng. Vậy Thần Nông là thần Nòng, Lòng, thần Ðẻ, thần Mắt, thần Trứng.
Nàng, Nường
Nàng chuyển hóa với nồng. Nàng chỉ người có nang, có trứng, có "nường" (với nghĩa tục) nghĩa là phái nữ. Nàng là mẹ, là đẻ. Như thế Thần Nông là thần Nàng, là bà Thần Nông chứ không phải ông Thần Nông. Trứng tiêu biểu cho tạo sinh, sinh đẻ, giống cái. Mẹ Nông, Mẹ Nàng, Mẹ Tạo hóa, mẹ khai sinh ra vũ trụ, thế giới, con người. Chuyển hóa với nàng là nường cũng hàm nghĩa là phái nữ, mẹ, con gái ngoài ra còn chỉ bộ phận sinh dục nữ như Nõ Nường. Thần Nông là thần Nàng, thần Nường, là Mẹ tối cao tối thượng. Tóm lại Thần Nông của chúng ta là thần Nang, thần Nung, thần Nồng, thần Nùng, thần Nòng, thần Nong, thần Nàng, thần Nường, thần Lọng... thần tạo ra, đẻ ra vũ trụ, trời đất, vạn vật, là mẹ vũ trụ, mẹ trời. Với ý nghĩa là vị thần tối cao tối thượng thì thần Nông là Thần Nang là Thần Mẹ Trứng Vũ Trụ. Trứng vũ trụ (cosmic egg) bao hàm ý nghĩa vũ trụ tạo sinh, tạo ra vạn vật nhưng trong thực tế vũ trụ cũng giống hình quả trứng. Hãy ngửa mặt nhìn lên trời, chúng ta thấy vòm trời khum khum như hình vỏ trứng. Không gian trong suốt giống lòng trắng trứng. Mặt trời đỏ giống tròng đỏ trứng. Vũ trụ quả là một trái trứng. Ðể kiểm chứng lại cho đúng và để đánh tan những nghi ngờ nếu còn sót lại trong đầu những người đa nghi trong số một tỉ người Tầu và bẩy mươi lăm triệu người Việt đã bị điều kiện hóa tin Thần Nông là nông thần, y thần, chúng tôi xin đối chiếu Mẹ Trứng vũ trụ, bầu trời của chúng ta với một vị thần bầu trời của một tộc Nam Man ngày nay sống ở miền cực tây địa khối Vân Nam. Ðó là người Ao Naga. Người Ao Naga là một tộc Nam Man "săn đầu người" (head hunters) có lẽ là một tộc Âu Việt. Họ có rất nhiều điểm giống Lạc Việt chúng ta như thờ con dao (vừa là vũ khí) giống cái rào của ta (thấy trên trống đồng) họ cũng gọi y chang như chúng ta là "dao", họ cũng xâm mình, ăn trầu, có nón thúng tròn hình mặt trời như phụ nữ miền Bắc, có nhà rong (nhà rồng), nhà làng gọi là morong. Họ cũng kiêng không ăn thịt quạ và phụ nữ miền Bắc ngày nay còn chít khăn mỏ quạ. Cả hai đều tôn thờ quạ. Các người con gái Aor khi đi lấy chồng ngoài tộc vẫn giữ những biểu hiệu cũ của thị tộc của mình trên quần áo mặc hay đồ trang sức. Phụ nữ miền Bắc chít khăn mỏ quạ cũng là một truyền thống cổ giữ lại biểu hiệu cũ của thị tộc có từ ngàn xưa. Chẳng lẽ phụ nữ miền Bắc tôn thờ đội trên đầu mỏ quạ đen ăn thịt người? Dĩ nhiên là không. Quạ đây là con quạ vàng kim ô tiêu biểu cho mặt trời. Các bà đồng chít khăn đỏ, khăn điều mỏ quạ. Ngày nay phụ nữ bình dân miền Bắc đội khăn đà, khăn nâu, khăn đen cho sạch. Phụ nữ miền Bắc chít khăn mỏ quạ mà vẫn thấy đây là một tập quán đẹp không có chút gì xấu hổ và các mhà đạo đức, trí thức Việt không hề bài xích việc đội trên đầu loài chim quạ ăn thịt người, loài chim quạ biểu tượng cho chết chóc. Ðiều này chứng tỏ đây là một thứ sùng bái, một thứ tín ngưỡng, thờ phượng chim trời của chúng ta. Và còn nhiều thứ nữa chúng tôi sẽ khai triển thêm khi có dịp.
H5: Người Ao, Nagaland ở Assam
Có nhiều học giả đã giải thích từ Naga. Có hai nghĩa ăn khớp với chúng ta. Naga là rắn ăn khớp với thuồng luồng, sấu dao (dao long), rồng của chúng ta. Naga có thể là dao đã Ấn hóa (Nhận Diện Chân Tướng Vật Tổ Giao Long của Hừng Việt, YHTT xuân Bính Tý). Nghĩa thứ hai Naga là noga do gốc nog, nok, Ao ngữ nok hay noka là "people", người, liên hệ với Phạn ngữ loka, people, ăn khớp với chúng ta Mường, Mán, Mọi đều có nghĩa là Người, people. Từ Ao có lẽ là Âu. Họ gọi họ là Aor. Các nhà nhân chủng học trước đây giải thích Aor là "the going ones" (William Carlson Smith, The Ao Naga Tribe of Assam, 1925, tr.171) chỉ những người vượt qua con sông lớn Dikku ở Assam. Ta thấy Aor có nghĩa là "vượt" (sông), "bỏ đi" chính là nghĩa của Việt. Có người đã giải thích từ Việt là do người Trung Hoa gọi nhóm Xích quỉ Vượt sông Dương Tử xuôi nam. Aor và Việt đều chỉ "vượt" (sông) bỏ đi. Aor Việt mang âm Âu Việt đều là Hừng Việt. Họ cũng thờ mặt trời. Họ cũng có taboo (cấm kỵ) gọi là genna hay kenna (liên hệ với Việt ngữ kiêng, khem) là không ăn trứng chỉ những pháp sư lúc làm lễ mới ăn trứng sống (Pháp sư là những kẻ môi giới với thần linh nên ăn trứng để biến mình thành ruột thịt với thần trứng mới có thể liên lạc được với thần Trứng được). Họ treo vỏ trứng thờ thần. "When the weather is inclement for several days, the priests collect a number of eggs and going to a particular spot, break them and eat them raw, hanging up the shells for the deity. Then they implore the sun deity to grant favorable weather..." (William Carlson Smith, 1925, tr.87) ["Khi thời tiết độc địa (kéo dài) nhiều ngày, các pháp sư, thầy tế tìm nhặt trứng và tới một địa điểm đặc biệt, đập trứng ăn sống, treo vỏ lên cho thần linh. Rồi họ cầu xin thần mặt trời ban cho họ thời tiết thuận hòa..."]. Chúng ta biết con người có taboo không ăn thịt vật tổ hay vật thờ ví dụ người Ấn Ðộ thờ bò không ăn thịt bò, thờ heo không ăn thịt heo. Từ đó ta có thể suy ra người Ao Naga cũng thờ trứng nên có taboo không ăn trứng. Ông Tổ tối cao của người Aor ngày nay có một tên là Anung tsungrem ("god of the aerial expanse", thần bầu trời) (tr.78). Tsungrem là thần. Rõ ràng (A)Nung, bầu trời giống hệt mặt chữ Nung, Nông, thần trứng vũ trụ, bầu trời của chúng ta. Nếu giải thích theo Việt ngữ thì Anung có thể là Ả Nung với ả chỉ phái nữ thì Ả Nung là bà hay mẹ Nung. Thần Nông của chúng ta cũng là Mẹ Nung, Mẹ Nông, Mẹ Bầu trời, Mẹ Vũ trụ. Rõ như ban ngày là chúng ta và người Ao ở Nagaland đều thờ thần Bầu Trời Nung (Nông)/ Anung và chúng tôi đã giải thích Nung, Nông là Trứng Vũ Trụ. Nếu còn ai khó tính vẫn chưa tin, chúng tôi kiểm chứng thêm một lần nữa qua ngôn ngữ học. Ở trên ta đã biết Nung là bầu trời, không gian, trời và Nung cũng có nghĩa là một như núi Nùng là núi Một và Thái ngữ nung (one) là một. Vũ trụ giống trái trứng có nghĩa là không gian, số không (zero), hư vô nhưng trong một vài ngôn ngữ, vũ trụ lại có nghĩa hoán đổi với trời có nghĩa là một. Ví dụ Anh Pháp ngữ vũ trụ gọi là Universe. Giải tự Universe có Un, Uni (verse) là Pháp ngữ Un (một), unique (độc nhất). Trong Pháp, Anh... rõ ràng vũ trụ là số một, là đầu tiên, là trời là Nung (One). ...
Những Chứng Tích Việt Nam Thờ Thần Trứng
Chúng ta có thờ trứng vũ trụ không? Dĩ nhiên là có.
Thờ cúng trái cau (trái nang, trái trứng) vật biểu của Mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông. Sự tích trầu cau có từ đời Hùng vương.
Thờ Mẹ Trứng Vũ Trụ Trống Ðồng Ðông Sơn. Vật tổ Thần Nông có khắc trên trống đồng Ngọc Lũ (sẽ nói rõ trong bài Ý Nghĩa Trống Ðồng đăng trên YHTT nay mai).
Ông Bàng Tổ được sinh ra từ một cái trứng vũ trụ. (Ông Bàng Tổ là của chúng ta xem Nhận Diện Danh Tính Vua Tổ Hùng Vương số trước).
Truyền thuyết bà Âu Cơ đẻ ra một trăm cái trứng nở ra trăm con, trăm Việt. Bà Âu Cơ là một hình bóng của Mẹ Trứng Vũ trụ Thần Nông.
Hừng vương Mặt Trời Mọc do trứng bà Âu Cơ nở ra.
Núi Tản: Tổ tiên chúng ta đã đặt tên ngọn núi cao nhất tại vùng đất lập quốc là núi Tản có nghĩa là núi Trứng.
Thờ dâm thần Nường: Tại Bắc Việt trước đây kể cả nơi đất tổ Phú Thọ, nhiều làng dân dã còn tục thờ phượng, rước lễ dâm thần. Thờ Nường (cùng với Nõ).
Ngày nay dân Việt cũng còn coi trứng là tiểu biểu cho sự đầu thai, tái sinh. Chúng ta ngày nay cũng còn tục lệ cúng người chết với một chén cơm bên trên có một quả trứng luộc bóc vỏ để kẹp giữa hai cái đũa vót còn để dăm bào xù một đầu. Ðũa đầu xù là hình thức cây nêu để hồn có chỗ đậu xuống. Người Ainu có nhiều loại nêu Inau. Một trong những inau đặc thù là loại inau chuốt còn để lại vỏ dăm bào tua tủa, xoắn tít, rũ xuống, xù ra ở một đầu gậy. Hình ảnh này thấy trong các cây nêu Việt Nam làm bằng cây tre vẫn giữ lại cành lá ở chỏm ngọn. Inau với phần xù trên đầu làm bằng nhiều mảnh dăm bào dài, xoắn, còn để dính lại gọi là inau kike... Nêu này được coi là loại có nhiều thần lực... (Nguyễn Xuân Quang, Cây Nêu, Một Cái "Nêu" Nhân Chủng Học , Y Tế Phổ Thông xuân Ất Hợi, tr.66-72). Ta có thể kiểm chứng lại với các dân tộc khác thờ Trứng vũ trụ như chúng ta:
A. Họ Hồng Bàng Thờ Mặt Trời
Truyền thuyết về tạo sinh vũ trụ của nhiều tộc thờ mặt trời như Nhật, Ðại Hàn, Ai cập, Thổ dân châu Mỹ... cũng chia xẻ quan niệm Mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông của chúng ta.
Ai Cập
Thuyết vũ trụ tạo sinh của Ai cập cũng rất phức tạp và thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, theo từng vùng. Ðiều này cho thấy sự thờ bái mặt trời và trứng vũ trụ có gốc gác không phải phát xuất ra từ Ai Cập mà du nhập từ ngoài vào. Bằng chứng hùng hồn nhất là chỉ vua chúa thờ bái mặt trời xây kim tự tháp còn dân dã không thờ mặt trời. Nếu sự thờ bái gốc gác ở Ai Cập thì phải được dân dã Ai Cập sùng bái.
Một con chim được cho là đẻ ra trứng vũ trụ là con cò ibis. Thần Cò có tên là Thoth. Thần Cò Thoth cũng là thần của xứ mặt trời Heliopolis.
Thần thoại về tạo sinh vũ trụ (creation myths) của Hermopolis cũng giống như Heliopolis và Memphis, khởi sự từ gò đống nguyên khởi (primlevel mound) (tương ứng với núi Một, núi Nùng của chúng ta). Tại Hermopolis, đền xây gần hồ thiêng và trong hồ có một đảo nhỏ đó là gò nguyên tạo và là chỗ hành hương (great place for pilgrimages). Từ gò đống này, vào thời hỗn mang, xuất hiện một con ngỗng trời (celestial goose) "Thiên Nga". Ngỗng trời đẻ ra một cái trứng. Trứng nở ra thần Mặt Trời Ra và đấng tạo hóa (Sun god and creator of the world).
Ai Cập có nữ thần bầu trời tên Nut. Ta thấy nữ thần Bầu Trời Nut gần cận với thần mẹ bầu trời Nung (Nông) của chúng ta. Theo t=n ta có Nut = nun = nung = nông. Nữ Thần Nut gần cận với nữ Thần Nung, thần Nông của chúng ta và thần Anung của người Ao ở Nagaland.
- Những hình quả trứng vẽ trên xác ướp trong các hình tượng Ai Cập cũng tiêu biểu cho "hạt giống sinh thành" ("the seed of becoming").
- Mắt (tròng, trứng) là biểu tượng cho Mặt Trời Ra (eye of Ra). Việt Nam từ mắt chỉ khác mặt có một cái dấu và gọi trời là mặt trời và cũng có từ trời có mắt. Con của thần Mặt Trời là Ma at, nữ thần Chân Lý và Công Lý, biểu tượng bằng cái lông chim trên đầu. Ma at chính là Mắt, Mặt Việt ngữ. Con đò trời (solar barque, đò chở mặt trời) của Ai Cập có vẽ ở mũi thuyền hình con mắt giống y hệt các thuyền ở miền Trung Nam Việt Nam ngày nay còn vẽ con mắt ở mũi thuyền (xem hình).
Hình 6: Thần Mặt trời ngồi trên đò trời tay cầm chữ thập ankh, đời sống, thường được gọi là "chìa khóa của sự sống"
Ai Cập ngữ Ankh, life, sự sống, đời, thường biểu tượng bằng hình chữ thập trên đầu có lỗ hình quả trứng mà các học giả thường gọi là "cái chìa khóa của sự sống" ("key of life") (xem hình). Thật ra theo chúng tôi đây là trái trứng và cái cọc sinh ra đời sống. Ðây chính là biểu tượng âm dương của Ai Cập (cái que, cái cọc, biểu tượng cho sinh dục nam, trái trứng cũng tượng trưng cho dạ con, bộ phận sinh dục nữ là biểu tượng cho âm, nữ giới). Ai Cập ngữ Ankh liên hệ với Phạn ngữ anda (trứng).
Nhật Bản
Cũng như Việt Nam các vua chúa đều được đẻ ra từ một quả trứng. Theo Cổ Thư thoạt khởi thủy thế giới là một khối hỗn mang trời đất chưa tách biệt, hình dạng giống như một quả trứng nhưng không có giới hạn. Sau đó, phần tinh khiết hơn, trong sáng hơn biến thành trời (heaven). Phần nặng hơn, thô kệch hơn lắng xuống biến thành đất. Lúc này đất như cá trôi nổi trên mặt đại dương nguyên thủy (primlevel ocean)... Thái Dương Thần nữ là đời thứ sáu giống hệt bà Âu Cơ cũng là con cháu dòng thứ sáu của Mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông (Thần Nông, tam vương là bốn, Ðế Lai là năm, Âu Cơ là sáu).
B. Những Chủng Tộc Khác
Các chủng khác ngày nay không còn thấy rõ thờ mẹ Trời nữa như Ấn Ðộ, Trung Hoa... cũng có thuyết trứng vũ trụ.
Ấn Ðộ
Ấn Ðộ có nhiều thuyết vũ trụ tạo hình. Cổ nhất thấy trong kinh Rig Veda sáng tác bằng Phạn ngữ ở vùng Tây bắc Ấn Ðộ vào khoảng năm 1.500 trước Tây lịch. Truyền thuyết chính yếu của Rig Veda là truyền thuyết tạo sinh vũ trụ. Thêm vào đó có nhiều truyền thuyết khác viết trong Brahmanas vài thế kỷ sau. Trong kinh Rig Veda truyền thuyết cũng được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau. . Vũ trụ thoạt đầu là một khối hỗn mang. Sau đó thần tổ Indra, vua của tất cả các thần linh và là thần mưa cùng thần mặt trời Vishnu tách ra thành trời và đất. Rồi mặt trời mọc từ rốn trái đất, tại đó dựng lên một cái trụ trời giữ trời đất tách biệt ra.
Trong kinh Rig Veda về sau lại nói tới một truyền thuyết khác về tạo sinh vũ trụ. Ðó là ông tổ vũ trụ Purusha, người tự hy sinh chặt thân thể mình tạo ra vũ trụ và bốn giai cấp xã hội (giáo sĩ, chiến sĩ, thường dân và nô lệ). Purusha tương đương với Bàn Cổ.
Dần dần dẫn đến một vị thần duy nhất được coi như là tác giả tạo ra vũ trụ. Ðó là Prajapati Ðấng Tạo Hóa , về sau gọi là đấng Brahma. Trong Rig Veda, thần trời loạn luân với con gái là thần rạng đông gieo hạt giống mầm sống xuống đất. Trong Brahmanas thì cho là Prajapati làm công việc này. "Hạt giống vàng" cho vào nước vũ trụ nở ra trái trứng vàng vũ trụ sau đó tách ra làm hai trời và đất. Mặt trời là lòng đỏ của trứng vũ trụ. Về sau nữa vũ trụ được gọi là trái Trứng Brahma. Phạn ngữ Brahmânda chỉ thế giới, vũ trụ; Brahmânda do Brahma-anda với anda là trứng. Ðấng tạo hóa Brahma chui ra từ cái trứng này và hóa phép cho các phần quả trứng biến thành tám con voi đứng bốn góc và bốn điểm giữa để giữ trời đất tách biệt ra.
Trung Hoa
Chúng tôi đã nói trong bài Nhận Diện Danh Tính Vua Tổ Hùng Vương số trước là thuyết tạo sinh vũ trụ của người Trung Hoa có một thuyết cho là lúc Hỗn Mang hay Hỗn Ðộn (Chaos) vũ trụ giống như một cái trứng gà. Lúc đó đất trời chưa có. Từ trái trứng này đẻ ra ông Bàn Cổ. Thuyết này xuất hiện rất muộn, không thống nhất, rất hỗn độn vá víu... rõ ràng là Bàn Cổ không phải của người Trung Hoa. Quan niệm vũ trụ là một cái trứng là của Nam Man chúng ta.
Các Dân Tộc Khác
Trong các cổ mộ thời sơ khai tiền sử người ta tìm thấy nhiều trứng bằng đất sét biểu tượng cho bất tử, tái sinh. Người La Mã chôn trứng với người chết. Người Maori ở New Zealand, trước khi giống chim Moa tuyệt chủng, có tục là để trứng của loài chim lớn này vào tay người chết. Thiên Chúa giáo cũng coi trứng là biểu tượng cho tái sinh, Phục Sinh. Biểu tượng của tái sinh nhân dịp đầu mùa xuân của lễ Phục Sinh Easter của chúa Christ với tục lệ là nhuộm hay sơn trứng đủ màu và trẻ em đi săn trứng ngày nay còn thấy ở Hoa Kỳ.

Kết Luận
Mẹ Trứng vũ trụ Thần Nông là của Hừng Việt, là một nữ thần tạo sinh ra vũ trụ là Mẹ, là Nàng. Trung Hoa đã "hấp thụ" của rợ Nam Man rồi đổi qua thành thần Nông nông thần lơ lửng trong sử Trung Hoa chẳng ăn nhập đâu vào đâu cả. Thần Nông lại vá víu với nông thần và y học và chỉ có khoảng 5.000 tuổi. Những cái gì chép nhặt bao giờ cũng đầu Ngô mình Sở (đúng là lấy đầu của Ngô Việt ghép vào đuôi Sở Việt làm thành Trung Hoa), chép nhặt bao giờ cũng dấu đầu lòi đuôi. Các nhà nho ta đã Hoa hóa Mẹ Thần Nông Trứng vũ trụ của chúng ta thành ông Thần Nông nông thần của Trung Hoa. Mẹ Trứng vũ trụ Thần Nông của chúng ta có từ khai thiên lập địa già 4.6 tỉ tuổi từ lúc thái dương hệ ra đời và trái đất thành hình.
Mẹ Trứng vũ trụ Thần Nông có hiệu là Viêm đế hiển nhiên là đúng trăm phần trăm.
Cổ sử Trung Hoa chép là thần Nông làm vua được tám đời. Cả Tầu lẫn ta đều không ai biết tám đời này là ai. Nhưng chúng tôi đã khám phá ra. Ðó là tam vương ngũ đế. Ba đời vương cộng với năm đời đế tổng cộng là 8 đời. Và chúng tôi cũng bật mí được cái bí mật là tại sao Ðế Minh là vị đế đầu tiên lại là cháu bốn đời vua Thần Nông. Rõ như ban ngày đế Minh sau tam vương nên là cháu bốn đời của Mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông của chúng ta.
Tóm lại Thần Nông tuyệt nhiên không phải là Nông thần "đầu bò, đầu bướu", chuyên về canh nông và y học. Thần Nông của chúng ta là Mẹ Trứng Vũ trụ Thần Nông có hiệu là Viêm Ðế ăn khớp với với Hừng Việt, với Mặt Trời. Viêm đế phải hiểu là thần Nóng, thần Lửa có từ lúc hồng hoang "big bang". Chứng tích còn thấy là các vua Hùng cũng thờ Thần Lửa, ngày nay còn di tích ở đền Hùng: "Trên đền Trung là đền Thượng, tức Kính Thiên tĩnh điện (nơi các vua Hùng thờ Trời, Ðất và Thần Lửa)" (Bảo Vân, Trẩy Hội Ðền Hùng, YHTT, số 13, tháng 4, 1996 tr.9) Tất cả các thuyết của Trung Hoa và của ta từ trước tới nay về vua Thần Nông đều cần phải xét lại nếu không muốn nói trắng ra là sai hết cả. Xin đề nghị kể từ nay để tránh lầm lẫn nên gọi là Mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông thay vì ông Thần Nông . :((
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#39
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:

Ăn Trầu Ngắt Đuôi






Thuở ấy, ở xóm kia có chàng thanh niên và cô thiếu nữ rất xứng đôi vừa lứa. Cha mẹ của đôi bên đều bằng lòng kết tình thông gia nhưng chưa nói cho con mình biết.
Vì quá yêu nhau, hằng đêm cô thiếu nữ lén mở cửa phòng rước cậu trai vào tình tự. mãi đến gà gáy hừng đông, cậu trai mới ra về. Cứ như vậy ngày này qua tháng kia.
Buổi nọ, trước khi về, cậu trai ao ước được ăn một miếng trầu. Nhìn trong khay thấy hết trầu, cô thiếu nữ liền chạy ra vườn hái lá đem vô, têm vôi, mời chàng. Dè đâu miếng trầu nhai chưa dập chàng nọ ngã lăn, trào đờm rồi chết. Hoảng hốt nàng tri hô lên. Quan chạy lại khám xét tử thi, thấy nhiều đốm đỏ loang khắp mình.
Thế là cô nọ bị bắt giam để xét hỏi vì tội bỏ thuốc độc giết người. Cô cứ một mực kêu oan. Cuộc tra tấn kéo dài, lần lần cô trở nên ốm o gầy mòn, gần chết trong ngục.
May sao, có ông quan Án đi qua. Quan Án hỏi cô:
- Đầu đuôi tự sự như thế nào? Mi phải khai rõ.
Cô nọ nói sự thật. Nghe xong, vị quan suy nghĩ, gật đầu. Ông đi ra ngoài vườn xem từng lá trầu trên nọc. Ông chú ý: mấy lá ở sát gốc đều dính một chất gì nhớt ngay chót đuôi lá, giống như là con ốc, con sên bò qua nhả nước miếng.
Nhưng không thấy con ốc, con sên nào cả!
Ông quá tức trí, ra lệnh đào dưới đất, ngay nọc trầu đào thật sâu, bỗng nghe tiếng khò khè. Rõ ràng là con thuồng luồng nằm khoanh trong hang. Dân chúng chạy tứ tán.
Ông quan nói:
- Con thuồng luồng này hàng đêm lén bò lên mặt đất để kiếm nước uống. Vì quá khát nước, nó phải liếm mấy giọt sương đọng ở chót đuôi mấy lá trầu gần mặt đất. Nọc con thuồng luồng dính lại trên lá nên giết người. Cô gái này bị hàm oan.
Chòm xóm nhìn nhận lời vị quan nọ là chí lý, tài trí như Bao Công thuở trước. Từ đó về sau, trước khi têm trầu, ai nấy đều ngắt chót đuôi lá vì sợ nọc con thuồng luồng. Bây giờ, giống thuồng luồng không còn nữa nhưng thói quen của con người hãy còn...
:dede
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."



#40
Iron Lady

Iron Lady

    Bao nhiêu là đủ

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPip
  • 1856 Bài Viết:

Thần Giữ Cửa






Ngày Xưa có hai anh em nhà kia rất nghèo nàn. Cả hai anh em chỉ chuyên nghề bán rau đốn củi đổi gạo sống qua ngày.
Tuy nghèo, hai anh em vẫn nhân từ phúc hậu thường hay bố thí chén cơm, chén gạo cho kẻ già yếu tật nguyền. Trong nhà có nuôi con chó cái lúc nọ đẻ ra con chó trắng chỉ có ba chân. Làng xóm cho là quái vật hiện lên khuyấy phá bảo giết đi, anh em chẳng những không giết mà còn nuôi dưỡng con chó đến ngày khôn lớn.
Một hôm hai anh em đang ngồi ăn cơm, chợt thấy một ông lão ăn mày chống gậy vào cửa xin cơm. Cả hai đều nhường cơm cho lão ăn mày ăn no. Ăn xong ông lão ăn mày nói:
- Tiếng đồn quả thật không sai, hai anh em một nhà đều là người nhân đức, đáng được thưởng. Ta nay không phải là kẻ ăn mày nghèo khó mà là Thần giữ kho vàng Sơn Tây, lúc nãy muốn thử lòng các ngươi, nay ta đã biết rồi. Ta muốn ban cho các ngươi kho vàng.
Ông lão ăn mày tức thần giữ của kho vàng tiếp rằng:
-Ngày xưa có một vị quan Tàu tên là Mã Kỳ, có chôn giấu tại một khu vườn thuộc huyên Lập Thạch tỉnh Sơn Tây một kho vàng và phong ta làm Thần giữ của, hẹn đúng một trăm năm thì có người trở lại lấy. Ta trong đợi mãi, hơn một trăm năm rồi chẳng thấy người của Mãû Kỳ trở lại, nhân thấy các ngươi nghèo khổ mà có lòng nhân đức nên ta định đem kho tàng tặng cho các ngươi. Nhưng các ngươi phải đợi đủ một trăm ngày à phải có một con chó trắng (tức chó cò) ba chân đem trước của kho tàng tức là tòa miếu cổ ở khu vườn, bắt nó sủa lên ba tiếng, tự nhiên cửa kho tàng bên cái kệ đámở ra. Thôi các ngươi hãy cố nhớ lời, ta xin kiếu.
Nói rồi, Thần giữ của biến đi. Hai anh em đợi đúng một trăm ngày, dắt con chó cò đến miếu hoang, tới bên cái bệ đá, bắt chó sủa lên ba tiếng, tức thì cánh cửa đặt ngầm trong cái bệ đá mở toang, nhìn vào trong thì thấy một dãy chum vại nằm kề liền nhau. Hai anh em bước vào mở nắp chum vại ra xem thấy toàn vàng và bạc. Đem về đếm được một nghìn cân vàng và ba vạn cân bạc.
Từ đó, hai anh em trở nên giàu có lớn. Gặp lúc Mạc Đăng Dung chiếm đoạt ngôi nhà Lê, hai anh em nhờ người cận thần tiến dẫn đem biếu Mạc Đăng Dung một trăm cân vàng, một trăm cân bạc. Vua Mạc cho thâu nhận rồi phong cho hai anh em tước Quận công.
Cách ba năm sau, có năm, sáu người Tàu dắt một con chó trắng đến ngay tòa miếu chôn của mở cửa kho vàng, họ chỉ thấy kho vàng trống trơn. Họ kêu khóc thảm thiết. Hai anh em Quận công sai người gọi họ đến thì họ đáp rằng:
- Chúng tôi là con cháu của Mã Kỳ ở bên Trung Quốc, trăm năm trước tổ phụ của chúng tôi có để tại Sơn Tây một kho tàng châu báu, hiện còn gia phả để lại đàng hoàng, nhưng chúng tôi đến đây rồi, thì kho tàng không biết ai đã lấy mất rồi, vì vậy chúng tôi buồn khổ mà khóc.
Hai anh em Quận công nói rằng:
- Nhờ thần nhân chỉ bảo, nên anh em chúng ta lấy được kho vàng.
Mấy người Tàu liền hỏi:
- Làm sao các ngươi lấy được kho vàng, vì muốn mở cửa kho vàng phải có con chó cò ba chân mới mở được.
Anh em Quận công bảo rằng:
- Nhà chúng ta có sẵn.
Rồi anh em thuật cho họ nghe, chuyện con chó cái nhà mình đẻ ra con chó trắng mà mọi người cho là quái vật, cho họ nghe.
Họ nói:
-Thế thì trời đã giành cho các ngài, chớ giống chó có ba chân chỉ có quận Sầm Châu tỉnh Quảng Đông bên Tàu mới có mà thôi. Bây giờ của các ngài đã lấy rồi, chúng tôi còn giữ lấy con chó làm gì nữa, vậy xin tặng luôn các ngài đó.
Hai anh em Quận công thương tình, cho họ ba chục cân vàng và một trăm cân bạc để làm lộ phí trở về Tàu.

Hết gùi :53:
"...Ta muốn hát trong những ngày khắc khoải
Một cọng rơm buộc lấy mảnh mây trời
Đừng cố giữ những gì còn sót lại
Không thuộc về mình... có níu cũng vuột thôi!..."








Perfumista - Thong tin nuoc hoa

Stars Counter Game

Balloon vs. Thorns

MU Phuc Hung

Làm Việc Tài Nhà

Mu Da Nang

Tuyển Nhân Viên Bán Hàng

Tư vấn sức khỏe trực tuyến

Close [X]