Jump to content

Welcome to [ iT ] Forums
Register now to gain access to all of our features. Once registered and logged in, you will be able to create topics, post replies to existing threads, give reputation to your fellow members, get your own private messenger, post status updates, manage your profile and so much more. If you already have an account, login here - otherwise create an account for free today!
Cộng đồng Âm nhạc Việt Nam

Hình ảnh

Kho tàng KIẾN THỨC PHỔ THÔNG


  • Please log in to reply
120 replies to this topic

#1
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Chương I : KIẾN THỨC PHỔ THÔNG


Thuật thôi miên là gì ?


Thuật thôi miên là một nghệ thuật có thể làm thay đổi hoặc kiểm soát trạng thái tinh thần của một người đến mức người đó phải làm theo các chỉ thị của người thôi miên. Người ta đã áp dụng thuật thôi miên từ thời cổ xưa để thể hiện quyền lực bí hiểm, phép thần thông. Một bác sĩ người Áo, Franz A.Mesmer, khởi xướng một cuộc nguyên cứu khoa học về thuật thôi miên. Suốt một thời gian dài người ta biết được thuật thôi miên dưới cái tên là "mesmerism" . Từ "hypnotism" ( thuật thôi miên) được Jame Braid, một bác sĩ người Scotland, sử dụng đầu tiên vào năm 1840. Từ này có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp. "Hypnos" có nghĩa là "trạng thái ngủ".

Thật vậy, một người bị thôi miên giống như người bị mơ mơ màng màng. Đầu óc của người đó bị tác động đến nỗi có thể làm bất cứ điều gì theo chỉ thị của người thôi miên. Lực thôi miên được những người có ý chí mạnh mẽ sử dụng. Một người sắp sửa bị thôi miên được yêu cầu ngồi trong một phòng tối. Sau đó người thôi miên bảo người đó ngồi thư giãn thoải mái với một giọng nói khẽ lặp đi lặp lại. Kế đến người đó được yêu cầu tập trung chú ý và để mắt vào một vật gì đó, khi nhìn vào một vật một lúc lâu thì mắt bắt đầu mỏi dần ; lúc đó họ được yêu cầu nhắm mắt lại. Bây giờ người này đang trong trạng thái ngủ. Lúc ấy, nhà thôi miên mới bắt đầu đưa những chỉ thị cho ông ta. Ông ta hiện đang bị thôi miên và làm bất cứ điều gì mà nhà thôi miên yêu cầu.

Thuật thôi miên có thể làm một người cảm thấy như thể mình bị mù, câm hoặc điếc. Nó có thể làm cho người ta run lẩy bẩy. Thuật thôi miên có thể được sử dụng để làm cho người ta bị hoảng sợ. Một người bị thôi miên có thể làm những điều mà người đó sẽ không bao giờ làm ở lúc tỉnh và khi người đó tỉnh lại thì không thể nhớ được những gì mình đã làm khi bị thôi miên.

Thuật thôi miên là một trong những phương pháp giải phẫu không gây mê. Thuật thôi miên có thể áp dụng cho chính bản thân mình. Đó gọi là thuật tự thôi miên.

Thuật thôi miên không phải là một trò chơi : Nó có thể rất nguy hiểm khi một người không được huấn luyện kỹ càng lại đem ra áp dụng.

#2
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Châu Mỹ được đặt tên như thế nào ?


Ngày nay châu Mỹ được coi là châu trù phú nhất trên thế giới. Chúng ta biết rằng Colombus đã khám phá ra châu Mỹ. Vậy thì tại sao tên của ông ta không được đặt cho châu Mỹ. Đó là một vấn đề ngẫu nhiên. Câu chuyện châu Mỹ được đặt tên như thế nào thật là hào hứng. Colombus, nhà du hành người Ý, khởi hành trên một chuyến tàu biển để đi tìm nước Ấn Độ.

Ông tới một quần đảo nào đó vào sáng ngày 12 tháng mười , 1492. Ông ta lên bờ và đặt tên nó theo tên của vua Ferdinand và Nữ hoàng Isabella của Tây Ban Nha là "San Salvodor". Quần đảo này chỉ là một phần nhỏ của châu Mỹ. Bây giờ nó được gọi là quần đảo Watling. Ông tưởng đó là nước Ấn Độ nên gọi các cư dân là người Ấn (Indian). Thậm chí ngày nay các cư dân này cũng được gọi là Indian. Từ nơi này, ông ta muốn đi tới Nhật Bản nhưng thay vì như vậy, ông tới Cuba và Hispaniola. Thất vọng vì đã định vị sai nước Ấn Độ, Columbus trở về Tây Ban Nha vào ngày 13 tháng ba, 1493.

Ông thực hiện chuyến đi biển lần thứ hai vào ngày 24 tháng chín, 1493, ông đã khám phá ra một số đảo hoang như Puerto, Rico, Jamaica. Nhưng ông vẫn chưa tìm ra được Ấn Độ. Vào chuyến đi thứ ba năm 1498, ông khám phá ra đảo Trinidad và đã tới gần Nam Mỹ. Trong giai đoạn này, một người thuỷ thủ Tây Ban Nha, tên là Amerigo Vespucci, công bố rằng chính ông ta là người đặt chân lên vùng đất Nam Mỹ vào ngày 16 tháng sáu năm 1497. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng tới năm 1499 Amerigo mới thực hiện chuyến đi biển. Vào năm 1499, Florentine Amerigo Vespucci cùng với Aloso de Ojeda đi tàu tới eo biển Orinoco và khám phá ra Venezuela.

Trong thời gian từ 1501 đến 1502, chính Vespucci đã hướng dẫn một chuyến đi biển dưới lá cờ Bồ Đào Nha và khám phá các bờ biển Brazin. Điều này rõ ràng là vùng đất mà Columbus đã tới là đại lục tân thế giớ. Vào đầu năm 1500, những sách của Amerigo Vespucci phát hành rất rộng rãi và ông ta được mang vinh dự là người châu Âu đầu tiên khám phá ra Nam Mỹ. Một nhà địa lý học người Đức, Waldsee Miller, đã đặt tên lãnh thổ Braxin là America để tỏ lòng tôn kính Amerigo và toàn thế giới bắt đầu sử dụng cái tên này.

#3
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Bụi hữu ích với chúng ta như thế nào ?


Theo cách nghĩ thông thường , bụi rất có hại đối với chúng ta. Nhưng đó chỉ là một mặt của vấn đề. Bụi cũng rất hữu ích đối với chúng ta. Trước khi thảo luận về các hữu ích của bụi, ta nên tìm hiểu bụi là gì và nó được hình thành như thế nào ?

Mỗi chất rắn đều gồm có các phần tử rất nhỏ. Khi các phần tử nhỏ này bị phân tán, chúng trở thành các phần tử bụi. Chẳng hạn, khi ta đập một cục gạch hoặc một cục đá thành những mảnh vụn, nó sẽ trở thành những phần tử bụi. Bụi được hình thành trong nhiều cách khác nhau. Khi những chất rắn bị vỡ ra, bụi được hình thành. Khói tỏa ra từ việc đốt than, gỗ, xăng dầu... cũng tạo nên bụi. Các phần tử bụi cũng do từ cây cối bị chết, phân súc vật, muối biển, cát ở sa mạc, tro bụi núi lửa... các phần tử này hoà với không khí và được gọi là các phân tử bụi. Không khí mang các phân tử bụi từ nơi này tới nơi khác. Các phân tử ở bề mặt trái đất cũng bay trong không khí dưới dạng bụi.

Điều hữu dụng lớn nhất của các phân tử bụi là chúng giúp cho việc tạo ra mưa. Hơi nước ở trong mây đọng lại trên các phân tử bụi tạo ra những giọt mưa rơi xuống mặt đất. Nếu thiếu các phân tử bụi, thì việc tạo mưa có thể bị đình chỉ lại. Tương tư, sương ban mai, sương mù v.v... cũng được hình thành như vậy vì có hiện diện của các phân tử bụi trong không khí rải rác đủ mọi hướng dưới ánh sáng mặt trời.

Do sự rải rác này nên trời mờ mờ tối khoảng từ một đến hai tiếng đồng hồ sau khi mặt trời lặn. Trời ánh hồng vào lúc bình minh và hoàng hôn là do bởi các phân tử bụi và hơi nước. Ánh tà dương đẹp lộng lẫy mà ta thấy cũng do những phân tử bụi này tạo nên. Do đó, ta thấy rằng những phân tử bụi mà người ta cho là hoàn toàn có hại, thì rất hữu ích trong thực tế.

#4
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Hội chữ thập đỏ là gì và nó ra đời như thế nào ?


Hội chữ thập đỏ là một tổ chức nhân đạo quốc tế. Ban đầu, phạm vi hoạt động của nó giới hạn trong việc chăm sóc các binh lính bị thương trong chiến tranh.

Nhưng sau đó, nó mở rộng tầm hoạt động là làm xoa dịu tất cả những nỗi đau bệnh tật của con người. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chi nhánh của Hội chữ thập đỏ hoạt động trong thời chiến cũng như thời bình. Nó phục vụ con người và không phân biệt màu da, sắc tộc. Trong thời bình, các hoạt động của nó là : cấp cứu, ngăn ngừa tai nạn, giữ cho nước uống sạch sẽ an toàn, huấn luyện y tá và các bà đỡ, chăm sóc các trung tâm bà mẹ và trẻ em, thành lập bệnh viện, thiết lập các ngân hàng máu, v.v... Tổ chức này là một người bạn của toàn thể nhân loại.

Nguồn gốc của Hội chữ thập đỏ thì rất thú vị. Người thành lập ra tổ chức này là Jean Henri Dunant, một giám đốc ngân hàng người Thuỵ Sĩ. Vào ngày 24 tháng sáu 1895, ông tới thành phố Lombardy, miền bắc nước Ý, để liên kết làm ăn. Vào thời gian đó, thành phố này là nơi xảy ra trận chiến Solferino giữa Pháp và Áo. Hàng ngàn đàn ông và phụ nữ bị thương trong chiến tranh. Nhiều người trong bọn họ cần sự cấp cứu. Cảnh tượng thương tâm này đã tác động mạnh đến ông. Ông đã quên công việc riêng của mình và tổ chức một nhóm dân địa phương chăm sóc những người bị thương của cả hai phía trong trận chiến. Những nổ lực của ông đã cứu được nhiều mạng người.

Vào năm 1862, Dunant viết một quyển sách có tựa là "Hồi ức về trận Solferino", trong đó ông ta kêu gọi con người trên thế giới hãy thành lập các hội cứu trợ đặc biệt. Bởi vì những binh lính bị thương trong chiến tranh là những người không được giúp đỡ hoặc không thể tự lo liệu được, và vì là đồng loại, giúp đỡ họ là nhiệm vụ của mỗi người. Lời kêu gọi này đã có tác động rất mạnh ; và trong buổi hội thảo quốc tế được tổ chức vào năm 1864 tại Geneva, mười sáu quốc gia đã chấp thuận thành lập Hội chữ thập đỏ. Lá cờ của Thuỵ Sĩ có một dấu thập trắng in trên nền đỏ. Để lập ra lá cờ của Hội chữ thập đỏ, người ta đổi thành dấu chữ thập đỏ nằm trên nền trắng. Như vậy, Hội chữ thập đỏ đã được ra đời. Dấu thập đỏ trở thành biểu tượng của tổ chức quốc tế này, một tổ chức làm xoa dịu những nỗi đau đớn do bệnh tật, thảm hoạ thiên nhiên , v.v... và trợ giúp các nạn nhân của chiến tranh.

Trong thời gian có chiến tranh, Hội chữ thập đỏ quốc tế thực hiện chức năng là tổ chức trung gian giữa Hội chữ thập đỏ quốc tế và quốc gia đang lâm chiến. Hội chăm sóc các tù nhân chiến tranh trong trại lính và tổ chức cứu trợ. Hội cũng lo việc gửi thư và tiếp xúc với các thân nhân của tù binh. Tổ chức này cũng trợ giúp những nạn nhân thiên tai, bão lụt, nạn đói , v.v...

#5
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Giải thưởng nobel là gì ?


Giải thưởng Nobel được trao hàng năm cho các thành tựu nổi bật trong các lĩnh vực khoa học, văn chương và việc thúc đẩy hoà bình thế giới. Những người nhận được igải Nobel được nêu tên khắp thế giới. Cuộc đời và công trình của họ được in trên báo chí. Tên của họ được phát thanh trên đài phát thanh và truyền hình.

Người đạt giải này nhận một huy chương vàng, mọt giấy chứng nhận và một khoản tiền lớn. Giải Nobel là một giải thưởng quan trọng nhất trên thế giới. Giải này được trao cho những người có những cống hiến nổi bật nhất trong sáu lĩnh vực : vật lý, hoá học, văn chương, y khoa, hoà bình và kinh tế. Lĩnh vực kinh tế được bổ sung trong danh sách này vào năm 1969. Mỗi giải được trao cho mỗi lĩnh vực. Nếu cùng một lĩnh vực , có hơn một người lãnh giải, thì tiền thưởng sẽ được chia đều cho mỗi người.

Posted Image Alfred Bernhard Nobel (1833 - 1896)
Bạn có biết giải Nobel được bắt đầu như thế nào không ? Một điều thật sự đáng ngạc nhiên là giải này được thành lập do một nhà phát minh ra ngành khoa học về sự phá huỷ. Đó là nhà khoa học Alfred Bernhard Nobel, ông sinh tại Stockholm, ngày 21 tháng Mười, 1833 và mất ngày 10 tháng Mười hai , 1896. Cha của ông cũng là một nhà khoa học. Mặc dù là công dân của Thuỵ Điển nhưng ông học hành ở Nga. Ông đã phát minh ra chất nổ. Chất này được sử dụng rộng rãi trong việc phá các tảng đá, đào giếng dầu và sử dụng trong chiến tranh. Vì sự phát minh có giá trị này nên Nobel đã nổi tiếng khắp thế giới. Ông đã kiếm được số tiền khổng lồ từ việc bán chất nổ. Năm 1896, sau khi qua đời, ông đã để lại một khoản tiền kếch sù là 90.000.000 đô la, với một di chúc ghi rằng tiền lời của số tiền này từ ngân hàng sẽ được trao cho những người có những cống hiến nổi bật về ngành vật lý, hoá học, y khoa, văn chương và hoà bình. Giải này được mang tên là giải Nobel. Giải Nobel đầu tiên được trao cho Roentgen vào ngày 10 tháng Mười hai năm 1901 vì sự nguyên cứu độc đáo về tia X của ông. Tiền thưởng của giải này là 40.000 đô la.

Mặc dầu, tiền thưởng không lớn lắm nhưng những người nhận giải được mọi người trên khắp thế giới kính phục.

Một hội đồng được gọi là Ban tổ chức giải Nobel Thuỵ Điển trao giải thưởng. Học viện khoa học Hoàng gia ở Stockholm chọn ra các khoa học gia giỏi nhất trong năm về các lĩnh vực vật lý và hoá học. Học viện Caroline ở Stockholm chọn ra người giỏi nhất trong lĩnh vực y khoa và Học viện văn chương Thụy Điển đảm trách về giải văn chương. Tương tự một uỷ ban gồm có năm người, được quốc hội Na Uy bổ nhiệm, chọn ra những người có công nhất cho việc mưu tìm nền hoà bình thế giới.

Một số các nhân vật nổi tiếng trên thế giới được nhận giải Nobel là : Albert Einstein, George Gernard Shaw, Rabindra Nath Tagore, Ngài C.V Raman, Hargobind khorana, Mẹ Teressa v.v...

Người trẻ tuổi nhất nhận giải Nobel là Ngài William Lawrrênc Bragg, người Anh. Ông ta nhận giải Nobel về vật lý khi ông mới 25 tuổi.

Nobel nổi tiếng khắp thế giới đến nỗi nguyên tố thứ 102 được đặt theo tên của ông là Nobelium. Ở Thụy Điển có một học viện cũng đặt tên trường theo tên ông là Học viện Nobel Thuỵ Điển.

Bài viết này được chỉnh sửa bởi kastarchi: 01 May 2004 - 11:40 AM


#6
deLucast

deLucast

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 322 Bài Viết:
Ai cũng đau hết kastarchi ơi. Tui cũng đau nữa. :d Kastarchi yên tâm đi. Bây giờ dữ liệu đuợc sao lưu rất hiệu quả. Kastarchi chịu khó post lại nhé. Mỗi người cố gắng 1 ít mà :d
Rewrite all things.

#7
Bushlip

Bushlip

    Mr President

  • Admin
  • PipPipPipPipPipPipPip
  • 4281 Bài Viết:
Thật sự là Bush rất bận và đã tính bỏ đi từ lâu nhưng vì xảy ra chuyện này nên phải nán lại thêm để làm mới lại forum sau sự cố vừa rồi . Để Bush bắt đầu lại nha :V:

Hằng tinh phát sáng còn hành tinh lại không

"Hằng tinh” là các sao tự phát sáng và phát nhiệt, ngược lại “hành tinh” không hề có khả năng này. Hệ mặt trời do đó bao gồm một hằng tinh là mặt trời và 9 hành tinh khác là sao Thuỷ, Trái đất, sao Kim, sao Hoả, sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải Vương và sao Diêm Vương.

Các hằng tinh trong vũ trụ có nhiệt độ bề mặt từ mấy nghìn tới mấy vạn độ, vì vậy chúng phát ra các loại bức xạ (kể cả ánh sáng nhìn thấy). Mặt trời là hằng tinh gần chúng ta nhất. Mỗi giây trên bề mặt mặt trời phát ra năng lượng tương đương với một máy phát điện có công suất 382 x 10 mũ 23 W.

Nguyên nhân khiến hằng tinh phát sáng

Đây là điều bí ẩn đối với ngành thiên văn học suốt nhiều thế kỷ qua. Mãi cho đến đầu thế kỷ 20, nhà vật lý Einstein dựa vào thuyết tương đối đã đưa ra một công thức có liên quan giữa khối lượng và năng lượng của vật thể, nhờ đó mà các nhà nghiên cứu mới có đáp án cho câu hỏi hóc búa này.

Hoá ra trong lòng các hằng tinh, nhiệt độ cao tới hơn 10 triệu độ C khiến các vật chất trong đó tương tác với nhau, xảy ra phản ứng nhiệt hạch. Hạt nhân nguyên tử hydro biến thành hạt nhân nguyên tử heli và sản ra một năng lượng khổng lồ. Năng lượng này truyền từ tâm hằng tinh ra ngoài bề mặt và vào không gian bằng cách bức xạ. Các bức xạ này nằm trong phổ từ ánh sáng hồng ngoại, đến ánh sáng nhìn thấy và sóng cực ngắn. Cứ như vậy hằng tinh duy trì phát sáng không ngừng.

Nhiệt độ bề mặt các hành tinh lại thấp hơn nhiều so với bề mặt các hằng tinh, vì thế các hành tinh không tự phát sáng được. Khối lượng của các hành tinh cũng nhỏ hơn nhiều so với các hằng tinh (sao Mộc có thể tích to nhất trong hệ mặt trời cũng chưa bằng 1/1.000 thể tích mặt trời). Cho dù các hành tinh tự sản sinh ra năng lượng do sức hút và co giãn, nhưng năng lượng đó không thể nung nóng hành tinh tới mức xảy ra phản ứng nhiệt hạch.
Posted Image

#8
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Sương được hình thành như thế nào?


Bạn có thể đã thấy những giọt mưa nhỏ trên cỏ, cây, hoa lá lấp lánh như những viên ngọc vào buổi sáng sớm. Những giọt nước này được gọi là sương, giống như nước mưa, rơi từ trên trời xuống, nhưng điều này không đúng. Những giọt sương được tạo bởi sự ngưng tụ hơi nước, không khí chứa nhiều hơi nước, chúng ta gọi đó là hơi ẩm hoặc độ ẩm. Không khí nóng có nhiều hơi ẩm hơn không khí lạnh. Suốt buổi tối, khi không khí nóng tiếp xúc với bề mặt lạnh nào đó, hơi nước trong không khí tụ lại trên bề mặt nước này được gọi là những giọt sương.

Tiến trình hình thành sương có thể thấy được trong một thí nghiệm đơn giản. Lấy một cái ly hình trụ và đặt nó ở trên bàn, bỏ một ít đá hoặc một ít nước trong tủ lạnh vào ly hình trụ này. Bạn sẽ thấy rằng, sau một lúc phần mặt ngoài của cái ly này xuất hiện những giọt nước. Những giọt nước này được hình thành bởi sự ngưng tụ hơi nước có trong không khí. Tương tự như vậy, khi cỏ, cây, hoa , lá lạnh đi vào ban đêm , hơi nước trong không khí tụ lại ở trên và tạo ra sương. Sương được tạo ra nhiều hơn khi trời quang đãng và ít khi trời u ám mây. Khi trời quang đãng thì cây cối mát lạnh hơn vào ban đêm, có nhiều hơi nước hơn, do đó sương được tạo nhiều hơn.

Nhưng khi trời u ám, cây cối không trở lạnh vào ban đêm, do đó sương ít được tạo ra. Khi mặt trời mọc cao trên bầu trời, những giọt sương này bốc hơi thành không khí.

#9
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Oxy hữu ích với chúng ta như thế nào?


Không có oxy sẽ không có sự sống trên trái đất này. Không có sinh vật, cây cối hoặc động vật nào có thể sống sót được. Do đó, người ta gọi oxylà chất đem lại nguồn sống. Bạn có biết nó là gì không và tại sao nó lại tối cần thiết với chúng ta ?
Oxy là một chất khí do hai nhà khoa học khám phá ra một cách độc lập. Carl Scheele, nhà hoá học người Thuỵ Điển khám phá ra oxy vào năm 1772 và Joseph Priestley khám phá ra oxy vào năm 1774 tịa Anh. NÓ là chất khí không màu, không muivf và khong vị. Trong không khí có chứa 21%oxy, 78% nitơ và còn lại là các chất khsi khác. Trong vỏ trái đất , nguời ta tìm thấy nó dưới dạng oxit kim loại, tỉ lệ lên tới 50%. Ở nhiệt độ - 182.9oC dưới áp suất thường, oxy có thể bị hoá lỏng. ở trạng thái lỏng, nó có màu xanh dương nhạt. ở nhiệt độ -218.4oC, nó có thể chuyển sang thể rắn.

Trong phòng thí nghiệm, ta có thể lấy oxy bằng cách đun nóng hỗn hợp clorat kali và dioxit manhê. Ở ngoài không khí, điều này có thể thực hiện được bằng cách chưng cất không khí theo từng phần ( phương pháp phân đoạn ) . Không khí được nén lại tới hai trăm lần áp lực không khí bình thường và được chuyển qua một lỗ hẹp và một cái khoang. Khi áp suất đột ngột hạ xuống, không khí bị hoá lỏng và tụ lại ở trong khoang này. Khí nitơ được tách ra theo cách thức này và ta có thể lấy oxy ở thể lỏng.

Tất cả các sinh vật đều cần oxy để thở. Cây cối cũng "hít" oxy. Chúng hấp thụ oxy vào ban đêm. Ban ngày chúng nhả oxy ra theo quá trình quang hợp.
Bằng cách đốt oxy với axetylen (C2H2), ta có được một ngọn lửa có nhiệt độ cao. Ngọn lửa này được sử dụng để hàn và cắt kim loại. Oxy lỏng cũng được sử dụng làm nhiên liệu trong các con tàu không gian.

Các bệnh nhân sử dụng bình oxy khi bị khó thở và cũng được những người leo núi hoặc thợ lặn sử dụng. Tất cả các nhiên liệu đều được đốt cháy khi có oxy. Ta không thể hít thở oxy nguyên chất vì oxy nguyên chất có hại cho các tế bào cơ thể. Không khí trong lành thì cần thiết cho chúng ta bởi vì nó chứa oxy và các loại khí khác theo tỉ lệ chuẩn mực, do đó khi hít thở không khí trong lành, ta cảm tháy khoẻ khoắn. Vì thế ta nên mở cửa trong nhà để có không khí trong lành. Ta không nên che mặt lúc ngủ vì thiếu không khí làm ta khó thở.

Chúng ta cảm thấy ngột ngạt ở trong đám đông bởi vì lượng oxy ở đó bị hút đi. Vào mùa đông,ta không nên ngủ trong phòng đóng kín có đốt lò sưởi. Việc đốt này chuyển oxy thành dioxitcabon (CO2) và oxit cacbon (CO). Oxit cacbon là một chất khí độc hại đối với sức khoẻ.

#10
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Cầu vồng được hình thành như thế nào ?


Posted Image

Cầu vồng là một vòng cung ánh sáng có nhiều màu sắc, xuất hiện khi ánh mặt trời chiếu qua các hạt mưa.

Cầu vồng được hình thành như thế nào ? Ánh sáng mặt trời trông có vẻ là màu trắng, thật ra nó gồm có bảy màu. Đó là những màu :tím, chàm, xanh dương, xanh lá cây, vàng, cam và đỏ. Những màu này được viết tắt là VIBYOR, mỗi chữ biểu thị cho một màu sắc. Sự tách ánh nắng thành ánh sáng đơn sắc được gọi là độ tán sắc và dải các màu sắc được gọi là quang phổ.

Người ta thường thấy cầu vồng sau cơn mưa khi bầu không khí đầu những giọt nước nhỏ. Những giọt nước mưa hình cầu này có chức năng giống như các lăng kính nhỏ xíu. Khi tia nắng mặt trời chiếu lên các giọt nước, các tia nắng bị khúc xạ khi chúng chiếu vào các giọt nước ,sau đó phản xạ khi ra khỏi giọt nước. Các tia nắng bị khúc xạ lần nữa khi chúng chiếu qua các giọt nước khác. Mỗi tia nắng bị khúc xạ ở những góc độ khác nhau. Đó là lý do tại sao chúng ta thấy được sự khác biệt của màu sắc.

Cầu vồng hình cung có các màu chính và màu phụ. Vòng cung màu chính thì rực rỡ hơn, bên trong là màu tím, bên ngoài là màu chàm, xanh dương, xanh lá cây, vàng, cam và đỏ. Các màu sắc của vòng cung màu phụ thì có màu nhạt hơn. Màu đỏ ở bên trong và màu tím ở bên ngoài, vòng cung màu phụ thì ở phía trên vòng cung màu chính. Cầu vồng màu phụ được tạo ra là do các tia nắng bị phản chiếu và khúc xạ một lần nữa sau khi bị phản xạ và khúc xạ trong các giọt nước mưa.
Ta thường thấy cầu vồng ngược với phía mặt trời. Cơ bản về cách hình thành cầu vồng là ánh nắng chiếu sau cơn mưa và cũng là điều cơ bản rằng tia nắng, tầm mắt của chúng ta và trung tâm của cầu vồng nằm trên cùng một đường thẳng.

Posted Image
Cầu vồng được chụp vào tháng 5/1999 (sáng sớm) tại Trondheim

#11
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Tại sao vàng lại quý giá ?


Từ thời cổ xưa, vàng được xem là một biểu tượng của quyền lực và của cải. Trong nhiều xã hội, vàng được xem là một chất thần kỳ có khả năng che chở con người tránh được bệnh tật và tà ma. Vào thời xưa, những tượng thần và các ngôi đền được trang trí bằng vàng. Vàng có gì đặc biệt đến nỗi nó luôn luôn quý giá vậy ?

Vàng là một nguyên tố kim loại . Số nguyên tử là 79. Khối lượng nguyên tử là 197.2 .

Posted Image
Tính quý giá của nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trước tiên là tính hiếm có của nó, kế đến là tính tiện dụng, rồi đến tính thẩm mỹ, sau cùng là tính ít bị phản ứng hoá học đối với không khí và nước.

Vàng được dùng trong công nghiệp vì nó không bị xỉn màu, gia công được, gần như khong thể huỷ hoại, bền , có tính phản chiếu và dẫn điện. Khoảng 10% sản lượng vàng hàng năm được sử dụng cho các quy trình công nghiệp.

Vàng được tính bằng đơn vị trong ounce (31,1 gam). Một ounce có thể kéo thành một sợi dài 80km.

Những lớp mạ vàng dày 0,000024mm được dùng để tản nhiệt từ các ống thải khí của động cơ phản lực.

Phi thuyền không gian được bảo vệ chống lại các tia phóng xạ nhờ một lớp vàng mỏng.

Vàng dẫn điện tốt và không bị xỉn màu nên nó được sử dụng rộng rãi trong các máy vi tính và các vật dụng tiêu thụ điện.

Vàng pha với dầu được dùng để vẽ hoa văn trên các đồ sứ và thuỷ tinh. Vàng cũng được dùng trong việc chế tạo ngói lợp nhà vì có tính phản quang tốt.

Vàng được chỉ định làm thuốc trị cho nhiều loại bệnh như ung thư và viêm khớp, nó cũng được sử dụng rộng rãi trong ngành nha. Vàng cũng được sử dụng cho mục đích trang trí. Ta có thể thấy nhiều tác phẩm bằng vàng được sáng tạo từ nhiều nền văn minh lớn của thời xa xưa.

Đồ trang sức được làm bằng vàng gồm : nhẫn, bông tai, vòng cổ, vòng đeo tay, dây chuyền, v.v... thậm chí vàng được sử dụng để trang trí trên bút máy, bật lửa, ly tách, v.v...

Đồ trang sức bằng vàng được chế tạo theo 4 tiêu chuẩn : 22,18,14 và 9 cara. Vàng 18 cara là 18 phần vàng ròng trên 24 phần vàng, nghĩa là 18 cara tương đương với 75 % vàng ròng. Vàng 24 cara thì quá mềm đối với hầu hết các công dụng.

Đồng tiền vàng đầu tiên do vua Croesus xứ Lydia phát hành vào thế kỷ thứ 6 trước công nguyên. Ngày nay, vàng vẫn giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống tiền tệ quốc tế.

#12
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Tại sao khi mặt trời mọc và lặn lại có màu đỏ ?


Khi mặt trời mọc ở hướng đông , nó trông giống như một trái banh màu đỏ và khi mặt trời lặn ở hướng tây cũng vậy. Bạn biết tại sao lại như vậy không ?

Posted Image Posted Image Mặt trời mọc.
Posted Image Mặt trời lặn.

Ta biết rằng trái đất có bầu khí quyển bao quanh. Ánh mặt trời chiếu qua bầu khí quyển trước khi chiếu tới mặt đất. Ta cũng biết ánh mặt trời gồm có bảy màu :tím, chàm, xanh dương, xanh lá cây, vàng, cam và đỏ. Vào buổi sáng và buổi chiều, khi mặt trời ở gần đường chân trời, các tia nắng ở gần đường chân trời, các tia nắng chiếu tới mặt đất phải đi một đoạn đường gấp khoảng 50 lần so với buổi trưa. Bụi, khó và hơi nước trong khí quyển làm tán xạ những màu này. Màu tím, màu chàm và xanh dương bị tán xạ nhiều nhất và màu đỏ , màu cam bị tán xạ ít nhất. Đó là lý do tại sao khi mặt trời lặn và mọc lại có màu đỏ.

#13
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Tại sao Vạn Lý Trường Thành được xây dựng ?


Tất cả chúng ta đều nghe đến Vạn Lý Trường Thành. Đây là bức tường dài nhất thế giới, trên 2.400 cây số (1.500 dặm). Chiều cao của nó từ 4 mét 57 tới 9 mét 2 và bề dày là 9 mét 75. Nó được xây bằng gạch và đá. Việc xây dựng bức tường vĩ đại này được bắt đầu vào năm 221 trước công nguyên và phải mất đến gần 15 năm mới hoàn tất. Bạn có thể tưởng tượng ra điều gì cần thiết để xây dựng bức tường này không ?

Posted ImagePosted ImagePosted ImageVạn lý trường thành

Bức tường vĩ đại này được xây dựng để bảo vệ Trung Quốc tránh quân xâm lược Mông Cổ. Vào khoảng năm 246 trước Công nguyên, Trung Quốc bị phân chia thành nhiều tỉnh. Vua Tần là Tần Thuỷ Hoàng đã thống nhất nhiều tỉnh và lập thành một triều đại. Ở phương Bắc có quân hung nô Mông Cổ, Tần Thuỷ Hoàng sợ rằng chúng có thể tấn công bất cứ lúc nào. Để bảo vệ Trung Quốc khỏi mối nguy hiểm này, ông ra lệnh xây dựng một bức tường khổng lồ. Vì thế bức tường bắt đầu xây dựng từ Độc Thạch Khấu (Hà Bắc) tới Cam Túc. Một con đường chạy dọc theo bức tường và các thông điệp sẽ nhanh chóng được các binh lính tuần tiểu gởi đi.

Nhà vua này đã đạt được mục đích của mình hay không? Tiếc thay là không, bởi vì bức tường đã bị vỡ ở nhiều nơi và quân Mông Cổ có cơ hội tấn công Trung Quốc. Mục đích xây dựng bức tường này đã không thể thực hiện được.

Posted ImageVạn Lý Trường Thành trên ảnh radar từ tàu con thoi.

Trong nhiều thập kỷ, sách giáo khoa Trung Quốc tự hào phát biểu rằng địa danh cổ đại nổi tiếng nhất của đất nước này có thể quan sát thấy bằng mắt thường từ vũ trụ. Nhưng nay, các cuốn sách cần được viết lại sau chuyến bay của nhà du hành Trung Quốc đầu tiên - Dương Lợi Vĩ.

Vạn Lý Trường Thành tuy trải dài hàng nghìn cây số trên vùng phía bắc Trung Quốc, nhưng bề rộng lại chỉ có vài mét, khiến cho nó không đủ lớn để được quan sát bằng mắt từ ngoài trái đất. Dương Lợi Vĩ cho biết ông đã không thể nhìn thấy công trình cổ đại này khi bay trên quỹ đạo trong vòng 21,5 giờ trên tàu Thần Châu 5.

"Việc đưa thông tin sai lầm này vào sách giáo khoa phổ thông có thể là nguyên nhân chính khiến cho sự hiểu lầm ngày một phổ biến", tờ Bắc Kinh Thời báo hôm qua dẫn lời Wang Xiang, một đại biểu của Hội nghị chính trị hiệp thương nhân dân Trung Quốc, trong cuộc họp của cơ quan này hồi tuần trước. Wang đã đệ trình một đề nghị lên chính phủ, yêu cầu sửa đổi sách giáo khoa để ngừng ngay những tuyên truyền ngộ nhận về Vạn Lý Trường Thành.

Truyền thuyết này "là một bước lùi cho tri thức thực sự mà các học sinh cơ sở của chúng ta cần tới", Wang nói.

Đoạn đầu tiên của Vạn Lý Trường Thành được xây dựng vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, nhưng không được mở rộng cho đến tận đời nhà Tần giữa năm 221-206 trước Công nguyên. Phần lớn những đoạn còn lại đến ngày nay được xây dựng trong thời Minh (1368-1644). Trường thành được xây dựng như là hàng rào quốc phòng, nhằm chống lại sự xâm nhập của những tộc người từ phương Bắc tới, và ước tính trải dài 6.700 km từ đông sang tây.
(theo MSNBC, BBC)



#14
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Silic hữu ích với chúng ta như thế nào?

Silic là một chất phi kim loại . Nó được tìm thấy trong thiên nhiên duới dạng tinh chất. Silic nguyên chất là một chất rắn có màu xám đậm. Nó bóng như kim loại và giống như pha lê. Ở nhiệt độ bình thường, nó không phản ứng với các nguyên tố khác nhưng ở nhiệt độ cao nó hoà trộn với các nguyên tố khác.

Vỏ trái đất có 28% silic trong khi đất sét làm đồ sứ có 50% silic. Silic cũng được tìm thấy trong các tảng đá, cát, nước, xương, v.v... Cát có một lượng lớn silic.
Silic được lấy ra từ hỗn hwọp dioxít silic (SiO2). Khi thuốc dioxít silic được nung nóng trong một lò nung bằng điện, oxy bị khử đi và silic được tách ra thành dioxít silicon.

Hầu hết silic được tìm thấy dưới dạng silica (silic oxit) , cũng được gọi là dioxit silic, nó là một hỗn hợp silic và oxy. Thạch anh, thạch anh đỏ, đá trắng sữa và cát đều là những dạng khác nhau của silica. Silicát là một hỗn hợp khác của silica. Mica và amiăng là những dạng silicat rất phổ biến.

Silicát rất hữu ích đối với chúng ta. Nó được sử dụng trong việc chế tạo ra kính, men sứ, v.v...

Sodium silicát (SiO3Na2) được dùng để chế tạo ra xà phòng, chất ngăn ngừa mụn gỗ, ủng trứng và dùng trong việc nhuộm màu. Nó cũng được sử dụng trong việc chế tạo ra cao su nhân tạo.

Người ta trộn silic với cát và đất để chế tạo ra gạch.

Ứng dụng chính của silica dưới dạng tinh chất là việc chế tạo ra các tế bào quang, linh kiện bán dẫn và các vi mạch silicon (silicon chip) trong các vi mạch của máy vi tính. Một hỗn hợp giữa silic và carbon được gọi là cacbua silic được sử dụng để đánh bóng kim loại. Trộn silic với thép thì tính năng của nó sẽ tăng lên. Silic cũng được dùng trong việc chế tạo ra các chất bán dẫn rất hữu ích trong đời sống của chúng ta.

#15
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Hệ thống bưu điện được bắt đầu như thế nào ?


Tất cả chúng ta đều biết đến tầm quan trọng của hệ thống bưu điện. Bởi vì ta có thể nhận thư từ của bạn bè thân nhân từ Mỹ, Anh quốc trong vòng 10 ngày đổ lại.

Tương tự, chỉ độ 2 hoặc 3 ngày ta có thể nhận thư từ trong nước. Đó là điều tuyệt vời của hệ thống bưu điện.

Vào thời xa xưa, thư từ được gửi đi bằng chim hoặc thú nuôi trong nhà. Những vị vua có các sứ giả triều đình đưa tin bằng ngựa, xe ngựa trạm chở khách, hoặc bất kỳ phương tiện nào. Tuy vậy, thật khó gửi thư từ qua lại đối với đại đa số quần chúng. Như thế, cần phải có một hệ thống bưu điện cho những người dân thường. Người ta nói rằng hệ thống bưu điện đã có ở Ai Cập, Trung Quốc, Ba Tư vào thời cổ xưa. Và đế quốc La Mã có một hệ thống bưu điện phát triển mạnh nhất thế giới vào thời đó.

Khoảng năm 1500, nước Anh đã có một bưu điện và năm 1700, nước Anh có một tổng cục bưu điện do một vị tổng cục trưởng tổng cục bưu điện đứng đầu. Vào năm 1839, chính phủ đã tiếp quản hệ thống này.

Nói chung, người gởi hoặc người nhận thư đều phải trả tiền cho việc gửi thư, số tiền tuỳ thuộc vào trọng lượng của bức thư và quãng đường gửi thư đi. Vào năm 1840, Rowland Hill, người Anh, đã nghĩ ra việc dán những con tem lên trên phong bì để gởi thư. Đó là một bước thay đổi lớn bởi vì số tiền mua tem để gởi thư rất thấp phù hợp với túi tiền của mọi người dân. Hệ thống bưu điện này đã phổ biến rộng rãi và được các nước trên thế giới áp dụng.

Để được xem tất cả những hình ảnh về các bưu điện trên thế giới, bạn hãy click vào link sau: http://www.postmarks.org/photos/

Posted Image Tượng bưu điện tại Tp. Hồ Chí Minh

#16
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Cao su là gì ?


Cao su thì rất cần thiết trong đời sống của chúng ta. Nó là một chất hữu cơ có độ co giãn cao, nó có thể kéo dài ra gấp tám lần so với chiều dài ban đầu. Nó được sử dụng rất nhiều ở trong nhà, các ngành công nghiệp, bệnh viện, v.v... Lịch sử của cao su có lex rất là lâu đời. Người ta đã tìm ra những dấu vết vật dụng làm từ cây cao su cách đây ba triệu năm.

Có hơn 400 loại cây cao su . Cây cao su cho nhiều mủ nhất được gọi là Hevea - Brasiliensis, nó cao khoảng 35 mét. Một loại khác cũng cho nhiều mủ là cây Castilla.
Cây cao su ban đầu được trồng ở Braxin. Hiện nay, Malaysia là nới cung cấp cao su thiên nhiên nhiều nhất.

Người ta rạch cạo cây cao su để lấy mủ. Mủ cao su rò rỉ qua những chỗ cắt xoắn vòng trên vỏ cây. Sau đó, nó đông sền sệt lại, lúc này nó không có độ co giãn (đàn hồi ) cao. Người ta cán luyện cao su để có độ bền chắc và có tính co giãn cao bằng cách cho sulfua hoặc cho bột cacbon, oxýt silic và bông hoặc len vào cao su rồi nung lên ở nhiệt dọ cao. Người ta sử dụng loại cao su này rất rộng rãi.

Cao su nhân tạo hay cao su tổng hợp được sản xuất trong thời Thế chiến thứ hai. Cao su tổng hợp được sử dụng trong các ngành công nghiệp bởi vì nó có tình bền đối với các loại hoá chất. Các loại nhựa silicon là một thành tựu gần đây, nó chịu được độ nóng và độ lạnh rất cao.

#17
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Lịch năm tháng được bắt đầu như thế nào?


Khi bắt đầu có nền văn minh, con người đã quan sát mặt trời mọc và lặn, để ý đến hiện tượng ngày và đêm. Ý tưởng về tháng có thể nảy ra từ việc quan sát chu kỳ của mặt trăng và sự thay đổi về mùa màng có thể đã nảy sinh ra ý tưởng về năm. Với sự phát triển khoa học, người ta đã biết được nhiều điều chính xác hơn. Người ta đã tính được chu kỳ quay của trái đất quanh mặt trời là một năm, thời gian hết một vòng quanh trục của mình là một ngày.

Lịch ban đầu của Ai Cập gồm có 12 tháng trong một năm, mỗi tháng có 30 ngày. Như vậy, 5 ngày dôi ra được cộng vào tháng cuối của năm để tròn 365 ngày. Người Hy Lạp sử dụng âm lịch theo lịch này, cứ 8 năm thì dôi ra 3 tháng. Vào năm 432 trước Công nguyên, Meton, nhà thiên văn học, đã khám phá ra rằng 234 tháng âm lịch bằng với 19 năm.

Năm 46 trước Công nguyên, Julius Caesar đã đưa ra một bước quan trọng đầu tiên trong việc định hướng lập ra lịch năm tháng. Ông đã nhờ sự trợ giúp của nhà thiên văn học người Hy Lạp, Sosigenes, làm công việc này. Lịch này căn cứ vào thời gian mà trái đất quay hết một vòng quanh mặt trời, được gọi là dương lịch. Trái đất quay một vòng quanh mặt trời mất 364 1/4 ngày.

Một phần tư ngày dôi ra đó gây ra sự nhầm lẫn , rối rắm.

Các nhà thiên văn học xác định một năm có 365 ngày và cứ bốn năm thì có một năm 366 ngày cốt để một phần tư ngày dôi ra của mỗi năm được dồn vào năm thứ tư. Năm thứ tư này được gọi là năm nhuần. Bất cứ năm nào chia được cho 4 đều là năm nhuần. 365 ngày trong một năm được chia thành 12 tháng. Tháng giêng, tháng ba, tháng năm, tháng bảy, tháng tám, tháng mười và tháng chạp có 31 ngày. Tháng tư , tháng sáu, tháng chín và tháng mười một có 30 ngày, riêng tháng hai có 28 ngày nhưng vào năm nhuần tháng hai có 29 ngày. Lịch này đã sử dụng được 1600 năm. Tuy nhiên, sau đó, người ta tìm ra một sai lệch đến 10 ngày, bởi vì trái đất thật sự phải mất 365.2422 ngày để quay quanh một vòng mặt trời. Như vậy, trong 1000 năm sẽ bị sai lệch mất 7 ngày 8 giờ. Năm 1582, Gregogy XIII đã quyết định bỏ đi mười ngày của năm 1582 và ông ta ra lệnh rằng trong năm cuối của mỗi thế kỷ, năm nhuần sẽ được bỏ đi trừ phi nó chia được cho 400. Như vậy năm 1700, 1800 và 1900 không phải là những năm nhuần nhưng vào năm 2000 sẽ là năm nhuần có tháng hai 29 ngày. Lịch này được gọi là lịch Gregogy hiện đang được sử dụng trên thế giới.

Hiện nay có một loại lịch khác đang được sử dụng đó là âm lịch. Lịch này căn cứ vào chu kỳ của mặt trăng. Mặt trăng quay quanh trái đất phải mất 29 ngày rưỡi. Để thực hiện 12 vòng quanh trái đất, mặt trăng phải mất 354 ngày (29 1/2 x 12). Như vậy một năm âm lịch có 354 ngày, ít hơn năm dương lịch là 11 ngày. Do đó cứ 3 thì dôi ra 33 ngày, nên theo âm lịch cứ mỗi 3 năm thì có một tháng nhuận và trong 19 năm sẽ có 7 tháng nhuận.

Ngoài hai loại lịch này ra, một số nước cũng có vài loại lịch khác được sử dụng với mục đích tôn giáo của xứ họ.

#18
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Tại sao pháo bông có nhiều màu?


Pháo bông được sử dụng vào các dịp lễ, hội hè ở khắp nơi trên thế giới. Khi chúng được mồi lửa, chúng phát nổ và tung ra rất nhiều màu sắc. Bạn có biết tại sao chúng có nhiều màu không ?

Pháo bông được làm bằng một hỗn hợp nitrat potassium, lưu huỳnh , than và muối của một số kim loại. Màu sắc có được là do muối của các kim loại như Strontium, barium, magnesium và sodium. Chúng được trộn với clorat potassium. Muối barium cho ra màu xanh lá cây, sunfat strontium cho màu xanh da trời nhạt. Cacbonát strontium cho màu vàng, nitrat strontium cho màu đỏ, muối sodium cho màu vàng, muối của đồng cho màu xanh dương. Bột nhôm trong pháo bông tạo ra hình ảnh giống như đám mưa bạc. Khi pháo bông phát nổ, những loại muối này cháy trong pháo bông, nhiều loại màu sắc tung ra và tạo nên một cảnh ngoạn mục. Trung Quốc là nước đầu tiền chế tạo ra pháo bông.

Sau đó hàng trăm năm, Châu Âu, Ả Rập và Hy Lạp mới chế tạo pháo bông.

Posted Image

#19
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Quốc gia nào nhỏ nhất trên thế giới ?


Quốc gia là một lãnh thổ có một biên giới nhất định và một chính phủ riêng của nó. Mỗi đất nước đều có lá cờ riêng và một hệ thống hành chính. Theo như định nghĩa này thì Vatican là một quốc gia nhỏ nhất trên thế giới.

Vatican là một đất nước có Đức giáo hoàng, vị lãnh đạo tinh thần của những người theo đạo Thiên Chúa. Nó toạ lạc ở trung tâm thành phố Rome, thủ đô của Ý. Đất nước này hoàn toàn dưới sự kiểm soát của Đức giáo hoàng. Nó có lá cờ riêng, có hệ thống bưu điện độc lập, ga xe lửa, hệ thống điện thoại và các phương tiện truyền thanh . Bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng tổng diện tích của nó chỉ có 0.45 km2. Mặc dù đất nước này không có bất kỳ nguồn thu nhập nào cả nhưng nó được người theo đạo Thiên Chúa khắp nơi trên thế giới đóng góp vào. Ở đất nước này, nơi trú ngụ của Đức giáo hoàng là một lâu đài lộng lẫy có vườn cây đẹp, một thư viện và một viện bảo tàng . Thành phố Vatican vẫn duy trì các mối quan hệ ngoại giao với những nước khác trên thế giới.

Câu chuyện hình thành đất nước Vatican thì rất thú vị. Cách đây hàng trăm năm, nước Ý đã có một trung tâm hoạt động cho những người Thiên Chúa giáo. Sau một thời gian dài , Đức giáo hoàng điều khiển hoạt động chính trị tại một khu rộng lớn ở trung tâm nước Ý. Năm 1859, phần đất này được coi là "tiểu bang thuộc giáo hoàng". Lúc đó, diện tích của nó là 16.000 dặm vuông. Năm 1870, Rome được đặt là thủ đô của nước Ý và lãnh thổ của Đức giáo hoàng bị sát nhập vào vương quốc Ý mà không có sự tán thành của Đức giáo hoàng. Kết quả là các mối quan hệ giữa nhà vua và Đức giáo hoàng trở nên căng thẳng. Mối bất đồng này đã chấm dứt vào năm 1929 với sự dàn xếp giữa chính phủ Ý và Đức giáo hoàng. Cuối cùng, Vatican được công nhận là một đất nước độc lập và có chủ quyền.

Posted Image Để xem thêm những hình ảnh về đất nước Vatican, click vào đây :
The Vatican pictures from the Europe photo gallery

#20
kastarchi

kastarchi

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 275 Bài Viết:
Chất kháng sinh là gì?


Chất kháng sinh là loại thuốc đặc biệt, nó ngăn chặn hoặc tiêu diệt sự phát triển của vi khuẩn hoặc các vi sinh vật có mầm bệnh. Chất kháng sinh giúp cho chúng ta có thể chống lại các bệnh tật và được sử dụng trong việc điều trị nhiều căn bệnh.

Từ "antibiotics" (kháng sinh) có nguồn gốc từ chữ "antibiosis" . "anti" có nghĩa là "chống lại" và "biosis" có nghĩa là "cuộc sống". Chất kháng sinh tác động, chống lại một số loại vi khuẩn. Thật vậy, chất kháng sinh là chất hoá học lấy từ cơ thể các vi sinh vật như vi khuẩn, nấm mốc, hoặc một vài thực vật.

Thời đại chất kháng sinh bắt đầu vào khoảng năm 1982 cùng với việc khám phá các loại Penicillin của bác sĩ Alexandra Flemning. Flemning đã đặt tên cho chất Penicillin. Chất kháng sinh này rất hữu hiệu cho việc điều trị các bệnh như viêm phổi, họ , viêm cuống họng, mụn mũ, đau nhức, v.v... Streptomycin là một chất kháng sinh khác được dùng để điều trị bệnh lao phổi. Ngoài ra còn có những chất kháng sinh khác như ampicilin, tẻtacyclin, chloromycetin, v.v... được dùng để trị những căn bệnh khác. Một vài loại kháng sinh rất hữu hiệu trong việc chống lại một số vi sinh vật, vài loại khác hữu hiệu trong việc chống lại các vi sinh vật ở phạm vi lớn được gọi là chất kháng sinh phổ rộng.

Khi một chất kháng sinh được đưa vào cơ thể, nó sẽ giết chết các vi khuẩn gây bệnh.

Bạn có biết chất kháng sinh được làm như thế nào không? Hầu hết các kháng sinh đều được làm từ vi khuẩn và nấm. Các khoa học gia thật sự đã không biết toàn bộ cách thức mà chất kháng sinh giết được các vi khuẩn mầm bệnh. Một vài khoa học gia cho rằng chất kháng sinh ngăn chặn oxy không tới được các vi khuẩn mầm bệnh nên các vi khuẩn này chết vì thiếu oxy. Một vài khoa học gia khác cho rằng , chất kháng sinh ngăn chặn các vi khuẩn không lấy được thức ăn . Dù cho cách thức tác động của chất kháng sinh có như thế nào đi nữa, nó vẫn là loại thuốc hữu ích cho con người. Mỗi năm hàng triệu bệnh nhân trên thế giới được chữa trị nhờ chất kháng sinh. Năm 1930, 20% đến 85% tổng số tử vong ở Mỹ là do bệnh lao phổi. Năm 1960 con số này giảm xuống còn 5%. Tương tự, số tử vong do sốt thương hàn gây ra đã giảm từ 10% đến 2%. Các bệnh truyền nhiễm cũng đỡ đi nhiều nhờ chất kháng sinh. Chất kháng sinh cũng hữu dụng trong việc ngăn ngừa những căn bệnh như nhiễm trùng cuống họng, bệnh sốt gây đau nhức các khớp xương và các bệnh lây qua đường tình dục, v.v...

Chất kháng sinh cũng có những phản ứng phụ, tạo ra phản ứng của cơ thể đối với chất kháng sinh chẳng hạn như chứng ban đỏ và các triệu chứng khác có thể gây ra những căn bệnh khác. Phản ứng trầm trọng nhất là dẫn tới tử vong. Đôi khi, chất kháng sinh không có hữu hiệu đối với một số vi khuẩn mầm bệnh.






Perfumista - Thong tin nuoc hoa

Stars Counter Game

Balloon vs. Thorns

MU Phuc Hung

Làm Việc Tài Nhà

Mu Da Nang

Tuyển Nhân Viên Bán Hàng

Tư vấn sức khỏe trực tuyến

Close [X]