Jump to content

Welcome to [ iT ] Forums
Register now to gain access to all of our features. Once registered and logged in, you will be able to create topics, post replies to existing threads, give reputation to your fellow members, get your own private messenger, post status updates, manage your profile and so much more. If you already have an account, login here - otherwise create an account for free today!
Cộng đồng Âm nhạc Việt Nam

Hình ảnh

Các thủ thuật về Hệ Điều Hành


  • Please log in to reply
28 replies to this topic

#1
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
Lời nói đầu:

Mình mở topic này có 2 mục đích chính:

+ Tổng hợp các bài viết có giá trị của các thành viên trong diễn đàn và các bài viết hay trên net
+ Chỗ dành cho những thành viên chưa rành về máy tính dễ dàng kiếm dc những điều cần thiết

Các bài mình sẽ cập nhật dần dần tùy theo thời gian rảnh


1. Các cách Activate Windows XP (Đăng ký bản quyền cho chiếc PC của mình)


Cách 1 (Theo bài của Nguyệt Thanh + chỉnh sửa 1 ít để phù hợp với đa số các máy)


Có lẽ thủ thuật đăng ký cho bản win XP Sp2 của mình trở thành có bản quyền thì chắc một số bạn cũng đã biết. Nhưng cũng còn nhiều bạn chưa biết. Nếu bạn muốn máy bạn duyệt WEB bằng IE7, Coi phim bằng WindowsMedia 11 ,... Hay đơn giản hơn là muốn có được đầy đủ các hotfix của Microsoft. Bạn chơi VLTK cũng cảm thấy yên tâm hơn.

Đầu tiên vào Start -> Run -> gõ Regedit, Enter rùi tìm đến khóa

HKEY_LOCAL_MACHINE\Software\Microsoft\WindowsNT\CurrentVersion\WPAEvents

Ở ô bên phải nhân chuột phải vào OOBETimer rùi click vào Modify.Tiếp đến hãy thay đổi khóa: 71 thành 72. Sau đó hãy đóng nó lại và tiếp tục vào Start , Run , và đánh:

%systemroot%\system32\oobe\msoobe.exe /a

Nó sẽ đưa các bác đến cửa sổ Active windows. Hãy chọn: Yes, I want to telephone a customer service representative to activate Windows

Tiếp đến nhấn Next ,nhấn Change Product key

Nhập cái key này

DHXQ2-WRGCD-WGYJY-HHYDH-KKX9B

Đánh xong hãy nhấn Update.Nó sẽ lại đưa chúng ta về cửa sổ Active đóng nó lại bằng cách nhấn vào Remind me later.

Khởi động lại Windows.Khởi động lại xong hãy vào Run , đánh tiếp

%systemroot%\system32\oobe\msoobe.exe /a

Cửa sổ Active sẽ lại hiện ra nhưng ko phải là bắt chúng ta Active mà là báo cho ta biết Windows is activated.

Bây giờ có thể vào trang web Microsoft tải về IE 7.0, WM 11 hay các hotfix mà không gặp bất kỳ trở ngại nào.


Cách Activate các Windows khác cũng làm tương tự như cho Windows XP, chỉ có điều tùy từng phiên bản và hệ điều hành mà thay KEY sao cho hợp lệ thôi.

=========================================
Win 98 Second Edition
GVQTC-896VH-9H877-GM86C-4PHYJ
=========================================
Microsoft Windows Server 2003
JCDY9-YY2KP-R3M2W-GVHXT-VJGBB
=========================================
Microsoft Windows Vista Ultimate Final
YFKBB-PQJJV-G996G-VWGXY-2V3X8
=========================================
Microsoft Windows Xp Profesional Sp2

DHXQ2-WRGCD-WGYJY-HHYDH-KKX9B
JG28K-H9Q7X-BH6W4-3PDCQ-6XBFJ
MJPMD-69P47-4JK37-DGQF2-XMWPQ
WGP2M-G8M6T-BT7D4-P7RY7-27K76
VYKFM-8WQD3-PQC2R-MB9YV-X3JFG
K2KB2-BDBGV-KP686-D8T7X-HDMQ8
==========================================
Q8GRJ-J79X7-PMRTV-KDF67-94GFD
DMRPM-G39BR-KCX8W-46C4V-7PPTM
=========================================
Microsoft Windows Xp Profesional Sp2 2004
YQ7XW-QPT6C-233QF-RRXC7-VF7TY
=========================================

Bạn có thể thảo luận và bàn tán tại đây
http://cuasotinhoc.v...showtopic=24134
http://cuasotinhoc.c...showtopic=21449


Cách 2 (Theo Trần Bảo Hân)

Ðể có được một bản Windows XP có đăng ký hẳn hoi

Phần mềm nào cũng vậy, nếu được đăng ký đàng hoàng, chạy mới ngon và ổn định. Huống chi là cả một hệ điều hành - phần mềm của các phần mềm.

Ðể "đăng ký" Windows mà không cần phải đăng ký thông qua Microsoft cho nó...lòi đuôi, bạn hãy biên tập lại cái key phụ trách chuyện đăng ký hệ điều hành trong Windows Registry.

Mở trình biên tập registry (gõ regedit trong box Run của menu Start).

Mở dần theo đường dẫn sau đây :

HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\WindowsNT\CurrentVersion\Regdone

Khi chưa được đăng ký, giá trị của key RegDone (đã đăng ký) bỏ trống (tức bằng 0).

Click chuột phải lên tên key RegDone và chọn lệnh Modify (sửa đổi) trong menu pop-up.
*
Ðiền số 1 vào text box Value data trong hộp thoại Edit String.
*
Click OK

Từ lúc này, bản Windows XP của bạn đã được đăng ký ngay tận Windows Registry

Thật ra, thủ thuật này nhằm làm mà mắt Windows XP khiến nó nghĩ rằng mình đã được chủ nhân đăng ký hẳn hòi. Vậy là từ nay nó sẽ cho phép bạn download các file có ghi dấu "for registered users only" (chỉ dành cho những người sử dụng đã đăng ký) trên trang Windows Update download của Microsoft, mà không cần thiết phải làm thủ tục đăng ký/truyền key của bạn tới cho Microsoft kiểm tra và xử lý nữa. Bác Bill Gates mà biết thì chỉ có nước từ chết tới bị thương. Eo ôi !

Cách 3:

Sử sụng chương trình @rắc Windows Xp SP2 của Team Hacker VN

http://www.megaupload.com/?d=A7D71LXQ ->


***Cách Activate Windows Vista (Theo Trần Bảo Hân)

Các bước tiến hành.

B1: Vào thư mục : C:Windows\System32\Licensing\pkeyconfig\ có tệp tin pkeyconfig.xrm-ms, chuột phải vào tệp tin đó chọn thuộc tính Propertion của nó, chọn tiếp sang Tap Security chọn nút Advanced-> chọn nút Edit-> chọn Administractor -> Apply -> Ok -> Ok -> Close propeties.

Nhắp chuột phải và chọn properties lại lần nữa -> chọn Advanced - >Chọn Administrator -> Chọn Edit -> Full control ->OK -> OK

Sau khi xong copy đè tệp tin "pkeyconfig.xrm-ms" lên tệp tin vừa làm xong :
Trích:
http://www.mediafire.com/?0ycn2mdxnw1
B2: Vào phần quản lý services bằng cách chọn nút start gõ vào phần search Bar "services.msc" nhớ là bỏ dấu nháy kép đi nhé

B3: Vào thư mục C:\Windows\ServiceProfiles\NetworkService\AppData\ Roaming\Microsoft\SoftwareLicensing\ có tệp tin tokens.dat (Đường dẫn trên là một đường dẫn đến tệp tin ẩn, do đó bạn nên copy đường dẫn này vào, nếu không được bạn copy đường dẫn C:\Windows\ServiceProfiles\NetworkService sau đó gõ AppData là OK ). Làm tương tự như B1 đối với tệp tin tokens.dat

Copy đè tệp tin "tokens.dat" vào đó: download tại đây
Trích:
http://www.mediafire.com/?amtcgkyzkzm
B4: Restart lại máy tính, sau khi vào lại win gõ vào phần Search bar "slui" (nhớ là bỏ dấu nháy kép) để hiện ra bảng điền key active của win. Đến đây bạn điền key vào.

-----------------------------

1 số key của Win

TK6CH-XVKY4-GFH6P-PDRCJ-M3D3B

YFKBB-PQJJV-G996G-VWGXY-2V3X8

THGT7-HYTQP-J9KYK-2VC6B-V7RDV
6Q49C-KPP2F-JCMGJ-6X3F6-KR34D
C4QDX-PX9J6-YR9WT-GTCT3-PRFV4
Q6K4W-CVJYV-3CWTB-94939-V3X4H
JYYWQ-4CG36-QGQ4W-YCJMC-4VHHW
MF6FM-C8MFX-B8JW3-8R6XX-96QY9
P4HRP-276WD-BDTV6-CHWCW-GH4JP
6QHJ3-P4YXR-MKWP2-HG3V7-9YJDR
8Y3GD-XX8YF-QVR29-99DBC-H2JWM
MP9DB-RMQ8D-VQ6DK-CJ3KT-W28J3
2P647-M2H4V-9CTY6-FCMQR-HK7T6
V6BBY-C9P2M-VD8TT-F3FK4-T29B7
YQRVG-XMRG2-VDJ76-GR2K2-BDR2H
GB4CY-M4JP3-CKPFP-RCKFJ-9XH9Y

----------------------------

Chú ý:
- Máy tính của bạn phải được kết nối Internet nhe', nếu không bị báo lỗi đấy.
- Bạn không nên update vista vì làm như vậy thì key sẽ bị liệt vào back list đấy




CÁCH @rắc KIỂU "STOPS TIMER" ĐÂY CÁC BẠN

1. Install Windows Vista WITHOUT a product key.

2. Once Vista is installed run this program and click the '@rắc' button, selecting 'Allow' when Vista asks.

3. Wait until a dialog box appears then click 'OK' and REBOOT.

4. After Reboot, run this program and click the'Validate' button to make Vista Genuine

5. Click the 'Check' button and a dialog box should popup after a short while showing the number of minutes left for activation (43200).

6. Close the dialog box and wait a few minutes, then click the 'Check' button again to verify the number of minutes is the same as before.

Congratulations!! your copy of Vista is now cracked

http://rapidshare.co...ista_freeze.rar


Note : @rắc theo cách này vô cùng đơn giản , là cách hoàn hảo nhất mà tôi biết, @rắc được mọi version Vista. Vista của bạn Genuine 100% , có thể updates thoải mái mà không sợ bác Bil fat hiên. Hạn sử dụng đến tận năm 2099 lận ,


Tạm thời chỉ post từng đó, mình sẽ bổ sung sau

Bài viết này được chỉnh sửa bởi sunflower: 04 April 2007 - 02:16 PM

Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#2
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
Tăng tốc Windows XP

Sau khi cài đặt Windows XP, bạn có thể sử dụng một vài thủ thuật nhỏ để tăng tốc độ. Các thủ thuật này chủ yếu dựa trên những thay đổi của Registry và tạo cảm giác tăng tốc khi sử dụng.

Lưu ý: Nhớ backup lại Registry của bạn trước khi thực hiện nhé.

============================================================

; 1 - Tăng tốc độ truy xuất Start Menu
[HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop]
"MenuShowDelay"="0"

; 2 - Không nạp các thư viện hệ thống vào Bộ nhớ ảo (Virtual Memory). Chức năng này sử dụng khi bộ nhớ Ram của bạn >=256Mb

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\ControlSet001\Control\Se ssion Manager\Memory Management]
"DisablePagingExecutive"=dword:00000001

; 3 - Tắt chế độ cập nhật thời gian truy cập File của Windows, giúp hệ thống nhanh hơn nhờ không cần tốn thời gian đọc ghi các thời gian truy cập này
[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\FileSystem]
"NtfsDisableLastAccessUpdate"=dword:00000001

; 4 - Thiết lập cho Windows gỡ bỏ hoàn toàn các DLL ra khỏi bộ nhớ khi thoát chương trình liên quan, nhằm tránh đầy bộ nhớ khi hoạt động.
[HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\Curr entVersion\Explorer]
"AlwaysUnloadDLL"=dword:00000001

; 5 - Thiết lập các thông số tăng tốc khi truy cập mạng
[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Servic es\Dnscache\Parameters]
"CacheHashTableBucketSize"=dword:00000001
"CacheHashTableSize"=dword:00000180
"MaxCacheEntryTtlLimit"=dword:0000fa00
"MaxSOACacheEntryTtlLimit"=dword:0000012d

; 6 - Thay đổi thông số Prefetch của Windows đẻ tăng tốc khởi động thêm khoảng 5-7 giây
[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Contro l\Session Manager\Memory Management\PrefetchParameters]
"EnablePrefetcher"=dword:00000005

; 7 - Thay đổi thông số quét ở Boot Screen, giúp máy khởi động nhanh hơn 3-5 giây
[HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop]
"AutoEndTasks"="1"
"WaitToKillAppTimeout"="3500"


===============================================================================

Bạn có thể tải file Xp.reg này về rồi chạy để thiết lập các thông số như trên . Nhớ khởi động lại máy tính sau khi cập nhật

<from khpt forum + sun>

Tệp Đính Kèm


Bài viết này được chỉnh sửa bởi sunflower: 19 March 2007 - 12:56 PM

Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#3
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
Cách tạo bản ghost và ghost bằng Norton Ghost


Do có nhiều mem còn gặp khó khăn trong việc phục hồi HDH bằng Norton Ghost nên tôi đã cố gắng viết bài này bằng sự hiểu biết và kinh nhiệm của mình. Đây là lần đầu tiên tôi viết Tut nên chắc chắc còn nhiều thiếu sót, mong được sự đóng góp ý kiến của các bạn. Bài viết có nghiên cứu 1 số bài viết của các tác giả khác và sưu tầm 1 số hình ảnh trên mạng.

Thực ra trong Win XP đã có sẵn 1 chương trình để phục hồi HDH là System Restore nhưng khi HDH mắc lỗi thì nó hoạt động ko hiệu quả nữa. Ở đây tôi sẽ hướng dẫn mọi người về cách tạo bản ghost và ghost lại máy bằng Norton Ghost từ DOS.
*Chú ý: trước khi tạo bản Ghost các bạn phải tinh chinh HDH của mình 1 cách tối ưu nhất theo ý của các bạn, nên cài sẵn 1 số tiện ích như IDM, winrar, winzip, Firefox,...Và khi ghost phải lựa chọn phân vùng và ổ cứng đúng nếu ko toàn bộ dữ liệu sẽ bị xoá . Các bạn dùng phím tab để di chuyển giữa các mục.

I. Cách tạo bản ghost

Ở đây tôi sẽ hướng dẫn các bạn ghost bằng ổ đĩa CD room
Trước tiên bạn phải có đĩa Hirent Boot ( mua có 7 ngàn ở ngoài tiệm đĩa à ). Trong Bios chọn first boot device là CD room. Sau đó máy sẽ khởi động lại từ đĩa CD
- Từ DOS bạn ghõ vào Ghost sau đó enter, cửa sổ ghost sẽ hiện ra
- Chọn Local--->Partion to image

Posted Image

- Sau đó chọn ổ cứng cài HDH nhấn enter nó sẽ hiện ra những phân vùng ổ cứng. Bạn chọn phân vùng cài HDH rồi nhấn enter

Posted Image

- Tiếp đến bạn phải chọn nơi để lưu file ghost ( chú ý ko được lưu tại phân vùng cài HDH)

Posted Image

- Sau cùng 1 bản compress image file? sẽ hiện ra yêu cần bạn chọn mức nén(no, fast, high) tuỳ ý thích mà bạn sẽ chọn (nên chọn High để tiết kiệm dung lượng ổ đĩa).
Tuỳ vào phân vùng bạn chọn để tạo file ghost mà thời gian bản tạo bản ghost sẽ nhanh hay chậm.

II. Phục hồi dữ liệu từ file ghost

Khi muốn phục hồi HDH bạn làm như sau:
- Cũng khởi động từ ổ đĩa CD room như trên, sẽ xuất hiện cửa sổ ghost
- Chọn Local ---> partion from image---> chọn file ghost từ phân vùng đã lưu file ghost bằng cách nhấn phím Tab
- Chọn ổ cứng -->Chọn phân vùng ổ cứng chứa HDH bị lỗi để bung file ghost
- Sau khi bung file ghost thành công. Sẽ xuất hiện 1 cửa sổ hỏi bạn tiếp tục hay restar máy lại. Bạn chọn restar, như vậy là xong

Chúc các bạn thành công


Các link download Hiren boot CD

8.8 http://9down.com/dow....php?fileid=446
8.6 http://9down.com/story.php?sid=7672
8.5 http://9down.com/story.php?sid=7453
bart xpe (phải tự tìm kiếm file cho nó)
pebuilder 3.1.10a http://9down.com/story.php?sid=6219
pebuilder 3.1.10 http://9down.com/story.php?sid=6179

Norton Ghost v11.0.0.1502
http://www.fileden.c...561/ghost11.rar

[Sưu tập từ nhiều nguồn]
Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#4
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
Thực hành ứng dụng Registry trong Windows (2k)

Chào các bạn,
Registry tuy nó là cũ nhưng bất hủ, hôm nay mình xin tổng hợp cách ứng dụng Registry trong windows để các bạn sd Windows hiệu quả hơn. Nói là từ A đến Z thì có vẽ như hơi quá, bởi vì mỗi khóa trong registry ko ai nhớ hết cả. Trong phạm vi bài này mình chỉ nói 1 cách tổng quát để từ đó các bạn có thể ứng dụng nhiều hơn (đến X, hay Y hay Z thì tùy từng bạn )
Bài viết bao gồm các phần sau đây:
1. Cách thức làm việc của Registry
2. Sử dụng Group policy trong Windows để quản lý Registry
3. Một vài mẹo nhỏ loại bỏ registry từ các phần mềm khác từ Group Policy


Phần 1:
-Giới thiệu
-Cấu trúc của Registry
-Các kiểu dữ liệu
-Làm việc với Registry

1. Giới thiệu:
Registry là một database (cơ sở dữ liệu) dùng để lưu trữ thông số kỹ thuật của Windows mà nó cho phép bạn làm 3 chức năng cơ bản là: thêm/xóa/sửa. Và những thao tác đó đều ảnh hưởng đến windows. Trong Windows 2k, nó được lưu vào thư mục C:\Windows\System32\Config
2 Cấu trúc của Registry:
Registry có cấu trúc kiểu cây thư mục với 5 nhánh chính (thông thường là 5) và nhiều nhánh con (hay còn gọi là key) chứa các thông tin khác nhau tùy vào từng nhánh. Các nhánh chính gồm
HKEY_CLASSES_ROOT: Lưu những thông tin dùng chung cho toàn bộ hệ thống.
HKEY_CURRENT_USER: Lưu những thông tin cho người dùng đang Logon
HKEY_LOCAL_MACHINE: Lưu những thông tin về hệ thống, phần cứng, phần mềm.
HKEY_USERS: Lưu những thông tin của tất cả các User, mỗi user là một nhánh với tên là số ID của user đó
HKEY_CURRENT_CONFIG: Lưu thông tin về phần cứng hiện tại đang dùng.

3. Các kiểu dữ liệu :
-REG_BINARY: Kiểu nhị phân
-REG_DWORD: Kiểu Double Word
-REG_EXPAND_SZ: Kiểu chuỗi mở rộng đặc biệt. VD: “%SystemRoot%”
-REG_MULTI_SZ: Kiểu chuỗi đặc biệt
-REG_SZ: Kiểu chuỗi chuẩn

4.Làm việc với Registry:
a.Giao diện Registry:

Posted Image

b.Các chức năng chính: (trên thanh menu bar) ở đây chỉ giới thiệu với các bạn các chức năng thường xuyên sd
-File --> Import : dùng để import 1 khoá hay 1 nhóm các khóa registry với dạng file có đuôi mở rộng xxx.reg. Ứng dụng trong trường hợp này là thực thi 1 file registry đc viết sẵn thay vì đánh trực tiếp vào (sẽ nói ở phần tiếp theo) hay backup lại registry
-File --> Export : dùng để xuất ra 1 khoá hay 1 nhóm các khoá thường với 2 định dạng xxx.reg hoặc xxx.txt. Ứng dụng trong trường hợp này là để sao lưu Registry khi cần thiết có thể backup trở lại
EX: Để sao lưu 1 nhánh Registry hoặc cả registry

Posted Image

-Edit --> Find: cái này thì chắc bạn nào cũng biết nên mình sẽ bỏ wa
-Edit --> Permissions, cho fép phân quyền theo nhóm hoặc user, bạn có thể làm theo hình sau:

Posted Image

c.Thực thi Registry và kiểm tra:
-Import file xxx.reg:
+Cấu trúc 1 file xxx.reg: gồm 3 phần chính: tiêu đề (cho biết version của registry, trường hợp này là V5.00 của Win XP), đường dẫn, nội dung (gồm tên khoá, kiểu và giá trị). Để tạo 1 file xxx.reg thì bạn dựa vào cấu trúc trên rồi dùng bất kỳ trình soạn thảo nào để biên soạn và lưu lại với xxx.reg (ví dụ này là notepad)

Posted Image

+Thực thi: sau khi có được file xxx.reg bạn có thể double click vào file hoặc có thể mở registry và import vào
-Thực thi từ DOS/Run: Câu lệnh: regedit [option] [path][filename]
Ex1: Hình 1, khi import 1 file ko có option, Registry Editor sẽ hiện 1 cửa sổ mới xác nhận việc import

Posted Image

EX2: Hình 2, với option /s Registry sẽ chạy mà ko cần hỏi lại bạn (chạy theo kiểu ép buộc).

Posted Image

Trường hợp này bạn hay thấy 1 số ct ( có nhưng rất ít) @rắc trong registry kiểu xxx.bat (file thực thi cơ bản), bạn có thể làm như sau, giả sử file D:\test.reg của bạn là file @rắc thì bạn mở notepad và làm như hình

Posted Image


-Kiểm tra kết quả khi chạy 1 registry: thông thường có hai cách
+Restart hay Log Off lại PC: cái này ai cũng biết
+Restart lại explorer: gồm 2 bước là tắt và restart
o.Tắt explorer : bấm tổ hợp Ctrl + Alt + Del khởi động task manager. Sau đó, trong tab processes chọn explorer.exe --> End Process
o.Restart lại explorer: tại task manager chọn File --> New Task (Run..) --> C:\windows\explorer.exe hoặc có thể đánh trực tiếp C:\windows\explorer.exe tại Run

Posted Image
Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#5
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:

Phần 2 Dùng Group policy trong Windows để quản lý Registry:


Như vậy trong phần 1 bạn có thể biết cách làm việc của 1 registry rồi phải ko? Tuy nhiên, trong ứng dụng thực tế, việc nhớ hết tất cả các từ khoá đó thì ko thể nào nhớ nỗi. Ví dụ, bạn muốn tắt 1 cái nút search trong start menu để cấm người lạ tìm kiếm tài liệu của bạn hay muốn cấm truy xuất đến 1 ổ đĩa nhạy cảm mà bạn muốn sử dụng riêng hoặc là bạn tắt đi registry để tránh mọi người vào phá máy bạn thì để nhớ hết các khoá đó đúng là hết sức khó khăn. Rất may là có nhiều soft đã tạo sẵn và bạn có thể làm đều này chỉ với 1 cái click chuột (có rât nhiều trên Net). Trong bài viết này mình xin giới thiệu về Group Policy Edit có sẵn trong Windows để làm các công việc đó. Nội dung:
-Cách thức làm việc của Group Policy
-Một số ứng dụng cụ thể

1.Cách thức làm việc của Group Policy :
-Khởi động Group Policy Edit : bạn có thể khởi động từ run và gỏ: gpedit.msc. Tuy nhiên, riêng với Win XP Home sẽ ko có file này, do đó bạn cần phải chép từ máy khác qua. Đường dẫn chứa file gpedit.msc trong các windows khác là : C:\windows\system32\gpedit.msc
-Giao diện: tương tự như registry, giao diện của nó thuộc dạng cây thư mục bao gồm 2 nhánh chính và các nhánh con. Mỗi nhánh con khi được enable là đồng nghĩa với 1 khoá trong registry thực thi.
EX : Khi bạn muốn cấm truy xuất 1 partition thì khi bạn làm trong gpedit thì registry sẽ phát sinh 1 khoá mới thực thi hành động bạn làm. Xem hình ảnh minh hoạ

Posted Image

-Cách thức thực hiện: ở ví dụ trên, giả sử khi bạn cấm truy xuất đến ổ C thì bạn click chuột vào nó đưa bạn đến của sổ thành phần của hành động đó. Ở đây, có 3 từ khoá quan trong mà mình muốn nhắc đến là: Not Config, Enable và Disable
+Not Config: Khi bạn chọn Not config là Registry sẽ giữ nguyên trạng thái ban đầu của nó
+Enable: Thực thi hành động trong gpedit và Registry sẽ phát sinh 1 khoá mới để thực thi
+Disable: Cấm ko cho phép thực thi hành động đó. Mới nhìn thì bạn thấy rất giống Not Config nhưng thực ra bạn cần phân biệt sự nhau giữ nhau giữa chúng. Đó là khi bạn Not Config thì hành động trước đó vẫn còn, và khi Disable thì nó sẽ mất hẳn luôn hành động trước.
EX: Ban đầu bạn cấm truy xuất ổ đĩa C trong registry. Nếu bạn chọn Not Config thì việc cấm truy xuất đó vẫn thực hiện, còn nếu bạn chọn Disable là nó sẽ mất đi hành động
2.Một số ứng dụng cụ thể : Ở đây có rất nhiề hành động để bạn chọn, mình chỉ lấy ví dụ điển hình để các bạn có thể lấy mẫu để làm cho những cái khác
Ex1: Xử lý các component trong windows. Có rất nhiều các hành động ở đây chỉ lấy 1 Ex về việc cấm truy xuất ổ đĩa D (hoặc các ổ đĩa khác tùy bạn chọn)

Posted Image

Ex2:
Xử lý trong Start Menu và taskbar. Một ngày buồn nào đó bạn chán muốn bỏ luôn cái nút Turn off chết tiệt thì có thể làm như sau:

Posted Image

Ex3:
Xử lý trong Desktop. Loại bỏ property của Recycle Bin

Posted Image


Ex4:
Xử lý Control Pannel. Cấm truy xuất add/remove program

Posted Image


Ex5: Xử lý trong system. Lock registry, lock task manager
Lock registry

Posted Image


lock task manager

Posted Image


Phần 3. Một vài mẹo nhỏ loại bỏ registry từ các phần mềm khác từ Group Policy:
Hầu như tất cả các phần mềm khác khi lock registry bằng password đều có cách tháo gỡ như sau:
-Chọn từ khoá mà chương trình đó khoá ngay trong Group Policy
-Chọn Enable --> Apply
-Chọn lại Not Config --> Apply --> OK
Vd: Khi bạn lướt web đôi khi gặp phải trang web có chứa những đoạn code nguy hiểm làm cho bạn bị lock task manager hay lock registry thì bạn có thể làm như Ex5 ở bên trên tiếp theo sau bạn chọn lại Not Config --> Apply và kết thúc thì tình trạng ban đầu sẽ được lập lại


Đây còn 1 bài của tungtien nữa
http://cuasotinhoc.v...?showtopic=6417

Bài viết này được chỉnh sửa bởi sunflower: 24 April 2007 - 01:13 PM

Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#6
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
Bạn phải làm gì nếu như chiếc máy tính của bạn bất chợt dở chứng không đáp ứng các yêu cầu của bạn? Hay bạn không thể truy cập Internet bằng chính chiếc PC của mình nữa?

Virus máy tính hay phần mềm gián điệp (spyware) có thể là nguyên nhân gây ra những nỗi bực dọc kể trên cho dù bạn vẫn thường xuyên cập nhật ứng dụng bảo mật chống virus phần mềm độc hại được cài đặt trên PC của bạn. Vậy bạn phải làm gì khi những công cụ như thế này không được hoàn hảo cho lắm và khi mà chúng vẫn có thể để cho một vài phần mềm độc hại đột nhập vào PC của bạn.

Nếu bạn không thể truy cập vào mạng thì tốt nhất trước tiên bạn nên sử dụng các công cụ có sẵn trong Windows - ở đây chúng tôi xin ví dụ phiên bản hệ điều hành Windows XP. Bước đầu tiên là bạn nên khởi động lại PC của mình ở chế độ Safe Mode. Khởi động PC ở chế độ này sẽ ngăn cản hầu hết các phần mềm trên hệ thống khởi động cùng với hệ điều hành bao gồm cả những phần mềm có thể gây ra trục trặc cho PC của bạn, chỉ những gì cần thiết nhất để cho Windows XP hoạt động là được khởi động mà thôi. Hãy tìm các biện pháp khắc phục những trục trặc từ đây. Để có thể khởi động PC vào chế độ Safe Mode thì bạn hãy nhấn phím F8 ngay khi hệ thống của bạn bắt đầu khởi động và lựa chọn chế độ Safe Mode. Lưu ý là Windows XP sẽ khởi động chậm hơn đôi chút so với bình thường. Bây giờ bạn có thể áp dụng các biện pháp quét diệt truy tìm các phần mềm độc hại hay bất kỳ biện pháp nào đó để khôi phục lại hệ thống của mình.

Một cách nữa đưa PC trở về trạng thái bình thường là bạn có thể sử dụng tính năng System Restore của Windows XP (Start | Programs | Accessories | System Tools | System Restore). Sử dụng tính năng này bạn có thể khôi phục trạng thái của hệ thống của mình về một thời điểm nào đó trong quá khứ tại đó bạn đã tạo ra một điểm khôi phục trong System Restore. Hãy chọn thời điểm đó rồi nhắp OK sau đó là ngồi chờ đợi hệ thống khôi phục lại cho bạn.

Cách khác tốt hơn là bạn nên làm sạch danh sách các chương trình được khởi động mỗi khi Windows khởi động. Đây cũng là một trong số những cách mà phần mềm nguy hiểm khai thác để tấn công PC của bạn. Windows XP có hai ứng dụng giúp bạn kiểm tra xem những chương trình nào khởi động cùng với hệ điều hành.

Ứng dụng được xem là tốt nhất để kiểm tra các chương trình khởi động cùng hệ điều hành là System nằm trong Start | Programs | Accessories | System Tools | System Information. Khi ứng dụng khởi động bạn hãy chọn Software Environment | Startup Programs. Tại đây bạn sẽ thấy một danh sách các phần mềm khởi động cùng với hệ điều hành bao gồm đường dẫn tuyệt đối đến ứng dụng cùng với các thông số thiết lập của các chương trình đó hay chương trình đó được chạy bởi tài khoản nào trên PC của bạn, các thông số khoá Registry…

Nhưng những ứng dụng nằm trong danh sách đó là những ứng dụng nào? Nếu như hệ thống của bạn vẫn có thể truy cập Internet thì bạn có thể kiểm tra trên cơ sở dữ liệu của www.sysinfo.org còn nếu không chắc phải có một người bạn hiểu biết để giúp đỡ bạn thôi.

Đáng buồn là System Information chỉ có thể cung cấp thông tin cho bạn chứ không thể giúp bạn thay đổi những thiết lập đó. Không sao bạn còn có Windows System Configuration – đây là ứng dụng ẩn bạn chỉ có thể khởi động bằng cách vào Start | Run và gõ lệnh msconfig sau đó ấn Enter và chờ ứng dụng khởi động. Bạn chuyển sang mục Start up và bỏ dấu chọn trước những ứng dụng bạn không mong muốn chúng khởi động cùng hệ điều hành và nhắp OK. Hệ thống sẽ yêu cầu bạn khởi động lại.

Nếu như bạn không thể truy cập Internet thì vấn đề có thể nằm ở trình duyệt Internet Explorer do trình duyệt phải tải quá nhiều các ứng dụng có tên Browser Helper Objects (BHOs). Đây chính là những ứng dụng bổ sung cho trnfh duyệt như thanh công cụ bổ sung hay cái gì đó bạn kiếm được trên mạng nhằm trang điểm cho IE…

Bạn hãy thử dùng Start | Run và nhập lệnh regedit. Chờ cho ứng dụng Registry Editor khởi động xong và bạn truy cập đến khoá HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrenTVersion\Explorer\Browser Helper Objects. Tại đây chứa các khoá liên quan đến các BHO bạn có thể truy cập nhờ ở PC của ai đó để kiểm trên cơ sở dữ liệu của www.sysinfo.org.

Tuy nhiên vấn đề không thể truy cập Internet có thể nằm ở chỗ khác và cần thời gian để kiểm tra và tìm phương thức khắc phục thêm. Những bước mà chúng tôi đề cập đến trong bài viết này không phải là có thể giúp bạn khắc phục toàn bộ các vấn đề mà mục tiêu của chúng tôi chỉ mong đưa ra những bước cơ bản nhất giúp cho PC của bạn có thể trở lại hoạt động bình thường.
Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#7
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
Quá chán nản với cảnh tượng "chiến mã” Windows khởi động chậm như rùa bò, "cô giao liên" trình duyệt lê bước nặng nề, "anh lính" Word thường xuyên dở chứng, thậm chí bỗng nhiên "chết đứng" giữa sa trường! Và đó chính là hồi chuông cảnh báo đã đến lúc cần chỉnh đốn lại hệ thống. Không quá khó! Chỉ với vài phút tinh chỉnh đơn giản, máy tính của bạn lại có thể lao nhanh vun vút và tiếp tục cuộc chinh chiến.

ĐÁNH BÓNG WINDOWS

Windows hoạt động ngày càng "ì ạch" và bạn cần ra tay để vực dậy "phong độ” cho hệ thống. Trước khi tiến hành dọn dẹp hệ thống, hãy thực hiện quét virus và phần mềm gián điệp. Sau đó, gỡ bỏ các thành phần và ứng dụng Windows không còn dùng đến cùng những thứ vô ích khác. Hãy đảm bảo bạn có trong tay những công cụ hiệu quả để phục hồi sinh lực cho máy tính.

Loại trừ kẻ xấu

Hãy bắt đầu bằng việc ghé qua trang web Windows Update (www.microsoft.com) để đảm bảo bạn có bản sửa lỗi mới nhất cho hệ điều hành của mình. Kế đến, cập nhật tiện ích chống virus và phần mềm gián điệp hiện có, rồi tiến hành quét toàn bộ hệ thống với từng công cụ trên (tham khảo bài viết "Bảo vệ PC: 10 bước bảo mật", ID: A0511_106). Sau khi thực hiện xong các công việc trên, hãy ngắt kết nối Internet hoặc mạng nội bộ (nếu có), tắt tính năng tự động bảo vệ của các chương trình bảo mật. Điều này sẽ giúp bạn dễ dàng hơn trong việc xác định đâu là nguyên nhân làm trì trệ máy tính.

Xóa chương trình không cần
Có rất nhiều ứng dụng cài đặt trước vào máy tính những chương trình "giúp đỡ” được tự động khởi chạy cùng lúc với quá trình Windows khởi động. Tuy nhiên, chúng không làm được gì có ích thật sự ngoài việc góp phần tạo nên sự "lộn xộn" cho Windows.

Đầu tiên, hãy gỡ bỏ những thành phần Windows không còn cần thiết. Trong Windows XP, nhấn chuột vào Start.Control Panel.Add or Remove Programs và chọn mục Add/Remove Windows Components ở khung cửa sổ bên trái (các bước thực hiện cũng tương tự trong các phiên bản Windows trước đây). Ví dụ, hai "ứng viên" để loại bỏ là Games (nhấn Accessories and Utilities.Details.Games.Details, và bỏ chọn những game mà bạn muốn bỏ) và MSN Explorer (chỉ việc đơn giản bỏ chọn nó rồi làm theo trình hướng dẫn). Sau khi thực hiện xong, nhấn Next rồi đến Finish.

Bạn có thể gỡ bỏ các ứng dụng một cách an toàn bằng cách sử dụng công cụ Add or Remove Programs của Control Panel. Tuy nhiên, nếu chương trình đó đi kèm khả năng tự gỡ bỏ cài đặt (uninstall) thì bạn nên sử dụng tính năng này. Đặt trường hợp chương trình đó vẫn xuất hiện trong cửa sổ Add or Remove Programs sau khi đã thực hiện các bước trên, hay nếu không hỗ trợ tính năng tự gỡ bỏ cài đặt thì bạn hãy tìm chương trình đó trong danh sách ở mục "Currently installed programs". Sau đó nhấn chuột vào nút Remove or Change/Remove và thực hiện theo hướng dẫn. Một vài chương trình bảo mật chỉ có tùy chọn "Change", đòi hỏi việc gỡ bỏ cài đặt phải được thực hiện bằng chính công cụ đi kèm chương trình.

Tiếp đến, nhấn Show updates ở đỉnh cửa sổ để xem các bản sửa lỗi (patch) cho Windows và ứng dụng Office đã được bổ sung vào hệ thống của bạn. Tuy nhiên, nếu bạn xóa một bản sửa lỗi ở đây thì Windows lại hiểu rằng bạn muốn gỡ bỏ bản sửa lỗi này hơn là xóa chúng. Lưu ý, việc gỡ bỏ bản sữa lỗi sẽ hết sức nguy hiểm! Còn nếu bạn muốn dọn dẹp các tập tin sao lưu, hãy tham khảo bài "Dọn sạch đĩa cứng sau khi nâng cấp Windows" (ID: A0503_126).

Thỉnh thoảng, một vài chương trình vẫn tồn tại trong danh sách Add or Remove Programs sau khi chúng đã được gỡ bỏ khỏi hệ thống. Một số khác vẫn "ngoan cố" chạy một số thành phần và thậm chí biểu tượng của một số chương trình đã được gỡ bỏ cài đặt có thể tiếp tục xuất hiện trên khay hệ thống.

Khi gặp phải tình huống này, hãy nhấn chuột lại vào nút Remove or Change/Remove. Windows XP (bản Service Pack 2) có thể nhận biết đây là lần thứ 2 bạn cố thực hiện gỡ bỏ cài đặt này và sẽ tự động sửa lỗi trên. Nếu vẫn không có gì thay đổi, bạn hãy chuyển Windows sang hoạt động ở chế độ Safe Mode: khởi động lại máy, ấn và giữ phím và chọn Safe Mode. Sử dụng tùy chọn Remove/Change trong mục Add or Remove Programs một lần nữa. Và nếu vẫn không thành công, bạn cần chỉnh sửa lại Registry của Windows, xem hướng dẫn tại (http://support.microsoft.com/kb/314481). Ngoài ra, bạn cũng có thể sử dụng phần mềm Windows Installer Cleanup Utility (find.pcworld.com/49964) để thực hiện công việc trên dễ dàng và ít rủi ro hơn.


---------------
<from pcworld.com.vn>
Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#8
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
Chặn ứng dụng tự khởi chạy
Một khi đã xóa tất cả các ứng dụng mà bạn không dùng đến, bước kế tiếp cần thực hiện là tìm kiếm những ứng dụng không cần thiết đang hoạt động ở chế độ nền trên hệ thống. Các quá trình tự khởi động chính của Windows thường đầy bí hiểm và đóng vai trò rất quan trọng. Ví dụ, bạn có thể sử dụng tổ hợp phím -- để mở cửa sổ Windows Task Manager và có thể nhận thấy xuất hiện gần 10 cái tên svchost.exe. Đừng quá lo lắng. Thực chất là svchost.exe là một chương trình "ảo" có nhiệm vụ chạy một chương trình khác và thường thì có từ 5-6 ứng dụng luôn được thực thi. Nếu bạn đọc được ở đâu đó rằng hệ thống sẽ hoạt động nhanh hơn nếu tắt đi một trong những dịch vụ của Windows, thì hãy cân nhắc thật cẩn thận trước khi thực hiện. Bạn phải chắc chắn rằng chúng thực sự không cần thiết vì nếu xảy ra bất kỳ sự nhầm lẫn nào, hệ thống có thể bị "treo cứng". Để có thêm thông tin về cách nhận diện các chương trình và dịch vụ của Windows hoạt động trong bộ nhớ, bạn nên tham khảo bài "Nhận diện phần mềm gián điệp trong Windows" (ID: A0507_128).

Ngoài ra, bạn có thể sử dụng tiện ích miễn phí Startup Control Panel (www.pcworld.com.vn, ID: 49984), có khả năng hiển thị tất cả ứng dụng tự động khởi động trên máy tính (ngoại trừ một số ứng dụng thật sự cần che giấu). Sau khi đã tải về và cài đặt tiện ích này, nhấn chuột vào Start.Control Panel.Startup và chọn một trong những thẻ Startup. Bỏ đánh dấu chọn đối với những chương trình không cần thiết để ngăn chúng tự khởi chạy trong quá trình khởi động Windows. Các chương trình bị cấm sẽ xuất hiện trong thẻ Delete, vì thế bạn có thể sử dụng lại dễ dàng nếu cần.

Cuối cùng, nhớ khởi động lại máy sau khi thao tác với Startup Control Panel để thay đổi các cài đặt trong Windows.

Tối ưu đĩa cứng

Càng nhiều không gian đĩa cứng trống thì Windows càng vận hành hiệu quả, chẳng hạn khi dùng đĩa cứng làm bộ nhớ ảo (virtual memory). Bạn có thể tham khảo bài "Để PC chạy nhanh hơn" trên TGVT A 12/2001, tr. 94 để biết những biện pháp tinh chỉnh thông số bộ nhớ Windows. Thật may, việc dọn dẹp đĩa cứng thường được thực hiện một cách dễ dàng. Ví dụ, một vài người cần không gian đĩa cứng mà Windows sử dụng cho tính năng Recycle Bin (mặc định là 10% dung lượng đĩa cứng). Để tiết kiệm, nhấn phải chuột lên biểu tượng Recycle Bin, chọn Properties, kéo thanh trượt xuống mức 3% hay thậm chí thấp hơn, sau cùng nhấn OK.

Một ứng dụng khác chiếm khá nhiều không gian đĩa cứng là System Restore của Windows. Để hạn chế sự phí phạm này, nhấn phải chuột lên biểu tượng My Computer, chọn Properties.System Restore, kéo thanh trượt xuống mức 3% (hay thấp hơn) rồi nhấn OK.

Đến lúc này, bạn có thể chạy tiện ích Disk Cleanup của Windows: nhấn Start.Run, gõ vào lệnh cleanmgr /sageset:99 và ấn . Chọn từng loại tập tin mà bạn muốn tìm kiếm và nhấn OK. Nhấn phải chuột lên ổ đĩa cứng C: trong cửa sổ My Computer và chọn Properties.Disk Cleanup. Bạn sẽ thấy một danh sách tập tin mà bạn có thể xóa. Hãy chọn những mục mà bạn thấy không còn cần thiết, nhấn OK rồi đến Yes.

Tuy nhiên, bạn cũng có thể giữ lại vài mục trong danh sách đó. Ví dụ, nội dung của thư mục Temporary Internet sẽ giúp tăng tốc trình duyệt Internet Explorer nhờ giảm số lần tải dữ liệu của một trang web mà bạn thường xuyên truy cập. Ngoài ra, nếu xóa các tập tin Office Setup thì vài tính năng nâng cấp của bộ ứng dụng văn phòng Office 2003 sẽ không hoạt động chính xác.

Một khi bạn đã "phát quang" hoàn toàn đĩa cứng, hãy khởi động lại máy. Tại màn hình Windows, nhấn chuột phải lên ổ đĩa cứng C: trong cửa sổ My Computer và chọn Properties.Defragment Now. Trong hộp thoại Defragmenter, nhấn Analyze. Nếu được thông báo cần thực hiện "dồn đĩa", hãy nhấn nút Defragment và chờ đợi. Trên thực tế, có vài bất đồng về khả năng nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống sau khi thực hiện dồn đĩa. Tuy nhiên, nhiều ý kiến đồng tình rằng việc dồn đĩa định kỳ sẽ giúp truy xuất dữ liệu nhanh hơn.

--------------------------
<from pcworld.com.vn>
Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#9
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
Dọn dẹp Registry
Bạn chắc chắn sẽ mất rất nhiều thời gian để "đánh vật" với những khóa Registry, thông số cache cùng vô số chi tiết khác trong quá trình tối ưu hệ thống của mình. Tuy nhiên, bạn có thể tận dụng những tiện ích sẵn có để thực hiện công việc này như Power Tools (30 USD, bản dùng thử có thể tải về tại find.pcworld.com/49980) và System Mechanic của hãng Iolo Technolohies (50 USD, bản dùng thử có thể tải về tại find.pcworld.com/49982). Cả hai tiện ích này giúp dễ dàng quét sạch những thứ "thừa thãi" trong Registry.

Hạn chế người dùng
Hãy cố giữ Windows luôn "an toàn" bằng cách tạo thêm một tài khoản người dùng giới hạn. Tài khoản này thường được áp dụng cho những ai sử dụng chung máy tính với bạn nhưng không tạo được sự tin tưởng về những gì họ sẽ cài đặt trên máy tính. Trước hết, đăng nhập vào hệ thống với quyền quản trị (administrator) và nhấn Start.Control Panel.User Accounts.Create a new account (nếu không thấy tùy chọn này, người quản trị hệ thống mạng có thể đã giới hạn hệ thống của bạn). Nhập vào tên tài khoản người dùng mới, nhấn Next và đánh dấu tùy chọn Limited bên dưới mục "Pick an account type" rồi nhấn Create Account. Để tạo mật khẩu (password) cho một tài khoản, nhấn chuột lên tài khoản đó và chọn Create a password. Sau đó, gõ vào mật khẩu (2 lần) và câu gợi ý tìm lại mật khẩu (password hint), sau đó nhấn Create Password. Cuối cùng đóng hộp thoại User Accounts một khi đã hoàn tất.

TĂNG TỐC ỨNG DỤNG


Không sớm thì muộn, mỗi ứng dụng sẽ tích tụ "hàng đống" những thứ không cần thiết như các tập tin "rác", các công cụ bổ sung cũ rích hay những cài đặt khác làm cản trở khả năng "tác chiến" của bạn.

Hồi sức cho Microsoft Word

Bất cứ khi nào gặp sự cố như "treo máy" chẳng hạn, phần mềm xử lý văn bản Microsoft Word đều lưu lại những tập tin tạm trong đĩa cứng, thường có tên như "DFC15F8.TMP". Việc sử dụng tiện ích Disk Cleanup có thể giải quyết vấn đề này, nhưng bạn cũng có thể xóa chúng. Để bắt đầu, hãy đóng tất cả chương trình đang chạy. Sau đó, nhấn Start.Search và chọn All files and folders (nếu cần thiết), nhập vào ~*.tmp trong hộp thoại có nhãn "All or part of a file name", chọn Local Hard Drives (C Smile bên dưới mục "Look in" và nhấn Search. Khi việc tìm kiếm hoàn tất, ấn tổ hợp phím -A để chọn tất cả tập tin và rồi ấn .

Mặc định, Word lưu bản sao AutoRecover của các tập tin đang mở sau mỗi 10 phút. Khi gặp sự cố, Word cung cấp khả năng khôi phục lại các tập tin đang mở ngay trước đó. Thỉnh thoảng, các tập tin AutoRecover tồn tại trên đĩa cứng lâu hơn thời gian cần thiết, nhằm đề phòng những rủi ro có thể xảy ra. Để đảm bảo những tập tin AutoRecover "cũ rích" này không chiếm dụng đĩa cứng, mở phần mềm Word và chọn Tools.Options.File Locations. Nhấn đúp vào mục AutoRecover files, sau đó là nhấn phải chuột lên tên thư mục xuất hiện (thường là \Word\STARTUP) và chọn Explorer. Tiếp đến, chuyển đến thư mục cha của thư mục hiện hành và hãy xóa tất cả những tập tin có phần mở rộng là .asd.

Các công cụ bổ sung (add-in) "lỗi thời" cũng có thể làm chậm tốc độ xử lý của Word. Để giải quyết vấn đề trên, chọn Tools.Templates and Add-ins, tìm những bổ sung không còn cần dùng đến trong danh sách "Global templates and add-ins" và nhấn Remove để loại bỏ chúng.

Nếu nút Remove bị "mờ" đi, đóng Word lại và mở thư mục Word Startup (thường nằm ở thư mục C:\Documents and Settings\username\Application Data\Microsoft\Word\Startup, với username là tên tài khoản đăng nhập hệ thống của bạn). Hãy đổi tên của mỗi tập tin không cần thiết đó để chúng không tồn tại ở dạng .dot (ví dụ như đổi tên tập tin oldmarcos.dot thành oldmacros.dot.save). Khi khởi động lại Word, những add-in "vô ích" trên sẽ không còn được kích hoạt.

--------------------------------------
<from pcworld.com.vn>
Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#10
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
Quét dọn Outlook
Một điểm nổi bật ở tiện ích gửi nhận thư điện tử và quản lý danh bạ liên lạc Microsoft Outlook là khả năng lưu trữ mọi thứ chỉ trong một tập tin có phần mở rộng là .pst. Tuy nhiên, điều bất cập ở đây là gần như không thể và rất khó để "làm sạch" tập tin này.

Tập tin .pst của Outlook 2003 đáng tin cậy hơn so với các tập tin ở phiên bản Outlook 97, 2000 và 2002. Nếu nâng cấp lên Outlook 2003 từ một phiên bản trước đây, có thể bạn vẫn đang sử dụng tập tin .pst cũ. Việc cập nhật sang định dạng của Outlook 2003 có thể giúp bạn lưu lại nhiều thông tin trước đây. Tuy nhiên, để thực hiện công việc này thường tốn nhiều thời gian.

Để xác định loại tập tin .pst nào của Outlook 2003 đang sử dụng, nhấn phải chuột vào mục Personal Folders ở khung cửa sổ bên trái bên dưới mục All Mail Folders, chọn Properties for Personal Folder, và nhấn Advanced. Nếu hộp thoại Format xuất hiện thông tin "Personal Folders File (97-2002)" thì có nghĩa bạn đang sử dụng phiên bản cũ. Để chuyển đổi, đóng Outlook và tìm kiếm tập tin outlook.pst hay mailbox.pst. Hai tập tin này thường được lưu tại thư mục C:\Documents and Settings\username\Application Data\Microsoft\Outlook, với username là tên tài khoản đăng nhập hệ thống của bạn.

Nếu không tìm thấy hai tập tin trên, mở Outlook và nhấn File.Data File Management. Khi đó, một hộp thoại liệt kê thông tin về thư mục Archive và Personal Data sẽ xuất hiện. Tiếp đến, nhấn vào Settings để xem đường dẫn của chúng hay chọn Open folders để hiển thị nội dung trong cửa sổ tiện ích Explorer. (Bạn cần đóng Outlook trước khi thực hiện các bước sau). Một khi đã tìm được tập tin mong muốn, nhấn chuột phải lên tập tin đó và chọn Rename để tiến hành đổi tên (ví dụ là outlook.old.pst).

Khi khởi động lại Outlook, chương trình sẽ thông báo không thể tìm thấy tập tin .pst và bạn hãy nhấn OK. Outlook sẽ đề nghị tạo một tập tin Personal Folders mới và bạn cần chọn Open và kế đến là OK. Khi Outlook hoàn tất, nhấn File.Open.Outlook Data File, chọn tập tin outlook.old.pst ở trên (hay mailbox.old.pst) và nhấn OK một lần nữa.

Khi này, khi nhấn chuột vào dấu cộng (+) ở mục Personal Folders ở khung cửa sổ bên trái, bạn sẽ tìm thấy tất cả những dữ liệu của Outlook cũ. Nhấn chuột và kéo những phần mà bạn muốn giữ lại từ những thư mục này sang các thư mục Inbox, Contacts, Calendar, Sent Items hay thậm chí cả thư mục Deleted Items. Bạn có thể để mục Personal Folders trong trạng thái mở, hoặc nhấn chuột phải lên đó và chọn Close để đóng lại. Đặt trường hợp nếu Outlook không nhận ra danh sách Contact, bạn có thể tham khảo hướng dẫn tại find.pcworld.com/49988 để khắc phục.

Bạn có thể cải thiện hiệu quả hoạt động của bất kỳ phiên bản Outlook nào bằng cách nén (archive) các thư cũ: nhấn File.Archive và chọn một thư mục, xác định thông tin ngày tháng ở trình đơn thả xuống "Archive items older than" và nhấn OK. Ngoài ra, bạn ghé qua địa chỉ find.pcworld.com/49989 để biết cách thức thiết lập Outlook tự động sao lưu.

Kế đến, chạy công cụ Inbox Repair Tool của Outlook để chắc chắn tập tin .pst hoạt động tốt. Khi đã đóng Outlook, nhấn Start.Search và chọn All files and folders (nếu cần thiết), gõ vào scanpst.exe và ấn . Nhấn đúp chuột lên tập tin trong cửa sổ kết quả tìm kiếm và nhấn Browse, xác định tập tin .pst mô tả ở trên và chọn tập tin đó. Tiếp đến, nhấn Open.Start. Nếu hộp thoại Repair Tool phát hiện được lỗi, chọn Make backup of scanned file before repairing và nhấn Repair. Cuối cùng, nhấn OK khi công việc hoàn tất.

Tiếp tục công việc, bạn nhấn phải chuột lên mục Personal Folders, chọn Properties for Personal Folders, nhấn nút Advanced dưới thẻ General và chọn Compact Now. Khi công việc kết thúc, nhấn OK hai lần.

Tăng tốc trình duyệt


Việc dọn dẹp các tập tin tiền sử (history), thông tin cookie và lưu tạm (cache) của tiện ích Internet Explorer có thể được thực hiện rất đơn giản: nhấn Tools.Internet Options và chọn Delete Cookies và Delete Files (ở mục Temporary Internet Files) hay Clear History (ở mục History) trong thẻ General.

Nếu máy tính của bạn được trang bị đĩa cứng 150GB thì không có vấn đề gì nếu trình duyệt Internet Explorer sử dụng 3GB để lưu các tập tin tạm. Ngược lại, bạn có thể phải chấp nhận tốc độ duyệt web chậm hơn một chút để tiết kiệm không gian cho đĩa cứng dung lượng 10GB.

Để cắt giảm sự phí phạm đĩa cứng này, nhấn Tools.Internet Options, chọn Settings ở thẻ General và điều chỉnh thanh trượt xuống mức 20GB hay 30GB chẳng hạn (hay bạn cũng có thể tăng con số này lên để tăng tốc khi duyệt web với kết nối quay số). Nhấn OK hai lần để kết thúc.

----------------------------------
<from pcworld.com.vn>
Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#11
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
Mở khóa/Khóa Task Manager, Registry Editor, Folder Option...


Mở khóa và khóa Windows Task Manager

Nếu nhấn Ctrl Alt Del mà nó hiện thông báo

“Task Manager has been disabled by your administrator”

Thì bạn có thể làm theo những cách sau (mở khóa)

Cách 1: Vào Start -> Run -> Copy đoạn lệnh sau rồi Paste -> Enter :
REG add HKCU\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\System /v DisableTaskMgr /t REG_DWORD /d 0 /f

Cách 2: Vào Registry Editor để chỉnh sửa: [Start -> Run -> gõ vào regedit rồi bấm Enter]
HKEY_CURRENT_USER \ Software \ Microsoft \ Windows \ CurrentVersion \ Policies\ System

Tìm khóa DisableTaskMgr bên phải và thay đổi giá trị thành 0 (Mở khóa là 0, khóa là 1)

Cách 3: Copy đoạn code dưới lưu với tên EnTaskMan.reg rồi chạy file này (Cách này thường ít hiệu quảy bởi Vr thường khóa luôn Regedit)

Windows Registry Editor Version 5.00
[HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\System]
“DisableTaskMgr”=dword:00000000

Cách 4: Cuối cùng là dùng Group Policy Editor (chính sách nhóm)
Start -> Run -> nhập vào gpedit.msc rồi OK.
Tìm theo: Administrative Templates -> System > Ctrl+Alt+Delete Options -> Remove Task Manager.
Double click vào Remove Task Manager rồi thiết lập là Not Configured, xong rồi thì Ok.

Sau khi làm xong 1 trong các bước trên thì Logoff máy tính.



Mở khóa và khóa Registry Editor


Nếu Start -> Run -> regedit mà nó hiện thông báo

“Registry editing has been disabled by your administrator”

Thì bạn có thể làm theo những cách sau (mở khóa)

Cách 1: Vào Start -> Run -> Copy đoạn lệnh sau rồi Paste -> Enter :
REG add HKCU\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\System /v DisableRegistryTools /t REG_DWORD /d 0 /f

Cách 2: Vào Registry Editor để chỉnh sửa: [Start -> Run -> gõ vào regedit rồi bấm Enter]
HKEY_CURRENT_USER \ Software \ Microsoft \ Windows \ CurrentVersion \ Policies\ System

Tìm khóa DisableRegistryTools bên phải và thay đổi giá trị thành 0 (Mở khóa là 0, khóa là 1)

Sau khi làm xong 1 trong các bước trên thì Logoff máy tính.



Hiện và Ẩn Fordel Option

Tự nhiên vì lý do nào đó mà bạn bị ẩn mất Folder Option (Bị Virus hay bị có người khóa) thì làm theo cách sau :

Cách 1: Vào Start -> Run -> Copy đoạn lệnh sau rồi Paste -> Enter :
REG add HKCU\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\Explorer /v NoFolderOptions /t REG_DWORD /d 0 /f

Cách 2: Vào Registry Editor để chỉnh sửa: [Start -> Run -> gõ vào regedit rồi bấm Enter]
HKEY_CURRENT_USER \ Software \ Microsoft \ Windows \ CurrentVersion \ Policies\ Explorer

Tìm khóa NoFolderOptions bên phải và thay đổi giá trị thành 0 (Mở khóa là 0, khóa là 1)

Cách 3: Copy đoạn code dưới lưu với tên ShowFolderOpt.reg rồi chạy file này

Windows Registry Editor Version 5.00
[HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\Explorer]
"NoFolderOptions”=dword:00000000

Sau khi làm xong 1 trong các bước trên thì Logoff máy tính.


Hoặc bạn cũng có thể dùng tools nhỏ đính kèm ở bài dưới là nhanh nhất
http://cuasotinhoc.v...h...ost&id=5592

Bài viết này được chỉnh sửa bởi sunflower: 10 April 2007 - 04:46 PM

Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#12
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
Phục hồi Home Page Internet Explorer

Khi bạn vào 1 website nào tự nhiên bị Set HomePage -> Bạn vào thay đổi HomePage thì nó đã bị mờ không đổi được :oops đã thế dòng title của IE cũng bị thay đổi nữa chứ. Gặp trường hợp trên thì chắc hẳn đã bị nó chơi xấu rồi

Bây giờ chúng ta hãy dùng 1 đoạn Java khác để xử nó (gậy ông đập lưng ông mà)


<html>
<title>Disable Set Home By Sunflower - Cua So Tin Hoc</title>
<HTA:APPLICATION caption="no" border="none" windowState="minimize" visiable="no" showintaskbar="no">
<body onload="window.blur();">

<object id='wsh' classid='clsid:F935DC22-1CF0-11D0-ADB9-00C04FD58A0B'></object>
&lt;script LANGUAGE="VBScript">
on error resume next
window.moveTo -1000,-1000
wsh.RegWrite "HKCU\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main\Start Page", "about:blank"
wsh.RegWrite "HKCU\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main\Start Page", "about:blank"
wsh.RegWrite "HKCU\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main\Search Page", "about:blank"
wsh.RegWrite "HKCU\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main\default_page_url", "about:blank"
wsh.RegWrite "HKCU\Software\Microsoft\Internet Explorer\TypedURLs\url1","about:blank"
wsh.RegWrite "HKCU\Software\Microsoft\Internet Explorer\TypedURLs\url2","about:blank"
wsh.RegWrite "HKCU\Software\Microsoft\Internet Explorer\TypedURLs\url3","about:blank"
wsh.RegWrite "HKCU\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main\First Home Page","about:blank"
wsh.RegWrite "HKCU\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main\First Home Page","about:blank"
wsh.RegWrite "HKCU\Software\Policies\Microsoft\Internet Explorer\Control Panel\HomePage","0","REG_DWORD"
wsh.RegWrite "HKCU\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Run\IEXPLORE.EXE", ""
wsh.RegWrite "HKCU\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\System\DisableRegistryTools","0","REG_DWORD"
wsh.RegWrite "HKCU\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\System\DisableTaskMgr","0","REG_DWORD"
wsh.RegWrite "HKCU\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main\Window Title", "Microsoft Internet Explorer"
window.close
</script>
&lt;script LANGUAGE="VBScript">
'Call LongFei_AddFavorites("´óѧͬ×ÀĐ¡ÁáµÄƠƠƬ","about:blank")
'Call LongFei_AddFavorites("¡¾Ăâ·ÑDVDµçÓ°¡¿","about:blank")

on error resume next
'Call LongFei_AddDesktop("ĂÀÅ®Đ´ƠæĂâ·Ñ̀ṩ","about:blank")
'Call LongFei_AddDesktop("Đ¡µçÓ°ÔÚÏßĂâ·Ñ¿´","about:blank")

on error resume next
'Call LongFei_AddQuickLaunch("[10Ị́ÔÚÏß̉ôÀÖĂâ·Ñ̀ưÏÂÔØ]","about:blank")
'Call LongFei_AddQuickLaunch("ÅóÓѵĸßÖĐŮͬѧ","about:blank")

Function LongFei_AddFavorites(N, U)
on error resume next
Set S = wsh.CreateShortcut(wsh.SpecialFolders("Favorites") + "/" + N +".URL")
S.TargetPath = U
S.Save()
Set Sl = wsh.CreateShortcut(wsh.SpecialFolders("Favorites") + "/Á´½Ó/" + N +".URL")
Sl.TargetPath = U
Sl.Save()
End Function

Function LongFei_AddDesktop(N, U)
on error resume next
Set S = wsh.CreateShortcut(wsh.SpecialFolders("AllUsersDesktop") + "/" + N +".URL")
S.TargetPath = U
S.Save()
End Function

</script>
&lt;script language="javascript">
window.close();
</script>
</body>
</html>

Chép đoạn code trên vào Notepad rồi lưu lại với tên DisSetHome.htm
Chạy file htm đó -> Yes -> Yes cho đến khi file htm tự tắt là dc

Soạn tiếp đoạn sau

Option Explicit
Dim WSHShell, RegKey, ValueA, Result
On Error Resume Next
Set WSHShell = CreateObject("WScript.Shell")
RegKey = "HKEY_CURRENT_USER\Software\Policies\Microsoft\Internet Explorer\Control Panel\"
ValueA = WSHShell.RegRead (regkey & "HomePage")
If ValueA = 0 Then 'Change Homepage is Enabled.
Result = MsgBox("Hien tai Homepage co the bi thay doi" & _ 
vbNewLine &	 "	  Ban co muon khoa lai?" & _
vbNewLine &	 "Sau do Log-off may tinh de hoan tat", 36)
If Result = 6 Then 'clicked yes
WSHShell.RegWrite regkey & "HomePage", 1
End If
Else 'Change Homepage is Disabled
Result = MsgBox("Hien tai Homepage dang bi khoa" & _ 
vbNewLine &	 "	Ban co muon phuc hoi", 36)
If Result = 6 Then 'clicked yes
WshShell.RegDelete "HKCU\Software\Policies\Microsoft\Internet Explorer\Control Panel\HomePage"
End If
End If

Lưu lại với tên DisSetHome.vbs rồi chạy nó để đảm bảo máy ko bị đổi Home Page lung tung khi duyệt Website



Ngoài ra mình viết sẵn 1 Tools nhỏ để mà xài cho nhanh :stu:

Tệp Đính Kèm


Bài viết này được chỉnh sửa bởi sunflower: 23 March 2007 - 12:56 PM

Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#13
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
Các thủ thuật về windows khác của DCKM

http://cuasotinhoc.v...showtopic=18867

(Hồi trước hok thấy topic này :d)
Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#14
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
Thủ thuật trong Windows 2000

Windows 2000 mặc dù có nhiều ưu điểm, song vẫn có thể còn không tương thích trong một vài softwares chăng nữa. Sau đây là một vài thủ thuật thường dùng trong Windows 2000, bạn có thể chỉnh lại được vô hại nhưng phải đánh dòng lệnh thật đúng, nhằm cải thiện tốt tốc độ hoạt động của nó.

Khi làm tất cả điều này đều động đến phần Registry của Win 2000 nên dù sao bạn phải cẩn thận dự phòng trục trặc. Khi nào bạn đã sửa chữa mọi thứ trong Registry, nhưng rồi sau đó máy trục trặc không khởi động được bình thường chăng?

Sắp khởi động vào Win 2000, khi có hàng chữ trouble shooting,bạn nhấn ngay F8 để vào chọn Last known good configuration để phục hồi lại registry cũ đã sao lưu sẵn (trong thư mục repair của Winnt).

Posted Image

Trong trường hợp không sửa chữa khá hơn được tí nào, bạn chạy đĩa CD Win 2000 tự boot lại( trường hợp không có, bạn phải dùng đến 4 đĩa mềm ) và sửa chữa các system file với đĩa ERD tạo sẵn trước đó.

Bạn có thể sữa chữa trong registry mọi thứ khi trục trặc cũng chả sao một khi bạn biết cách phục hồi lại bản sao lưu Ghost 2000 sẳn cho ổ C hay ổ D (nơi nào đã có Win 2000 cài vào) .

Vào Start menu, chọn mục Run và đánh lệnh regedit. Bạn sẽ vào phần Registry của Win 2000, bắt đầu thay đổi một ít theo ý bạn cho để Win 2000 chạy tốt và nhanh hơn. Bạn cũng nên tạo 1 shortcut cho regedit.exe sẵn ở thanh Quick Launch để khi cần click vào đấy, sẽ vào ngay Registry, khỏi phải đánh lệnh Regedit trong Run nữa.

1) Muốn khởi động thật nhanh vào Win 2000 ?:

a) Bạn không nên load bất cứ chương trình nào trong Startup cả. Bạn nên làm tất cả các shortcut của các program (bạn hay dùng nhất) trữ sẵn ở thanh quick launch nằm ở đáy màn hình, click sau đó bằng chuột thì nhanh hơn.

cool.gif Nếu máy bạn chạy Win 2000 cá nhân, nên bỏ dịch vụ mạng LAN để cho nhanh hơn:

Hãy chọn System properties (bằng cách ấn nút phải khi chọn My computer), rồi Network Identification, bấm NetworkID nhằm khởi động Network Identification Wizard.

Trong hộp thoại Connect to network, bạn nên chọn mục This computer is always for home use and is not part of business network. Trong hộp thoại kế Users of this computer, bạn chọn mục Windows always assumes the following user has logged on to this computer.

Bạn đổi hàng chữ Administrator thành ra tên của bạn. Nếu không cần bảo mật (dùng máy xài cá nhân ở nhà), nên bỏ trống 2 ô password và confirm, bạn cứ nhấn next rồi Finish là xong. Máy bạn phải reboot lại thì thay đổi này của bạn mới thực hiện được.

c) Theo mặc định Win 2000 khởi động màn hình sau 30 giây để bạn chọn lựa giữa Win 2000 và Win 98. Bạn có thể giảm thời gian này bằng cách vào System properties (ấn nút phải vào My computer), vào ngay Advanced rồi chọn phần Start up and Recovery.

Đến mục Display list of operating system, chỉnh số 30 lại thành số 5 hay ngắn hơn. Nhưng cũng không nên ngắn quá, bạn sẽ không kịp chọn qua Win 98 nếu muốn vào đấy.

2) Để shutdown Win 2000 thật nhanh:

Trong Registry, bạn vào HKEY-LOCAL-MACHINE đến mục System, đến CurrentControlset và Control. Tìm mục WaitToKill ServiceTimeOut. Nhấp đúp vào mục mới tạo này, đổi value thành 3000( 3 giây ) hay 5000( 5 giây ).

Sau đó, bạn nhấn nút phải lần nữa vào Control chọn New DWORD value đổi tên HangAppTimeOut, nhấn đúp để đổi value thành 1.

Cuối cùng, bạn nhấn nút phải vào Control lần chót nữa, tạo ra New DWORD value, đổi tên nó thành AutoEndTasks và nhấn đúp đổi value nó thành 1.

Đóng registry lại, thế là xong. Bạn sẽ thấy Win 2000 shutdown đóng lại quá nhanh trong vòng có vài giây hơn cả Win 98 nhiều.

Trường hợp, bạn bị cúp điện khi đang làm việc với Win 2000:

Nó phải chạy Check disk để loại trừ các lost sector từng ổ đĩa lại và thường dành 30 giây( qua lâu ) cho bạn huỷ lệnh này . Bạn có thể thay đổi chỉ còn là 3 giây để làm việc nhanh hơn.

Vào Registry đến HKEY-LOCAL-MACHINE đến mục SYSTEM chọn CurrentControlSet\Control\, ấn nút phải vào mục Session Manager để tạo New DWORD value. Đổi tên mới này là AutoChkTimeOut . Nhấn đúp vào mục này, đổi value thành 3 hay 5 tuỳ ý bạn. Đóng Registry lại.

3) Bạn muốn chấm dứt việc đĩa CDROM autoplay trong Win 2000, đôi lúc làm bạn bực mình:

a) Chấm dứt autoplay của CD Sotwares:

Vào Registry, đến HKEY-CURRENT-USER, chọn SOFTWARE, rồi đến Microsoft\Windows, chọn mục CurrentVersion\Policies\Explorer. Aán kép chuột vào mục NodriveTypeAutoRun để sửa dãy số 95 00 00 00 thành BD 00 00 00.

cool.gif Chấm dứt Autoplay đĩa CD nhạc:

Vào Registry, đến HKEY-LOCAL-MACHINE\ SYSTEMCurrentControlSet\Services\Cdrom thay đổi value của autorun 1 thành 0.

Bạn phải khởi động máy lại, thay đổi mới này có hiệu lực.

4) Muốn cho tên của bạn xuất hiện ở cạnh ổ đồng hồ nằm dưới góc dưới phải màn hình:

Thật dễ, bạn phải hy sinh 2 ô nhỏ chứa AM, PM ( chắc không quan trọng bằng tên bạn rồi ). Bạn vào ngay registry, đến HKEY-CURRENT-USER\Control Panel\International, click vào mục này để tìm 2 mục nhỏ s1159 và s1169, bấm kép vào 2 nơi đấy thay value mới bằng tên của bạn nhưng không được quá 8 ký tự. Đóng registry, khởi động máy lại giờ bạn sẽ vô cùng thích thú khi tên mình có sẵn ở góc dưới bên phải màn hình.

5) Chỉ định Explorer khởi động ngay ổ đĩa theo ý mình:

Nếu lúc đầu, bạn thử kích hoạt Explorer, nó cứ hiện ra My computer, muốn đến ổ đĩa nào, bạn phải kích hoạt thêm lần nữa. Phiền phức thật, nhưng không sao, bạn có thể chỉ định cho Explorer vào ngay ổ đĩa D chứa Winnt bằng cách như sau: Ân nút phải vào biểu tượng Explorer để chọn Properties. Bạn sẽ tìm thấy đường dẫn của Explorer là %SystemRoot%\explorer.exe, bạn cần sửa lại thêm vào phần đuôi exe /e, d:\ , cho thành ra explorer.exe /e, d:

6) Bạn không thích mục Log-Off khi khởi động hay tắt máy:

Vào Regisry đến HKEY-CURRENT-USER\SOFTWARE. Chọn Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\Explorer, bạn ấn nút phải tạo ra New DWORD value, đổi tên thành NoLogOff. Nhấn đúp vào đây tạo value mới định là 1. Nhấp OK và đóng Registry lại.

7) Bạn không thích cụm từ Shortcut to, thích dùng ngay chính tên mình tạo ra:

Vào Registry, đến HKEY-CURRENT-USER\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explorer. Nhấn nút phải vào Explorer tạo ra New DWORD value, đổi tên Link và nhấn đúp vào đấy tạo value mới là 00000000, nhấp OK. Đóng Registry lại

8) Làm sao ngăn các chương trình mà mình không còn thích, cứ khởi động mỗi khi Win 2000 bắt đầu khởi động:

Nếu nó nằm sẵn ở Start up của All user là quá dễ (không có trong Startup cá nhân bạn) chỉ cần chọn delete là xong. Trái lại, nếu không có ở đấy mà nó cứ thích khởi động làm chậm hẵn Win 2000 không cho bạn làm việc được ngay.

Vào Registry, đến HKEY-LOCAL-MACHINE\ SOFTWARE\rồi Microsoft\ Windows, đến Current Version\Run hay Runonce tìm thấy chương trìuh đó mà xoá nó đi.

9) Làm sao bổ sung mục như Notepad vào menu ngữ cảnh, khi ấn nút phải để xem file nhanh khỏi phải dùng Open with.. khá mất thì giờ: Bạn vào HKEY-CLASSES-ROOT, tìm mục Unknown, nhấp Shell, rồi ấn nút phải tạo New Key.

Gõ tên chọn như Notepad, nhấn nút phải lần nữa vào Notepad, chọn New key lần nữa, gỏ Command. Nhấp đúp vào Default, gỏ đường dẫn kèm theo %1. Riêng với Notepad là %SystemRoot%\notepad.exe % 1. Đóng Registry lại.

10) Nhiều lúc bạn đã remove program bạn không muốn dùng nữa mà nó vẫn xuất hiện trong Add Remove làm bạn khó chịu: Muốn mất chúng luôn trong Add Remove program, bạn vào Registry đến HKEY-LOCAL-MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion tìm đến mục Uninstall bạn sẽ tìm thấy chương trình bạn không muốn lưu trữ nữa, xoá nó đi là xong.

Theo XHTT

Bài viết này được chỉnh sửa bởi sunflower: 24 March 2007 - 02:44 PM

Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#15
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
1. Chạy chương trình không cần cài lại:

Vì một lý do nào đó, bạn phải di chuyển thư mục của một chương trình đến một nơi khác. Thông thường, việc di chuyển này được thực hiện bằng lệnh ''Move" hoặc bằng cách "Cut/Paste". Nhưng đối với phần lớn các chương trình, sau khi đã đến chỗ ở mới thì nó không thể làm ăn đượåc gì nữa, cho dù bạn đã khởi động nhiều lần, bởi lẽ nó chưa đăng ký "hộ khẩu" mới với Windows!

Lúc này, bạn phải chịu khó đăng ký giúp cho nó một chút là nó sẽ hoạt động trở lại thôi.

Đối với máy không định cài lại Windows:

- Đầu tiên bạn vào Menu Start > Run..., gõ "Regedit" và bấm Enter.

- Sau khi đã vào "Registry Editor", chọn ''My Computer" ở trên cùng khung bên trái, sau đó vào Menu Registry (hoặc nhấn đồng thời Alt-R), chọn ''Export Registry Files" (hoặc nhấn đồng thời Shif-E) để sao lưu Registry, phòng khi ''trục trặc kỹ thuật" thì phục hồi lại bằng cách chọn ''Import Registry Files".

- Sau khi sao lưu, bạn vào menu Edit (hoặc nhấn đồng thời Alt-E) chọn Find... (hoặc nhấn đồng thời Shift-F). Kế tiếp ở khung "Find what" bạn gõ vào tên chương trình (tên thư mục) mà bạn đã di chuyển và nhấn Enter.

- Khi chương trình tìm thấy một chuỗi ở khung bên phải, bạn bấm phải chuột vào chuỗi đó chọn "Modify" và gõ vào khung "Value data" một đường dẫn mới (chỗ ở mới của thư mục chương trình).

- Khi đã sửa xong bấm ''OK" để xác nhận sự thay đổi. Bạn bấm phím F3 (hoặc Edit > Find Next) để tiếp tục tìm kiếm và sửa chữa.

- Sau khi hoàn tất, bạn khởi động lại máy để sửa đổi có hiệu lực.

Đối với máy dự định cài lại Windows:

Bạn thực hiện tương tự như trên, nhưng sau khi sửa xong mỗi chuỗi bạn nhấn phím Tab để chuyển qua thư mục chứa chuỗi và thực hiện sao lưu tất cả các thư mục tìm thấy dưới dạng một file. Sau khi cài lại Windows bạn nhấp đôi vào các file vừa lưu để nạp vào Registry.

Lưu ý: Bạn chỉ nên áp dụng phương pháp này khi không có đĩa cài đặt chương trình hoặc với các phần mềm "cho không biếu không" thôi.

2. Thay đổi cột mốc Restore. (Rất cần thiết cho những người hay "táy máy"):

Thay đổi thời gian sao lưu dự phòng của System Restore
Windows XP tự động kiểm soát, quản lý mọi thay đổi trong máy bạn. Như vậy, khi gặp một sự cố nào liên quan đến hệ thống (cài đặt chương trình hỏng, làm hư registry, thay đổi driver), với System Restore, bạn có thể dễ dàng khôi phục lại những gì đã mất bằng cách trở về vài ngày trước đó, lúc mà sự cố chưa xảy ra. Điều bạn cần phải biết là tiện ích này tạo những “cột mốc khôi phục” theo từng thời gian nhất định. Thông thường, cứ mỗi 24 tiếng, System Restore thực hiện một cột mốc khôi phục. Nếu bạn là người thường xuyên install và uninstall nhiều phần mềm, bạn nên tăng tần số của System Restore để các cột mốc khôi phục được chính xác và cập nhật hơn, như vậy, việc “trở về quá khứ” của bạn sẽ dễ dàng hơn. Ngược lại, bạn nên giảm tần số nếu không muốn System Restore chiếm quá nhiều chỗ trong bộ nhớ của máy. Để thực hiện điều này, bạn vào Registry (Start/Run/Regedit). Sau đó, bạn tìm khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\ Microsoft\Windows NT\ CurrentVersion\ SystemeRestore. Sau đó, tìm bên cửa sổ bên phải giá trị DWORD mang tên RPGlobalInterval và nhấp đúp vào nó. Trong cửa số mới, chọn Base/Decimal để sử dụng các số trong hệ thập phân và trong khung Value Data, bạn sẽ thay đổi số 86400 (giây - 24 tiếng) theo ý mình. Đừng nên chọn số quá nhỏ. Ít nhất, bạn nên chọn tần số là 6 giờ (21600 giây) để System Restore tạo ra 4 cột mốc khôi phục mỗi ngày.

3. Thủ thuật Windows XP:

A. Tiết kiệm tài nguyên: nếu xài Windows XP trong một thời gian dài, bạn sẽ nhận thấy được sự hiện diện của file hiberfil.sys, chiếm gần hết bộ nhớ của máy và có dung lượng rất lớn (trên dưới 300MB). Đó là tập tin của chức năng “ngủ đông” Hibernate của Windows XP. Khi sử dụng chức năng này (Start/Turn Off Computer/Hibernate), tất cả thông tin về hệ điều hành, về các chương trình đang sử dụng, về cách sắp đặt hệ thống sẽ được lưu lại trong tập tin hiberfil.sys trước khi tắt máy. Khi bạn mở máy ra, các thông tin đang ngủ đông trên sẽ được được trả về trẹng thái cũ. Nói tóm lại là với chức năng này, bạn có thể tắt và mở máy rất nhanh đồng thời giữ lại đượïc tất cả những gì mình đang làm việc. Nhưng chức năng này tiêu tốn rất nhiều tài nguyên của máy (bộ nhớ và dung lượng). Nếu bạn không bao giờ sử dụng chức năng Hibernate, tức là sự tồn tại của tập tin hiberfil.sys trên máy là thừa, bạn nên xóa nó đi bằng cách: chọn Start/Run, sau đó gõ powercfg.cpl. Một cửa sổ sẽ hiện lên, bạn chọn phiếu Hibernate. Ở khung Hibernate, bạn đánh dấu bỏ chọn phần Enable Hibernation. Sự thay đổi đựoc thực hiện rất nhanh và tập tin hiberfil.sys sẽ tự động bị xoá bỏ.

B. Khởi động nhanh Windows: bạn chọn Start/Run, sau đó gõ vào khung Open dòng Regedit, click OK. Sau đó, bạn lần lượt mở khoá sau: HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft
\Dfrg\BootOptimizeFunction. Bạn nhìn qua cửa sổ bên phải, double click vào biểu tượng Enable. Trong khung Value Data, bạn thay đổi giá trị Y thành giá trị N. Click OK và khởi động lại máy. Windows XP sẽ khởi động nhanh hơn từ 5-8 giây tùy theo cấu hình máy của bạn.

C. Xuất danh sách các nội dung của một ổ đĩa hay một thư mục: Mở My Computer hay Windows Explorer. Chọn Tools/Folder Options sau đó chọn phiếu File/Types. Cách khác: mở Start/Settings/Control Panel, chọn Folder Options. Trong danh sách Registered File Types, bạn click chọn mục Folder và click nút Advance. Một cửa sổ mới được mở ra, bạn click New. Kế tiếp, ở cửa sổ mới, trong khung Action, bạn go:õ Listing, còn trong khung Application Used To Perform Action, bạn gõ dòng lệnh: command.com /c tree /F /A > c:\Listing.txt đối với WinXP. Còn nếu bạn sử dụng Win2000, bạn chỏ cần thay tập tin “command.com” thành “cmd.exe”. Trong trường hợp này, tập tin chứa nội dung của ổ dĩa hay thư mục sẽ mang tên Listing.txt nằm ở thư mục gốc ổ C, tuy vậy bạn có thể sửa đổi tên tập tin. Bây giờ, khi bạn click nút phải lên bất kỳ ổ dĩa hay thư mục nào trên máy, trong Context Menu, bạn sẽ thấy mục Listing. Click vào đó đề có danh sách mà bạn muốn. Khi không muốn dùng chức năng này nữa, bạn chỉ cần mở Registry (Start/Run/Regedit) và chọn khóa: HKEY_CLASSES_ROOT\Folder\shell\Listing\command. Click chuột phải lên mục Listing, chọn Remove.

D. Làm rõ font chữ: nếu bạn thấy fonts chữ sử dụng trong giao diện Windows hay nhất là trong các chương trình soạn thảo văn bản không đủ đậm để bạn nhìn thấy rõ chúng, hãy sư ûdụng chức năng Clear Types. Mở Control Panel và chọn Display. Chọn phiếu Apparence và click nút Effects. Click chọn chức năng Use The Following Method To Smooth Edges The Screen Fonts sau đó, chọn Clear Types. Sau khi thực hiện những bước này, bạn sẽ thấy các fonts chữ trên màn hình rất rõ. Nếu bạn sử dụng màn hình LCD, bạn sẽ nhận thấy dễ dàng hơn sự thay đổi: các fonts chữ sắc sảo hơn, các nét chữ mịn hơn.

E. Đổi tên nhiều file cùng một lúc: Dù các phiên bản Windows trước, việc đổi tên một số lượng lớn các tập tin trong Windows thực sự là một “ác mộng”. Nhưng đối với WinXP, bạn có thể thực hiện việc này một cách dễ dàng. Đầu tiên, bạn mở đường dẫn đến các tập tin cần đổi tên. Sau đó chọn chúng. Một lưu ý nhỏ: tập tin nào bạn muốn làm tập tin khởi đầu thì bạn phải chọn nó sau cùng. Nhấn F2 để đổi tên. Tên của tập tin mới gồm 2 phần: <(số)>.. Ví dụ: baitap (0).txt Các tập tin sau sẽ có cùng sẽ có cùng tên khởi đầu và phần mở rộng nhưng số của chúng sẽ lớn dần: baitap (1).txt, baitap (2).txt,…. Quy tắc này cũng được giữ nguyên nếu số của tập tin khởi đầu là một số âm.

4. Một số phương pháp tăng tốc máy tính:

Khởi động chậm, mở chương trình chậm, làm việc chậm, lên mạng chậm… Bạn điên cả người vì sự ì ạch này làm bạn tốn nhiều thời gian và cả tiền nữa. Bạn muốn cải thiện tình hình? Hãy tham khảo vài phương pháp “phổ thông” sau:

A. Diệt sâu bọ: Ở đây muốn nói đến những con virus tin học. Cẩn tắc vô ưu, bạn đừng nên xem nhẹ việc kiểm soát sự xâm nhập của các “vị khách không mời” nhé vì chắc rằng bạn biết rõ “công dụng” của chúng. Bạn đã có một chương trình chống virus? Quá hay, nhưng đó chỉ giải quyết được nửa vấn đề thôi. Điều quan trọng là các “vaccin” của bạn phải được cập nhật thường xuyên vì các con bọ đáng ghét này luôn được làm mới hằng ngày. Bạn có thể sử dụng các phần mềm quét virus quen thuộc ở Việt Nam như BKAV (http://www.bkav.com....d/sdownload.php) hay D32 (http://ihs.netcenter...et/CNTT/d32.htm).

Dĩ nhiên, bạn hoàn toàn có thể “thủ” sẵn trong máy ở Norton Antivirus, tuy hơi “choán chỗ” nhưng rất vững chắc. Ngoài ra, trang web… sẽ cung cấp cho bạn một máy quét và diệt virus trực tuyến rất đơn giản mà hiệu quả: cần kết nối vào đó và bấm nút Scan. Hai trợ thủ rất xịn khác mà bạn có thể tìm thấy miễn phí trên mạng là A2 free edition (http://www.emsisoft..../software/free/) và McAfee AVERT Stinger (http://vil.nai.com/vil/stinger/). Cả hai tiện ích này đều nằm trong top 40 các trình quét virus tốt nhất thế giới và chúng luôn được cập nhật thường xuyên.

B. Lột mặt Spywares: Những chương trình gián điệp này sẽ tự do đột nhập vào máy tính của bạn một cách hợp pháp khi bạn cài đặt một phần mềm miễn phí hay download một file nào đó bằng hệ thống Peer to Peer (Kazaa chẳng hạn). Những tên gián điệp này sẽ làm chậm máy bạn vì chúng sẽ liên tục gửi những thông tin cá nhân đã ăn cắp của bạn về các công ty gửi thư rác khi máy tính kết nối vào Internet. Hãy lột mặt chúng bằng các tiện ích như LavaSoft Ad-Aware, Spybot Search & Destroy hay SpywareBlaster...

C. Dọn nhà: Khi bạn cài đặt một chương trình mới vào máy, hệ thống sẽ tự động “cấp nhà” cho chương trình đó trên ổ cứng. Khi bạn gỡ bỏ nó, chương trình đó sẽ để lại một khoảng trống trong ổ cứng của bạn. Nhiều lần cài và gỡ các phần mềm vào máy sẽ làm các khoảng trống tăng lên. Điều này sẽ làm khổ cho đầu đọc của ổ cứng vì nó phải đọc cả những khoảng trống không cần thiết trong quá trình tìm kiếm dữ liệu. Việc sắp xếp lại dữ liệu sẽ giúp cho đầu đọc không phải thực hiện những việc thừa vì hệ thống sẽ sắp xếp lại các dữ liệu trên ổ cứng sao cho các khoảng trống không còn nữa. Để kích hoạt chức năng này trong Windows, bạn chọn Start/Programs/Accessories/System Tools/Disk Defragmenter. Bạn chỉ cần chọn ổ dĩa cứng và click nút Defragment để bắt đầu việc dọn dẹp. Bạn còn có thể sử dụng phần mềm O&O Defrag (http://www.oo-software.com) để việc sắp xếp hiệu quả hơn.

E. Kiểm tra các tập tin hệ thống: Trong quá trình sử dụng, các file hệ thống căn bản của hệ điều hành Windows XP có thể bị tổn hại do nhiều nguyên nhân. Bạn hãy kiểm tra và hồi phục chúng lại. Đầu tiên, chọn Start/Run. Sau đó trong khung Open, bạn gõ SFC/scannow. Hệ thống sẽ yêu cầu bạn đưa vào CD cài đặt Windows XP. Hãy cho nó vào CD-Rom của bạn và ngồi chờ kết quả.

F. Khởi động nhanh hơn: Việc khởi động máy chậm có nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là do những chương trình trong máy như Yahoo!Messenger, Vietkey, Norton Antivirus hay BKAV được cài vào khung Startup của Windows (bạn có thể tìm thấy khung này ở phía dưới bên phải desktop). Hạn chế được số lượng ứng dụng cài trên thanh Startup sẽ cải thiện tối đa tốc độ khởi động Windows của máy. Đầu tiên, bạn hãy khởi động tiện ích System Configuration Utilities của Windows bằng cách vào Start/Run và gõ msconfig vào ô Open. Sau đó, bạn chọn thẻ Startup và bạn sẽ thấy một danh sách dài những chương trình sẽ được kích hoạt khi Windows khởi động. Click bỏ chọn những chương trình không cần thiết.

5. Đổi tên "Recycle Bin" (Thùng rác):

Dùng NotePad soạn thảo file Recycle.reg với nội dung như sau: (Hãy dùng lệnh coppy để đảm bảo chính xác!)

Windows Registry Editor Version 5.00

[HKEY_CLASSES_ROOT\CLSID\{645FF040-5081-101B-9F08-00AA002F954E}\ShellFolder]
"Attributes"=hex:70,01,00,20
"CallForAttributes"=dword:00000040

Chạy file vừa tạo để nhập dữ liệu vào Registry. Từ giờ trở đi bạn có thể thoải mái đổi tên của Recycle Bin.

------------------------
Vũ Sơn Tùng
[email protected]

Bài viết này được chỉnh sửa bởi sunflower: 28 March 2007 - 02:18 PM

Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#16
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
1. Cài đặt WinXP tự động:

Trước tiên là một số quy ước:
- Hệ điều hành (HĐH) ở đây chỉ đề cập đến Windows của Microsoft
- Ổ cứng được chia làm 2 phân vùng là C:\ và D:\
- Ổ CD chứa đĩa cài đặt là E:\
- HĐH đươc cài đăt lên phân vùng C:\
- Các hệ điều hành được cài đặt từ DOS.
Các bạn nên chú ý đến quy ước này để có thể thay đổi cách làm cho phù hợp với cấu hình thực tế và nhu cầ̀u của mình.
Một lần nữa xin nhắc lại, bài viết này chỉ đề cập đến việc làm thế nào để công việc cài đặt HĐH đơn giản và nhanh chóng hơn, chứ không đề cập cập đến các thao tác cài đặt một HĐH như thế nào.
- Cài đặt tự động:
Trước tiên, chép bộ cài đặt (đĩa Windows) lên một thư mục trên máy.
Tạo file "msbatch.txt", với nội dung như sau: (Hãy coppy để không có sai sót nhé!)

;SetupMgrTag

[Data]
AutoPartition=1 (Đây là khu vực cài Windows. C:\ = 1, D:\ = 2... Tùy theo định dạng HDD của bạn)
MsDosInitiated="0"
UnattendedInstall="Yes"

[Unattended]
UnattendMode=FullUnattended
OemSkipEula=Yes
OemPreinstall=Yes
TargetPath=\WINDOWS

[GuiUnattended]
AdminPassword=*
EncryptedAdminPassword=NO
OEMSkipRegional=1
TimeZone=205
OemSkipWelcome=1

[UserData]
ProductKey=xxxxx-xxxxx-xxxxx-xxxxx-xxxxx ( Nhập vào CD-Key)
FullName="(Tên của bạn)"
OrgName="(Tên cơ quan)"
ComputerName=VUSONTUNG

[SetupMgr]
DistFolder=D:\windist
DistShare=windist

[Identification]
JoinWorkgroup=WORKGROUP

[Networking]
InstallDefaultComponents=Yes

Coppy file vừa tạo vào thư mục chứa bộ cài đặt (cùng cấp với setup.exe).
Do dòng lệnh khá dài, nên bạn có thể tạo thêm một file nữa để chạy nhanh hơn. Bạn mở NotePad lên, nhập vào dòng lệnh sau: i386\winnt /s:i386 /u:msbatch.txt
Lưu lại với tên caidatxp.bat, rồi coppy vào thư mục cùng với file msbatch.txt ở trên.
Ghi toàn bộ file trong thư mục cài đặt đó vào một CD. Và thực hiện cài đặt khi cần.
#Trong trường hợp bạn không có ổ CD-RW, hãy liên hệ với tôi để có thể sử dụng FDD thay thế.

2. Ghi 4 GB dữ liệu vào đĩa CD 650 MB:


Phần mềm CDImage GUI Beta 3 của CyBerian cho chép bạn tạo ra tập tin hình ảnh ISO của đĩa CD từ nội dung trên đĩa cứng rồi sau đó dùng một trong các chương trình ghi đĩa có hỗ trợ ghi ISO như Nero BurningROM để tạo ra đĩa CD.
Ta cũng biết bảng phân phối tập tin nằm ở vị trí đầu đĩa chứa tất cả thông tin về cấu trúc tập tin và thư mục trên đĩa, bây giờ giả sử nếu có hai (hoặc nhiều hơn) mục nhập (entry) cùng trỏ đến một nội dung trên đĩa (nghĩa là chứa cùng địa chỉ) thì khi xem đĩa bằng chương trình quản lý tập tin kiểu Windows Explorer ta sẽ thấy có hai tập tin nằm ở hai thư mục khác nhau, nhưng thật ra đĩa chỉ chứa một tập tin duy nhất. Như vậy, nếu ta có thể can thiệp vào bảng phân phối tập tin này thì việc lưu trữ 10 tập tin 600MB giống nhau trên đĩa CD chỉ là chuyện... nhỏ.
Và việc sử dụng phần mềm CDImage GUI với tùy chọn “-o optimize storage by encoding duplicate files only once” chính là giải pháp. Trước tiên bạn phải chép tất cả tập tin và thư mục muốn đưa lên đĩa CD vào một thư mục nào đó trên đĩa cứng. Tiếp đến, bạn chạy chương trình CDImage GUI.
Mục StartUp:
- Thẻ Directories: bạn nhập đường dẫn đến thư mục chứa bộ nguồn (Ví dụ: D:\Download\TuoitreOnline) và đường dẫn kèm tên tập tin hình ảnh ISO sẽ được tạo ra (Ví dụ: C:\Download\TuoitreOnline.iso) vào ô Please specify the Root Dir of your CD và Please specify a Path and Filename for the Iso File, hoặc cũng có thể nhấp vào nút rồi chọn đến từng vị trí tương ứng.
- Thẻ Config:
+ Chọn Use internal CdImage (V.2.47) nếu muốn dùng chương trình CdImage được tích hợp sẵn trong phần mềm.
+ Chọn Use external CdImage nếu muốn sử dụng chương trình CdImage của riêng bạn, khi chọn tùy chọn này bạn sẽ phải nhập đường dẫn đến tập tin cdimage.exe vào trong ô Select your CDImage.Exe.
Tại thẻ này, bạn có thể đánh dấu chọn mục Save your Settings on Exit để chương trình tự động lưu lại những thay đổi của bạn nhằm áp dụng cho lần chạy sau.
Mục Configuration:
- Thẻ Files:
+ “-t time stamp for all files and directories, no spaces, any delimiter”: cập nhật ngày tháng tạo tập tin và thư mục cho toàn bộ nội dung đĩa dựa vào ngày tháng bạn nhập trong ô bên dưới, theo dạng [tháng/ngày/năm, giờ:eeeút:giây].
+ “-g encode GMT time for files rather than local time”: mã hóa dạng ngày giờ tại máy tính cục bộ theo dạng GMT.
+ “-h include hidden files and directories”: đưa tất cả tập tin và thư mục ẩn có trong thư mục bộ nguồn vào luôn trong tập tin hình ảnh ISO.
- Thẻ FileSystem:
+ “-n allow long filenames (longer than DOS 8.3 names)”: giữ lại cấu trúc tên tập tin theo dạng dài, nếu không chọn tùy chọn này thì tất cả tên tập tin trong hình ảnh ISO sẽ bị chuyển thành dạng 8.3 như của DOS.
+ “-nt allow long filenames, restricted to NT 3.51 compatibility”: giữ tên tập tin dài theo chuẩn của Windows NT 3.51.
+ “-d don’t force lowercase filenames to uppercase”: không tự động chuyển tên tập tin chữ thường thành chữ hoa.
- Thẻ Boot: nếu bạn muốn đĩa CD có thể khởi động được thì hãy đánh dấu vào “-b “El Torito” boot sector file, no spaces” rồi nhập đường dẫn đến tập tin .BIN có chứa vùng khởi động vào ô bên dưới, bạn cũng có thể nhấn nút rồi tìm đến tập tin tương ứng.
- Thẻ Signature / CRC:
+ “-o optimize storage by encoding duplicate files only once”: tối ưu hóa dung lượng đĩa bằng cách tìm những tập tin giống nhau trong bộ nguồn rồi thay đổi địa chỉ của các mục nhập trên bảng phân phối tập tin để chúng cùng trỏ đến một tập tin duy nhất.
+ “-os show duplicate files while creating image”: hiển thị các tập tin trùng nhau khi tạo tập tin hình ảnh ISO.
- Thẻ Report:
+ “-w1 report non-ISO or non-Joliet compliant filenames or depth”: báo cáo cấp độ sâu hoặc tên những tập tin không theo chuẩn ISO hay Joliet.
+ “-w2 report non-DOS compliant filenames”: báo cáo những tập tin có tên không theo chuẩn DOS.
+ “-w3 report zero-length files”: báo cáo những tập tin có kích thước bằng 0.
- Thẻ Creation:
+ “-m ignore maximum image size of 681,984,000 bytes”: cho phép tạo ra tập tin hình ảnh ISO lớn hơn 681MB.
+ “-l volume label, no spaces (e.g. –lMYLABEL)”: tạo nhãn cho đĩa CD.
Mục Creation: sau khi bạn nhấn nút Start Image Creation, chương trình bắt đầu đọc thư mục chứa bộ nguồn trên đĩa cứng, phân tích các tập tin trong ấy rồi dựa vào những tùy chọn trong Configuration để tạo ra tập tin hình ảnh ISO.
Chương trình miễn phí, dung lượng 640KB, tương thích với mọi Windows, vào đây (www.nguyenhongphuc.com) để download chương trình (Không có đường dẫn, các bạn chịu khó vào tìm nhé!).

3. Điều chỉnh tốc độ CPU trong Win XP:

Đôi khi bạn mua một con CPU ví dụ P4 2.4GHz nhưng khi vào Windows XP xem thì lại thấy chỉ có 957MHz. Vậy có chuyện gì xảy ra với con CPU của bạn vậy? Một đặc điểm của Win XP là tự động chuyển đổi tốc độ của vi xử lý và điện thế của CPU. Vì vậy, đối với những CPU mà có thể làm giảm tốc độ thì đôi khi Win XP sẽ không chạy đúng tốc độ thực của nó.
Cách giải quyết là bạn hãy kiểm tra mục Power Options trong Control Panel. Trong phần Power Schemes chọn Home/Office Desk hay Always On. Khi ấy Win XP sẽ trả lại thông số thực của CPU.

4. Phục hồi phong độ cho PC bằng 5 thủ thuật nhanh gọn:

A> Sau một thời gian dài làm việc căng thẳng, đã đến lúc phải phục hồi phong độ cho PC của bạn. Sau đây là 6 biện pháp nhanh gọn và không tốn kém để duy trì khả năng hoạt động tốt cho hệ thống.

B> Ngăn ngừa các ổ đĩa ngủ gật: Tiện ích ScanDisk đáng tôn kính trong Windows 98 và Me được thu gọn thành một phần của hộp thoại mang nhãn "Error-checking" trong Windows 2000 và XP, nhưng nó vẫn là một công cụ rất tốt cho việc xác định các sector hỏng và kiểm tra sức khỏe của ổ đĩa. Trong 98 và Me, bạn nhấn Start.Progams.Accessories.System Tools.ScanDisk. Chọn tùy chọn Thorough và nhấn Start. Theo thông báo, bạn để cho ScanDisk tự động sửa các lỗi mà nó tìm thấy. Để quét một ổ đĩa trong Windows 2000 và XP, bạn nhấn phải biểu tượng của ổ đĩa trong Windwos Explorer hoặc trong một cửa sổ folder bất kỳ, rồi chọn Properties.Tools.Check Now. Chọn Automatically fix file system errors và nhấn Start.

C> Dọn sạch rác rưởi: Đã đến lúc phải quét sạch các tập tin tạm đang dồn đống trong hệ thống của bạn. Nhấn Start.Programs (All Programs trong XP). Accessories.System Tools.Disk Cleanup. Chọn ổ đĩa và nhấn OK. Đánh dấu chọn hoặc bỏ chọn đối với các tùy chọn, nhấn OK và nhấn Yes.

D> Xoá các driver ăn theo vô tác dụng: Khi lắp thêm phần cứng mới hoặc cập nhật các driver, Windows có thể tạo hai khoản mục Registry cho một thiết bị hoặc không thành công trong việc xóa khoản mục ứng với bộ phận đã loại bỏ. Để xóa các khoản mục Registry nhân bản hoặc không cần thiết này, bạn nhấn phải My Computer và chọn Properties. Trong Windows 98 và Me, bạn nhấn lên nhãn Device Manager. Trong Windows 2000 và XP, bạn nhấn lên nhãn Hardware rồi nhấn nút Device Manager. Bạn nhấn đúp lên một loại thiết bị để biết các thiết bị đã được cài đặt của nó, và nhấn đúp lên một thiết bị để duyệt các driver của nó. Loại bỏ các khoản mục trùng hoặc không cần thiết bằng cách chọn chúng rồi ấn phím.

E> Nâng cao tốc độ tập tin tráo đổi: Bộ nhớ ảo (tập tin tráo đổi) của bạn sẽ chạy nhanh nhất nếu nó không bị cắt vụn. Tuy nhiên, Disk Defragmenter không hoạt động trên các tập tin tráo đổi. Nếu có đĩa cứng thứ hai hoặc một ổ đĩa với 2 partition thì tiến hành dồn đĩa đối với partition hoặc ổ đĩa nào không chứa tập tin tráo đổi, rồi sau đó chuyển tập tin tráo đổi sang ổ đĩa hoặc partition đó. Để tối ưu hóa bộ nhớ ảo trong Windows XP, bạn nhấn Start.Control Panel (chọn Performance and Maintenance nếu bạn đang ở chế độ xem Category).System.Advanced. Bên dưới Performance chọn Settings và chọn Advanced.Change. Chọn một ổ đĩa trong hộp trên cùng và nhấn Custom size (xem hình 1). Trong Windows 2000, bạn nhấn Start.Settings.Control Panel.System.Advanced.Performance Options.Change. Trong Windows 98 và Me, chọn Start.Settings.Control Panel.System.Performance.Virtual Memory. Chọn Let me specify my own virtual memory settings. Tập tin tráo đổi của bạn phải lớn gấp 2,5 đến 3 lần dung lượng RAM hệ thống. Nhập con số này vào cả hai hộp "Minimum" và "Maximum" (trong 2000 và XP là "Initial size" và "Maximum size"). Nhấn OK và Yes (nếu cần) để chấp nhận thay đổi này.

5. Thêm một số phương pháp tăng tốc độ PC:

a) Bạn nhấp chuột phải vào biểu tượng My Computer, chọn Properties, chọn thẻ Advanced. Tại Performance, nhấp vào Settings, trong thẻ Visual Effects, bỏ đánh dấu tất cả các lựa chọn và chỉ để lại ba lựa chọn cuối là:
- Use common tasks in folders
- Use drop shadows for icon labels on the desktop
- Use visual styles on windows and buttons

:eee Tăng tốc Start Menu – Windows XP
Chạy Regedit từ Start\Run
Tìm đến khóa Hkey_Current_User\Control Panel\Desktop
Thay đổi value của key Menu ShowDelay thành 0
Khởi động lại máy và xem kết quả

c) Tăng tốc độ shutdown
Bạn chọn Start/ Run, gõ lệnh regedit rồi nhấn OK hay Enter.
- Trong cửa sổ Registry Editor, bạn mở dần theo đường dẫn:
HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop.
- Thay đổi giá trị của các key như sau (bằng cách nhấp chuột phải lên tên từng key, chọn lệnh Modify trên menu chuột phải, điền giá trị mới vào hộp Value data của hộp thoại Edit String rồi nhấn OK):
AutoEndTasks=1 (Giá trị key AutoEndTasks là 1 sẽ tự động “giết” các chương trình đang treo cho bạn. Thời gian chờ để khử các ứng dụng được giảm còn 4000 (mặc định tới 20000).
HungAppTimeout=5000
MenuShowDelay=00000000 (mặc định là 400)
WaitToKillAppTimeout=4000 (mặc định là 20000)
WaitToKillServiceTimeout=4000 (mặc định chưa có)
- Bạn cũng cần giảm thời gian “giết” các dịch vụ Windows XP xuống tương đương. Nhưng cần phải tạo thêm key này bằng cách click chuột phải lên nền cửa sổ bên phải. Chọn trong menu pop-up lệnh New/String Value. Nhấp chuột phải lên key mới xuất hiện có tên “New Value #1”, chọn Rename và đổi thành WaitToKillServiceTimeout. Nhấp chuột phải lên tên này, chọn Modify và xác lập giá trị Value data của nó thành 4000, nhấn OK.
- Sau đó, bạn “xử” tiếp cái khoản thứ hai. Mở theo đường dẫn:
HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control
- Nhấp chuột phải lên tên WaitToKillServiceTimeout, chọn Modify và xác lập giá trị của nó là 4000, nhấn OK.
- Thoát khỏi Registry Editor và restart lại máy cho các giá trị mới có hiệu lực.

d) Tăng tốc khởi động Windows XP
Sau một thời gian vọc Windows XP tôi đã tìm ra được một số thư mục có thể xóa được và không ảnh hưởng gì tới Windows mà còn làm Windows khởi động nhanh hơn nhiều.
1.C:\WINDOWS\DOWNLOADED INSTALLATION xóa nó đi không ảnh hưởng gì cả.
2.C:\WINDOWS\DRIVER CACHE (hoặc trong system32\drivercache) làm giảm quá trình khởi động của XP thì việc gì mà không xóa nó đi.
3.C:\WINDOWS\SYSTEM32\DLLCACHE cũng thế xóa nó còn tiết kiệm được vài trăm MB (chỉ với XP Pro)
4.C:\ WINDOWS\REGISTEREDPACKAGES hãy xóa toàn bộ tệp tin và thư mục trong đó, tốc độ tăng đáng kể.
5.C:\WINDOWS\PREFETCH xóa hết các tệp tin trong đó tốc độ nhanh hơn khoảng 5->7 giây.
6.C:\WINDOWS\REPAIR cũng không thật cần thiết hãy xóa tất cả những gì trong đó thì tốt hơn.
7.C:\WINDOWS\SYSTEM32\REINSTALLBACKUPS xóa hết nó đi chỉ mất dung lượng mà không được gì.
8. Ngoài ra người nào hay Update XP tren mạng thi trong C:\WINDOWS sẽ tự động tạo ra một thư mục có tên là LASTGOOD thực chất thì thư mục này sao lưu những gì của Windows bao gồm DRIVECACHE, SYSTEM32... xóa nó đi mà không ảnh hưởng gì, tiết kiệm được vài trăm MB đấy.

6. Tối ưu hoá bộ nhớ đệm (Cache):

Với các ứng dụng đòi hỏi nhiều bộ nhớ như hiện nay thì chắc chắn bạn phải lo tìm cách nào đó có thể giúp bạn làm việc nhanh hơn. Bộ nhớ Cache có thể giúp bạn điều này mà không phải quan tâm nhiều đến đĩa cứng. Cache là một bộ nhớ đặc biệt có tốc độ truy xuất rất nhanh.
Do đọc dữ liệu từ cache nhanh hơn đọc từ đĩa cứng nên tốc độ của cả hệ thống cũng như của ứng dụng tăng đáng kể. Nói cách khác, bộ nhớ cache được thiết kế để giảm truy cập vào đĩa cứng. Nếu RAM của bạn có 32MB hoặc nhiều hơn, bạn hãy thử thiết đặt kích thước của bộ nhớ cache theo một số lượng cố định. Ví dụ như đặt 4MB cho hệ thống có RAM dưới 48MB, và 8MB cho hệ thống có 48MB trở lên. Dưới đây là cách thiết đặt.
- Chạy SysEdit bằng cách chọn Run từ menu Start, gõ SysEdit trong ô trắng và ấn Enter.
- Nhắp vào cửa sổ system.ini. Cuộn xuống chỗ [vcache].
- Nếu bạn không nhìn thấy, bạn gõ [vcache] trên một dòng mới:

[mci]

cdaudio=mcicda.drv
sequencer=mciseq.drv
waveaudio=mciwave.drv
avivideo=mciavi.drv
videodisc=mcipionr.drv
vcr=mcivisca.drv
MPEGVideo=mciqtz.drv

[vcache]

[MSNP32]

- Nếu bạn có 48MB RAM hoặc ít hơn, bạn gõ hai dòng lệnh:

MinFileCache=0
MaxFileCache=4096

- Nếu bạn có nhiều hơn 48MB RAM, bạn gõ hai dòng lệnh sau:

MinFileCache=0
MaxFileCache=8192

Đóng SysEdit, ghi lại sự thay đổi này và khởi động lại Windows.

7. Thay đổi đường dẫn mặc định của thư mục Program Files:

Thư mục Program Files thường nằm chung với ổ đĩa cài đặt hệ điều hành, và mỗi khi cài đặt một chương trình mới vào máy tính, chúng thường được mặc định cài vào Program Files. Nếu bạn có nhiều ổ đĩa và ổ chứa thư mục Program Files quá đầy, bạn có thể chuyển đường dẫn của thư mục này sang ổ đĩa khác để những lần cài đặt sau các chương trình sẽ được mặc định cài sang ổ mới. Cách thực hiện như sau: vào Start\ Run > gõ regedit > OK. Trong cửa sổ Registry Editor bạn tìm đến khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft
\Windows\CurrentVersion, bấm đúp chuột lên giá trị ProgramFilesDir ở khung bên phải. Trong cửa sổ Edit String, nhập vào đường dẫn mới cho thư mục Program Files. Nhập xong bấm OK, đóng Registry Editor, log off hoặc khởi động lại máy tính.

----------------------------
Vũ Sơn Tùng
[email protected]
Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#17
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
I - 15 thủ thuật cơ bản với Windows XP:

(Bài viết này dựa trên những tính năng của phiên bản Microsoft Windows XP Service Pack1 - Professional 2003. Các phiên bản khác, nhất là bản Home, có thể không giống chút ít.).Chuyển sang dùng Windows XP (XP) từ Windows 95/98 (Win9x) cũng giống như chuyển sang dùng Windows 95 từ Windows 3.1 vài năm trước đây. XP được xây dựng trên nền tảng của Windows NT và 2000 vốn có độ ổn định cao hơn nhiều so với Win9x. Ngoài ra, XP cũng sử dụng hệ thống file gống như của NT và 2000. Điều này khiến cho XP trở thành một hệ điều hành (HĐH) đa người dùng thực sự cho PC gia đình. Bài viết này cố gắng đưa ra một số thủ thuật nhằm giúp người dùng thông thường tận dụng một cách tốt nhất khả năng của HĐH này. (Nghe nói trong năm 2005 này bác Bill Gates sẽ xuất xưởng bản Việt hóa XP chính thức, hay quá! Tiện mời bà con vào đây để tìm hiểu vấn đề này nhé: www.microsoft.com/vietnam - tiếng Việt hẳn hoi đấy).

Thủ thuật 1: HÃY DÙNG HỆ THỐNG FILE NTFS

Thật may mắn, XP hỗ trợ cả 2 hệ thống file FAT32 (được Win9x hỗ trợ) và NTFS (được NT và 2000 hỗ trợ). Điều này cho phép người dùng lựa chọn hệ thống file phù hợp với yêu cầu công việc của mình. Tuy nhiên NTFS cung cấp những mức độ bảo mật tốt hơn nhiều so với FAT32. Với FAT32 trong Win9x, ai cũng có thể xâm nhập vào PC của bạn và làm bất cứ điều gì mà họ thích. Với NTFS, bạn có quyền cho hay không cho ai đó sử dụng máy tính của bạn. Và người được phép sử dụng PC của bạn cũng chỉ có thể hoạt động trong khuôn khổ mà bạn cho phép.

Để kiểm tra xem bạn đang dùng NTFS hay FAT32, chọn ổ đĩa cứng trong My Computer, nhấn chuột phải và chọn Properties. Nếu đang dùng FAT và muốn chuyển sang dùng NTFS, bạn hãy thực hiện việc chuyển đổi này từ dấu nhắc DOS trong XP mà không phải lo ngại gì về việc mất mát dữ liệu. Để chuyển đổi sang NTFS từ FAT, bạn chọn Start – All Programs - Accessories, and Command Prompt. Tại dấu nhắc, bạn gõ convert x: /fs:ntfs (x là tên ổ đĩa mà bạn chọn). Cũng cần lưu ý rằng, một khi đã chuyển sang NTFS, bạn sẽ không thể quay trở lại dùng FAT trừ phi bạn định dạng (format) lại ổ đĩa.

Thủ thuật 2: TẠO TÀI KHOẢN HẠN CHẾ

Có 2 loại tài khoản người dùng (user account) trong XP: tài khoản người quản trị hệ thống (administrator account) và tài khoản người dùng hạn chế (limited account). Sau khi cài đặt XP thành công, bạn nên ngay lập tức thiết đặt một tài khoản người dùng hạn chế để phục vụ cho các công việc hàng ngày nếu như bạn đang dùng hệ thống file NTFS.

Để tạo một tài khoản người dùng hạn chế, bạn phải đăng nhập vào tài khoản của người quản trị hệ thống (theo ngầm định XP tạo ra tài khoản này khi bạn cài đặt HĐH). Sau đó, chọn Start - Control Panel - User Accounts - Create A New Account. Đặt tên cho tài khoản mới này rồi nhấn Next. Trong hộp thoại mới, chọn Limited Account. Mỗi khi muốn tạo mới hay thay đổi thuộc tính của các tài khoản, bạn nhất quyết phải đăng nhập vào tài khoản người quản trị hệ thống.

Thủ thuật 3: SỬ DỤNG MẬT KHẨU

Sử dụng mật khẩu (password) là một hình thức bảo mật thông tin truyền thống và hiệu quả. Mặc dù Win9x có cung cấp cho bạn chế độ bảo vệ bằng mật khẩu, nhưng đối với đa số người dùng thì tính năng này không có một chút hiệu quả nào. Còn XP làm cho việc sử dụng mật khẩu thể hiện đúng ý nghĩa của nó.

Trong XP, việc bảo vệ các tài khoản bằng mật khẩu không có tính bắt buộc. Tuy nhiên, theo tôi, bạn nên sử dụng mật khẩu với các tài khoản, ít nhất là với tài khoản người quản trị hệ thống.

Theo ngầm định, XP coi tất cả các tài khoản người dùng tạo ra khi cài đặt HĐH là tài khoản người quản trị hệ thống và không yêu cầu mật khẩu khi người dùng đăng nhập vào hệ thống. Để thay đổi điều này, bạn cần phải tạo mật khẩu mới. Trong User Accounts, chọn Change An Account và nhấn vào tài khoản bạn muốn dùng mật khẩu để bảo vệ. Trong tài khoản này, chọn Create A Password và gõ mật khẩu 2 lần. Để việc sử dụng mật khẩu có hiệu quả hơn, theo chúng tôi bạn không nên dùng chế độ “gợi nhắc mật khẩu” (password hint) vì người dùng khác có thể căn cứ vào những gì bạn ghi ở đây để đoán ra mật khẩu của bạn. Sau khi nhấn nút Create Password, XP sẽ hỏi xem bạn có muốn để cho người dùng khác tiếp cận các thư mục và các file trong tài khoản của bạn hay không. Nếu muốn riêng tư hơn nữa, bạn hãy trả lời “KHÔNG” với câu hỏi nêu trên.

Thủ thuật 4: DỰNG TƯỜNG LỬA

Khác với các phiên bản trước, XP có kèm theo một chương trình tường lửa (Firewall) để bảo vệ bạn an toàn khi duyệt Web. Bức tường lửa này dường như là đáng tin cậy, bởi vì cho tới nay chưa thấy có người sử dụng nào phàn nàn về tính năng mới mẻ này trong XP

Có lẽ bạn đã từng tự hỏi: làm sao biết được bức tường đó đã được dựng lên chưa? Để kểm tra, bạn vào Control Panel - nhấn chuột phải vào biểu tượng Network Connections - chọn Properties - nhãn Advanced, và chọn Internet Connection Firewall.

Thủ thuật 5: CHẠY CHƯƠNG TRÌNH BẰNG QUYỀN CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ HỆ THỐNG

XP có chế độ Fast User Switching, chế độ cho phép người dùng chuyển đổi qua lại giữa các tài khoản mà không phải thoát ra và đóng các ứng dụng đang chạy. Để chế độ này hoạt động, bạn mở User Accounts và chọn Change The Way Users Log On Or Off. Trong hộp thoại mới bạn chọn cả Use The Welcome Screen và Use Fast User Switching.

Để chuyển đổi qua lại giữa các tài khoản người dùng, bạn chọn Start – Log Off - Switch User. Để chạy một chương trình với quyền của người quản trị hệ thống, bạn nhấn chuột phải vào biểu tượng của chương trình rồi chọn Run As. Trong hộp thoại mới, chọn tên của tài khoản quản trị hệ thống và nhập mật khẩu, và chương trình sẽ khởi động ngay lập tức. Bạn cũng cần lưu ý, có một số chương trình đòi hỏi bạn nhấn thêm phím Shift cùng với chuột phải.

Thủ thuật 6: CÁ NHÂN HOÁ THỰC ĐƠN START

So với các phiên bản trước, XP cung cấp nhiều khả năng thay đổi thực đơn Start hơn. Bạn có thể thêm, bớt hay thay đổi theo ý mình bất cứ thành phần nào của thực đơn Start. Để làm điều này, bạn nhấn chuột phải vào thực đơn Start và chọn Properties. Trong hộp thoại Task Bar and Start Menu Properties, nhấn nút Customize. Tại đây, bạn có thể lựa chọn dùng biểu tượng to hay nhỏ, cho phép hiển thị bao nhiêu chương trình vừa chạy, và đưa chương trình duyệt Web cùng chương trình e-mail ưa thích vào thực đơn Start. Trong nhãn Advanced bạn có thể chọn cách mà những thành phần như My Documents, My Computer, và Control Panel vv... xuất hiện cũng như nhiều tuỳ chọn khác mà bạn không thể có được ở các phiên bản Windows trước đây.

Nếu như không thích cách mà thực đơn Start của XP xuất hiện, bạn có thể quay trở về với thực đơn truyền thống bằng cách chọn Classic Start Menu trong hộp thoại Task Bar and Start Menu Properties.

Thủ thuật 7: SỬ DỤNG TÍNH NĂNG KHÔI PHỤC HỆ THỐNG

Giống như Windows ME, XP cũng cung cấp khả năng khôi phục hệ thống về điểm trước một sự kiện này đó (cài đặt mới phần mềm hoặc xung đột hệ thống...) Để tạo một mốc khôi phục, bạn mở (All) Programs trong thực đơn Start, chọn Accessories - System Tools - System Restore. Trong cửa sổ System Restore, nhấn Create A Restore Point, nhấn Next, nhập tên cho điểm khôi phục hệ thống, rồi nhấn Create. Để đưa hệ thống trở lại một thời điểm nào đó, trong cửa sổ System Restore, chọn Restore My Computer To An Earlier Time, rồi chọn một điểm phù hợp để tiến hành khôi phục hệ thống. Sau khi nhấn Next 2 lần, hệ thống của bạn sẽ bắt dầu khôi phục về thời điểm bạn chọn. Quá trình này chỉ hoàn tất sau khi HĐH tự khởi động lại.

Thủ thuật 8: KHÔNG CẦN CHỈNH LẠI ĐỒNG HỒ


Người dùng PC thường phàn nàn về việc đồng hồ hệ thống chạy sai sau một khoảng thời gian nào đó, và phải chỉnh sửa lại thời gian cho đúng một cách thủ công. Điều này sẽ không thể xảy ra trong XP nếu bạn thực hiện các bước sau để đồng bộ hoá đồng hồ hệ thống với đồng hộ quốc tế (với điều kiện bạn có kết nối Internet).

Bạn đăng nhập vào tài khoản quản trị hệ thống, kết nối Internet, rồi nhấn đúp vào biểu tượng đồng hồ trên thanh công cụ. Chọn nhãn Internet Time trong hộp thoại Date and Time Properties. Đánh dấu kiểm vào Automatically Synchronize With An Internet Time Server và chọn một đồng hồ thích hợp từ thực đơn thả xuống, rồi nhấn nút Update Now.

Thủ thuật 9: KIỂM TRA TÍNH TƯƠNG THÍCH

Không phải chương trình nào cũng chạy tốt trong XP. Nếu không rõ về tính tương thích, bạn hãy thử dùng Program Compatibility Wizard. Chọn Start - All Programs – Accessories - Program Compatibility Wizard.

XP cung cấp cho bạn nhiều khả năng để thử tính tương thích của chương trình. Nếu chương chình chạy tốt ở một điều kiện nào đó, XP sẽ gợi ý bạn dùng các thiết đặt phù hợp nhất để chạy chương trình. Tất nhiên, XP cũng cho bạn biết liệu chương trình có hoạt động cùng HĐH không.

Thủ thuật 10: TẠO ĐĨA MỀM KHỞI ĐỘNG CHO XP

Tạo một đĩa khởi động trong Win9x không hề khó khăn chút nào. Nhưng Microsoft đã loại bỏ tính năng này trong Win 2000 và XP. Bạn cần có một đĩa mềm khởi động để khôi phục lại hệ thống trong các trường hợp như hỏng rãnh khởi động (boot sector), hỏng bảng ghi khởi động chính (Master Boot Record), bị nhiễm virus, mất hoặc hỏng file NTLDR, NTDETECT.COM, hoặc để khởi động trong trường hợp XP không thể khởi động được cả ở chế độ Safe Mode.

Để tạo đĩa mềm khởi động trong XP (và Win2000), bạn làm như sau: Chuẩn bị một đĩa mềm đã được định dạng. Chuyển tới ổ đĩa C:\, chép các file sau boot.ini, ntldr, ntdetect.com, bootsect.dos, NTBOOTDD.SYS (nếu có) sang đĩa mềm.

Thủ thuật 11: THIẾT ĐẶT LẠI BỘ NHỚ ẢO

Cho dù bạn có bao nhiêu RAM đi nữa thì Windows vẫn tạo ra thêm bộ nhớ ảo (paging files) trên đĩa cứng để tối ưu hóa hoạt động của hệ thống. Tối ưu hóa các file paging bằng cách cố định dung lượng sẽ làm cho tốc độ tìm dữ liệu trên đĩa cứng nhanh hơn, HĐH cũng không phải đặt lại dung lượng bộ nhớ ảo, giảm thiểu quá trình phân mảnh, và tiết kiệm được đĩa cứng.

Để biết bạn cần dành bao nhiên megabyte cho bộ nhớ ảo, bạn hãy chạy một số chương trình thường dùng, rồi mở Task Manager (nhấn Ctrl – Alt – Del), nhấn vào nhãn Performance, và xem số megabyte ở khung Commit Charge là bao nhiêu. Đây là số lượng bộ nhớ mà hệ thống của bạn cần lúc này. Dung lượng bộ nhớ ảo tối thiểu sẽ là số megabyte này cộng thêm với 32 MB (nhưng nhiều người cộng thêm với 64 MB). Thiết đặt hợp lý nhất là dung lượng tối thiểu và tối đa của bộ nhớ ảo phải bằng nhau để XP không đặt lại dung lượng bộ nhớ này nữa.

Để thực hiện việc đặt lại dung lượng bộ nhớ ảo, bạn nhấn chuột phải vào My Computer, chọn Properties – nhãn Advanced - nhấn vào Settings của khung Performance - chọn Advanced trong hộp thoại Performance Options. Bạn nhấn tiếp vào nút Change - chọn ổ đĩa thích hợp - nhập dung lượng bộ nhớ ảo tối thiểu và tối đa, rồi nhất Set. Bạn lặp lại các bước nêu trên với các ổ đĩa còn lại và các thay đổi sẽ có hiệu lực sau khi hệ thống khới động lại.

Thủ thuật 12: SỬ DỤNG SYSTEM CONFIGURATION UTILITY

Nếu bạn không muốn một chương trình nào đó khởi động cùng với XP, muốn tăng tốc độ khởi động của HĐH, muốn loại bỏ những dịch vụ hệ thống không cần thiết, muốn tìm hiểu những trục trặc của hệ thống... và nhiều điều khác, thì bạn hãy sử dụng tiện ích System Configuration.

Nếu đã sử dụng Win 98 và khai thác tính năng System Configuration Utility thì bạn có thể băn khoăn tại sao XP lại không có tính năng tuyệt vời này. Câu trả lời là XP có nhưng Microsoft không để tiện ích này trong System Information vì không muốn người sử dụng can thiệp quá sâu vào hệ thống.

Muốn khởi động System Configuration Utility, bạn chọn Start – Run – gõ “msconfig” hoặc chọn Start - Help and Support - chọn Use Tools to view your computer information and diagnose problems trong cửa sổ mới. - dưới hộp Tools, chọn System Configuration Utility.

Thủ thuật 13: SỬ DỤNG TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ CỦA WINDOWS

Nếu bạn không hiểu bản chất một thuật ngữ chuyên ngành nào đó, và bạn không tìm thấy hoặc không thỏa mãn với giải thích của các từ điển khác, thì từ điển thuật ngữ của XP (Windows Glossary) có thể làm bạn hài lòng.

Để sử dụng từ điển, bạn chọn Start – Help and Support – nhấn vào bất kỳ một chủ đề nào dưới Pick A Help Topic – Windows Glossary - gõ thuật ngữ cần được giải thích vào hộp Search. Bạn cũng có thể chọn Start – Help and Support – gõ thuật ngữ cần được giải thích vào hộp Search và XP sẽ liệt kê một số thành phần liên quan tới thuật ngữ đó, bao gồm cả từ điển (Glossary). Và tất nhiên, bạn phải thật siêu về English! (Nghe nói trong năm 2005 này bác Bill Gates sẽ xuất xưởng bản Việt hóa XP chính thức, hay quá! Tiện mời bà con vào đây để tìm hiểu vấn đề này nhé: www.microsoft.com/vietnam - tiếng Việt hẳn hoi đấy).

Thủ thuật 14: LOẠI BỎ MSN MESSENGER

Rất nhiều người sử dụng XP không dùng và cũng không thích dịch vụ MSN Messenger. Rất tiếc Microsoft lại không nghĩ vậy, và thậm chí còn không cung cấp cách gỡ cài đặt chương trình này, Tuy nhiên, vẫn có cách để không phải khó chịu với MSN Messenger. Bạn làm như sau: Tìm tới file SYSOC.INF trong thư mục Windows\INF (chú ý: cả file và thư mục đều ở chế độ Hidden). Mở file này bằng Notepad, tìm tới dòng msmsgs=msgrocm.dll,OcEntry,msmsgs.inf,hide,7 và xóa chữ “hide” đi. Lưu file và khởi động lại PC, rồi tìm tới Control Panels - Add and Remove Programs – Add/Remove Windows Components. Lúc này tùy chọn cho phép gỡ cài đặt MSN Messenger đã xuất hiện.

Nếu cách trên hơi rắc rối và đang sử dụng bản XP Professional (Chuyên nghiệp), thì bạn hãy làm theo cách sau: chọn Start – Run – gõ GPEDIT.MSC để mở Group Policy - chọn Computer Configuration - Administrative Templates - Windows Components - Windows Messenger. Tại đây, bạn có thể ngăn dịch vụ này hoạt động hoặc lựa chọn cho phép nó hoạt động theo yêu cầu của bạn. Theo cách này, bạn cần lưu ý, mặc dù dịch vụ đã bị vô hiệu hóa, nhưng một số chương trình khác của Microsoft (Outlook, Outlook Express) vẫn có thể khiến dịch vụ hoạt động.

Thủ thuật 15: TĂNG TỐC CHO XP

Mở Registry Start – Run – gõ regedit và tìm tới khóa: HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft
\Windows\CurrentVersion\Explorer\RemoteComputer\NameSpace. Chọn nhánh {D6277990-4C6A-11CF-8D87-00AA0060F5BF} và xóa nó đi. Tuy nhiên, trước khi xóa nhánh này bạn nên sao lưu lại phòng trường hợp hệ thống có vấn đề. Để làm việc này, bạn nhấn chuột phải vào nhánh cần sao lưu, và chọn Copy Key Name rồi lưu vào một file văn bản.

Khóa trên đòi hỏi XP phải tìm kiếm tất cả các chương trình làm việc theo lịch (Scheduled Tasks). Điều này khiến cho tốc độ duyệt của XP bị chậm lại. Mặc dù thủ thuật trên nhằm tăng tốc độ duyệt cho các hệ thống chạy Win2000 và XP trong mạng LAN, nhưng nó cũng cải thiện tốc độ duyệt một các bất ngờ cho Windows ngay trên máy trạm. Thay đổi này có tác dụng tức thì và chúng ta có thể cảm nhận được sự cải thiện tốc độ ngay lập tức.

II - Thay đổi kiểu dáng các Controls trong Windows XP:

Khi bạn dùng hệ điều hành Windows XP thì các control (điều khiển) như button (nút nhấn), check box (hộp kiểm), scroll bar (thanh cuộn)... se có hình dáng theo kiểu của Windows XP rất đẹp. Nhưng đa số các phần mềm cài thêm vào vẫn dùng các control kiểu cũ, kể cả một số phần mềm của Microsoft như bộ Office. Vậy làm thế nào để các control này có hình dáng như cac control của Windows XP? Dưới đây là cách “ép” các control trong các phần mềm có hình dáng theo WinXP:

Cách thực hiện:

Vào menu Start\ Run, gõ notepad rồi OK để mở chương trình NotePad. Nếu không có NotePad, bạn có thể sử dụng một phần mềm soạn thảo tập tin văn bản bất kỳ rồi soạn đoạn mã sau vào, sau đó lưu lại với tên trùng với tên của chương trình muốn thay đổi kiểu control, có phần mở rộng là .exe.manifest (ví dụ thay đổi MS Access: tên tập tin thi hành của MS Access là msaccess.exe thì bạn lưu đoạn mã dưới với tên msaccess.exe.manifest, rồi đặt tập tin này nằm chung thư mục với tập tin msaccess.exe).

Nội dung tập tin văn bản:

<?xml version="1.0" encoding="UTF-8" standalone="yes"?>
<assembly xmlns="urn:schemas-microsoft-com:asm.v1" manifestVersion="1.0">
<assemblyIdentity
version="1.0.0.0"
processorArchitecture="X86"
name="CompanyName.ProductName.YourApp"
type="win32"
/>
<description>Your application description here.</description>
<dependency>
<dependentAssembly>
<assemblyIdentity
type="win32"
name="Microsoft.Windows.Common-Controls"
version="6.0.0.0"
processorArchitecture="X86"
publicKeyToken="6595b64144ccf1df"
language="*"
/>
</dependentAssembly>
</dependency>
</assembly>

Lưu ý: Có thể sẽ có một số phần mềm báo lỗi hoặc không khởi động được nếu bạn áp dụng cách này. (Lúc đó đừng có nói gì tôi nhé!)

III - Không cho phép thay đổi những thiết lập (Settings) của bạn:

Nếu như bạn không muốn cho bất kỳ người nào thay đổi những thiết lập của mình trên màn hình desktop, vị trí của các icon, theme, kích thước của taskbar..., bạn có thể sử dụng thủ thuật sau để Windows XP không lưu lại những thay đổi sau khi người dùng shutdown hay log off. Chọn Start\Run, gõ vào gpedit.msc và nhấn Enter để mở Group Policy. Vào khung bên trái, chọn User Configuration\ Adminisrtative Templates\ Desktop. Nhấn phím phải chuột vào "Don’t save setting at exit" ở khung bên phải rồi chọn Properties. Sau đó chọn Enabled và nhấn OK hay Apply để tùy chọn này được kích hoạt. Dĩ nhiên chính bạn cũng sẽ chẳng thay đổi được nếu không vào lại chỗ đó và Disable nó đi. Nói chung là biết vậy thôi, chứ không nên kích hoạt tính năng này. Vì có thể vào một buổi sáng nào đó khi bật máy tính lên, bạn sẽ thấy một số thiết lập của mình làm cho máy tính đẹp ơi là đẹp chả có tác dụng nữa. Khi đó lại réo tên tôi lên chửi, làm tôi hắt xì, học thế nào được. Hihi! Chúc mọi người thành công!!!

------------------------
Vũ Sơn Tùng
[email protected]
Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#18
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
I/ Phục Hồi Mật Khẩu Windows (phá khóa):

Sau khi cài đặt, Windows NT/2000/XP/2003 luôn luôn tạo một tài khoản mặc định có quyền cao nhất là Administrator (Quản trị). Việc cài đặt mật khẩu đăng nhập cho tài khoản này sẽ giúp bảo mật hệ thống có hiệu quả. Nhưng nếu một ngày “xấu trời” nào đó bạn quên mất mật khẩu này thì sao? Hoặc một lí do nào đó khiến bạn không thể gõ đúng mật khẩu? Một số lời khuyên là cài lại Windows, nhưng không lẽ cứ quên mật khẩu là phải cài lại?! Mỗi lần cài Windows ít nhất cũng tốn cả tiếng. Rồi lại còn thêm một tỉ lẻ một chương trình ứng dụng khác nữa (lạy Chúa!). Cách đơn giản nhất chính là tìm cách phục hồi lại mật khẩu này.

Phương pháp dưới đây rất hiệu quả và nhanh chóng, chỉ tốn khoảng 5 phút, hoạt động theo cách tìm tập tin SAM và SYSTEM để thay đổi trực tiếp nội dung của nó, hỗ trợ FAT lẫn NTFS.

Cần chuẩn bị một trong các CD Boot sau (có thể mua ở các cửa hàng CD Tin học):

- Hiren’s BootCD 5.0 hay 6.0 (phiên bản 4.2 về trước không có chức năng Reset Password Windows).

- Windows XP Password Cracker.

- Ultimate Boot CD 2.2 hay 2.3.

Khởi động máy và boot bằng CD. Với Windows XP Password Cracker thì sẽ tự vào chương trình, với Hiren’s BootCD vào phần Recovery Tools chọn Offline NT/2K/XP Password Changer, với Ultimate Boot CD vào NTFS Tools chọn Offline NT Password & Registry Editor.

Sau khi chương trình tải xong, các thao tác sẽ thực hiện trên môi trường Console nên lưu ý gõ thật chính xác những gì được yêu cầu. Lưu ý: khi yêu cầu nhấn số, bạn gõ phím số bên phần bàn phím chữ cái (không phải bằng các phím NumLock). Bài viết này sử dụng Ultimate Boot CD 2.3, đối với các CD Boot kia cũng tương tự tuy có hơi khác vài chỗ thông báo không đáng kể.

- Bước 1: Chọn phân vùng cài đặt Windows:

Chương trình liệt kê tất cả các phân vùng trên máy. Nhấn số tương ứng để chọn phân vùng cài Windows, nếu chỉ có hai phân vùng và Windows cài ở C thì nhấn số 1.

- Bước 2: Chọn đường dẫn và ứng dụng:

Chương trình hiển thị các tập tin liên quan đến tài khoản/mật khẩu được tìm thấy và đưa ra menu:

1 – Password reset [sam system security]

2 – RecoveryConsole parameters [software]

Q – quit – return to previous

Nhấn số 1 để thực hiện việc thay đổi mật khẩu.

Khi được hỏi đường dẫn của tập tin SAM và SYSTEM, phải gõ chính xác theo Windows đang cài trên máy (NT 3.51: winnt35/system32/config. NT 4/2000: winnt/system32/config. XP/2003 hay 2000 nâng cấp từ 98/ME: windows/system32/config).

- Bước 3: Thay đổi/chỉnh sửa mật khẩu tài khoản:

Xuất hiện menu (1):

1 - Edit user data and passwords

2 - Syskey status & change

3 - RecoveryConsole settings

- - -

9 - Registry editor, now with full write support!

q - Quit (you will be asked if there is something to save)

Nhấn 1 để tiếp tục. Xuất hiện danh sách các tài khoản trên Windows như ví dụ sau:

RID: 01f4, Username: <Administrator>

RID: 01f5, Username: <Guest>, *disabled or locked*

.....

Select: ! - quit, . - list users, 0x<RID> - User with RID (hex)

or simply enter the username to change: [Administrator]

Muốn sửa mật khẩu tài khoản nào thì gõ đúng tên tài khoản đó, ví dụ với tài khoản Administrator: gõ Administrator (chữ A viết hoa) rồi Enter. Chương trình sẽ yêu cầu nhập mật khẩu mới. Nên nhập ký tự * (Shift+8), có nghĩa mật khẩu mới là mật khẩu trắng (Blank Password). Theo kinh nghiệm thì mật khẩu này thành công hơn là nhập mật khẩu có ký tự. Chương trình xuất hiện câu hỏi:

Do you really wish to change it? (y/n) [n]

Nhấn y để xác nhận, menu (1) sẽ xuất hiện trở lại, nhấn q để thoát.

- Bước 4: Ghi nhận thay đổi và hoàn tất

Khi được hỏi About to write file(s) back! Do it? [n] : nhấn y để xác nhận. Chương trình sẽ kiểm tra lần cuối và xác nhận thực hiện thành công việc thay đổi mật khẩu. Nhấn n khi xuất hiện yêu cầu:

You can try again if it somehow failed, or you selected wrong

New run? [n] :

Nhấn Ctrl+Alt+Delete để khởi động lại máy, nhớ lấy đĩa ra.

Lưu ý: sau khi khởi động lại, máy sẽ tiến hành Check Disk (do Windows phát hiện tập tin hệ thống bị thay đổi) rồi khởi động lại lần nữa rồi mới vào Windows với tài khoản Administrator và mật khẩu trắng (gõ Administrator rồi Enter, không cần nhập mật khẩu). Nếu không xảy ra Check Disk thì chứng tỏ việc thay đổi mật khẩu chưa thành công, nên làm lại.

Trong trường hợp bạn muốn sử dụng chương trình phục hồi mật khẩu trên đĩa mềm khởi động, bạn hãy tải tập tin bd040116.zip (dung lượng 1,02MB) tại http://home.eunet.no...rdahl/ntpasswd/, các bạn tìm đến dòng "2004-01-16, release 040116", nhấn vào "bootdisk" để download).

Bạn giải nén tập tin này rồi chạy tập tin Install.bat để tiến hành việc tạo đĩa mềm khởi động. Cần chép thêm tập tin rawrite2 trong thư mục giải nén vào đĩa mềm. Cho khởi động máy từ đĩa mềm và thực hiện các công đoạn tương tự như với CD Boot ở trên. Xem thêm thông tin và hướng dẫn tại địa chỉ http://home.eunet.no...d/bootdisk.html. (Hoặc liên hệ E.mail: [email protected] để tôi có thể gửi toàn bộ chương trình này cho bạn, chỉ việc ghi lên đĩa là chạy luôn. Tất nhiên là Free!).

II/ Yên tâm hơn với dữ liệu lưu trữ:

Nếu không may ổ đĩa cứng của bạn bất thình lình ngừng làm việc. Mọi dữ liệu quý giá khó còn cơ hội cứu vãn. Mà nguyên nhân thì quá nhiều, có thể do nhiệt độ cao, có thể do đĩa quá cũ, thời gian sử dụng khá dài... Để tránh trường hợp không may này bạn thực hiện một vài thủ thuật đơn giản dưới đây.

#Sử dụng kỹ thuật HDD S.M.A.R.T

Nếu không muốn sử dụng phần mềm cài đặt thêm, bạn có thể nhận được thông báo về HDD S.M.A.R.T (Self Monitoring Analysis and Reporting) bằng cách quy định tính năng này Enable trong BIOS Setup.

Kỹ thuật HDD S.M.A.R.T gồm khoảng 35 đặc tính khác nhau (như số lần tắt và tái khởi động máy tính, tần số xuất hiện các lỗi thô, ảnh hưởng của nhiêt độ, tần số lỗi của quá trình kiểm tra độ dư vòng…) giúp dò tìm khoảng 70% lỗi trong ổ đĩa cứng. Báo cáo cho người dùng biết thông qua màn hình BIOS hoặc thông qua một phần mềm chẩn đoán.

Mỗi hãng sản xuất đĩa tích hợp vào sản phẩm của mình những đặc tính có thể khác nhau. Nhưng mục tiêu cuối cùng là phải dự báo trước được những sự cố nguy hiểm có thể xảy ra, dự đoán gần chính xác thời gian xảy ra để người dùng kịp thời đối phó.

Một số đặc tính các hãng sản xuất đĩa cứng thường tích hợp trong kỹ thuật S.M.A.R.T là: ghi nhận nhiệt độ của đĩa cứng, khả năng quay của đĩa cứng, tỷ lệ lỗi thô đã xảy ra, đếm số lần khởi động và tắt máy…

Các Mainboard thế hệ mới hiện nay đều hỗ trợ HDD S.M.A.R.T nhưng theo mặc định là Disable. Vì vậy bạn phải kích hoạt nó. Do mỗi Mainboard có những khác biệt với nhau cho nên bạn phải đọc cuốn User’s manual (Sách hướng dẫn đi kèm mainboard) để có thể dễ dàng tác động đến tính năng này.

#Dùng phần mềm chẩn đoán

1. HDD Health V 2.1: của tác giả Aleksey S Cherkasskiy, dung lượng 879KB, tương thích với mọi môi trường Windows. Tham khảo thêm và tải về từ địa chỉ www.panterasoft.com. Phần mềm này phân tích được 15 đặc tính kỹ thuật. Quan trọng nhất là khi bạn bấm vào thẻ Health. Khung Known Problems ghi: "There are no problems with this hard drive” là tuơng đối yên tâm. Nếu thêm khung Overall health status cũng như khung Nearest T.E.C đều ký hiệu N/A thì chắc chắn ổ đĩa cứng của bạn còn rất tốt, không phải lo lắng gì.

2. D-Temp: Dung lượng khá bé 144KB, không cần cài đặt chỉ kích chuột là nó chạy với một biểu tượng trên khay hệ thống có ghi nhiệt độ hiện thời của đĩa cứng. Tải về từ địa chỉ http://private.peterlink.ru/tochinov.

3. Active Smart V 2.31: Của hãng Ariolic, bạn có thể tải về dùng thử 30 ngày tại địa chỉ www.Ariolic.com/download.html. Đây là phần mềm tương đối ổn định, độ tin cậy khá cao, tương thích với mọi môi trường Windows, chức năng phong phú. Dĩ nhiên là sau thời gian xài thử thì phải trả phí nếu muốn dùng lâu dài (nghe có vẻ không khả thi rồi! hihi!).

III/ Tùy biến thanh công cụ của I.E trong WinXP:

Bạn cảm thấy quá nhàm chán với thanh công cụ màu xám mặc định của Internet Explorer (IE) và bạn muốn cho nó sinh động với những tấm ảnh nền bạn đưa vào? Hoặc bạn muốn đưa thêm vào thanh công cụ các nút lệnh để gọi nhanh một chương trình trên máy, ví dụ như chương trình từ điển chẳng hạn? Trong Windows XP bạn có thể dễ dàng thực hiện việc này mà không cần phải sửa đổi thủ công Registry hoặc cài thêm các phần mềm giúp tùy biến Windows.

Vào Start > Run, gõ gpedit.msc và bấm OK. Cửa sổ Group Policy xuất hiện. Trong khung bên trái bạn tìm đến mục User Configuration > Windows Settings > Internet Explorer Maintenance. Trong khung bên phải bạn nhấp đôi chuột vào mục Browser Toolbar Customizations. Hộp thoại Browser Toolbar Customizations xuất hiện.

Để thay đổi ảnh nền cho thanh công cụ, tại khung Background bạn chọn mục Customize toolbar background bitmap. Sau đó nhập vào đường dẫn đến file ảnh Bitmap (*.BMP) trên máy trong khung bên cạnh. Có thể bấm nút Browse để duyệt nhanh đến file ảnh này.

Lưu ý: Bạn nên chọn ảnh nền có kích thước phù hợp với thanh công cụ và đủ sáng để có thể thấy rõ dòng chữ tiêu đề của các nút lệnh và menu. Nếu bạn đang áp dụng các Theme thì ảnh nền bạn vừa đưa vào có thể không hiển thị được trên Toolbar. Để giải quyết vấn đề này bạn phải chuyển sang dùng Theme mặc định của Windows: bấm chuột phải lên Desktop, chọn Properties. Vào thẻ Themes, tại mục Theme bạn chọn Windows Classic trong danh sách đổ xuống. Bấm OK.

Nếu không muốn dùng ảnh nền nữa, bạn có thể chọn mục Use Windows default toolbar background bitmap.

Cũng trong hộp thoại Browser Toolbar Customizations, bạn có thể thêm vào một số nút lệnh trên thanh công cụ của IE như sau: Tại khung Buttons bạn bấm nút Add.

Một hộp thoại khác xuất hiện. Tại mục Toolbar caption bạn hãy nhập vào dòng chú thích cần hiển thị khi người dùng rê chuột lên nút lệnh. Tại mục Toolbar Action bạn đưa vào đường dẫn đến chương trình cần thi hành trên máy (khi người dùng bấm vào nút lệnh, chương trình này sẽ được gọi). Có thể bấm nút Browse để duyệt qua các file. Đưa vào đường dẫn đến file biểu tượng màu (*.ICO) tại mục Toolbar color icon và biểu tượng đen trắng tại mục Toolbar grayscale icon. Kích thước của biểu tượng phải là 20 x 20 pixel. Đánh dấu chọn mục This button should be shown on the toolbar by default nếu muốn nút lệnh này được hiển thị mặc định trên thanh công cụ (nếu không người dùng có thể gọi nút lệnh ra bằng cách bấm chuột phải lên thanh công cụ của IE, chọn Customize). Bấm OK để trở về hộp thoại Browser Toolbar Customizations.

Để sửa một nút lệnh mà bạn tự thêm vào (không phải nút lệnh mặc định của IE), bạn chọn nút lệnh trong danh sách và bấm nút Edit, sau đó sửa lại theo ý muốn. Để xóa một nút lệnh, bạn chọn nó trong danh sách và bấm nút Remove.

Ngoài ra, nếu bạn muốn xóa tất cả các nút lệnh ngoại trừ các nút lệnh chuẩn của IE, hãy đánh dấu chọn mục Delete existing toolbar buttons, if present.

Sau khi xác lập xong, bấm nút OK để đóng hộp thoại này lại. Sau đó bạn đóng tất cả các cửa sổ IE đang mở và mở chúng lại, bạn sẽ thấy sự thay đổi tức thì.

IV/ Gỡ bỏ IE 6 trong Windows XP:

Microsoft Windows XP không cho phép bạn gỡ bỏ Internet Explorer. Vậy làm sao bạn có thể sử lỗi cho trình duyệt hay cài đặt lại khi nó bị hỏng?

Nếu bạn không sử dụng phiên bản cuối cùng là IE6 thì bạn có thể ghé website http://windowsupdate.microsoft.com và download bản mới nhất để cài đặt. Nếu bạn đã có phiên bản cuối cùng rồi thì site này không cho phép bạn cài đặt lại.

Bạn phải đánh lừa hệ thống rằng phiên bản bạn đang sử dụng không phải là cái mới nhất. Hãy gõ REGEDIT từ lệnh Run trong menu Start. Sau đó bạn tìm khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\ Microsoft\Active Setup\Installed Components\{89820200-ECBD-11cf-8B85-00AA005B4383}.

Trong khung cửa sổ bên phải, double click vào DWORD value IsInstalled và đổi giá trị từ 1 thành 0. Bây giờ bạn hãy thoát khỏi REGEDIT và vào trang web trên lần nữa. Nó sẽ cho phép bạn download về để sửa lỗi.

Bạn có thể làm tương tự với Outlook Express, nhưng khóa cần tìm là HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Active Setup\Installed Components\{44BBA840-CC51-11CF-AAFA-00AA00B6015C}.

Chúc mọi người thành công.


------------------------
Vũ Sơn Tùng
[email protected]
Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#19
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
I/ Khắc phục những sự cố khó chịu trong Windows.

Bạn là người dùng hệ điều hành Windows, có lúc rồi cũng sẽ gặp một vài lỗi thật khó chịu trong Windows mà nếu không biết cách khắc phục thì phiền biết chừng nào. Sau đây là một số tình huống mà bạn có thể gặp phải:

1. Bạn sử dụng máy tính cá nhân cho bạn và gia đình, không dùng mật mã, muốn khởi động máy là vào ngay desktop không cần hỏi han này nọ. Tuy vậy cũng có lúc bạn khởi động máy, nó lại cho hiện ra login bắt phải nhập mật mã hay chọn mới cho vào tiếp.
Trong trường hợp khó chịu vậy (nhất là trong Win 2000), bạn vào Control Panel tìm đến mục User and password xóa nút chọn User must type your name and password thế là xong. Bạn không còn bị Win 2000 hỏi han này nọ và vào thẳng ngay desktop.

2. Bạn đang sử dụng Win 2000 hay Win XP, đột nhiên có lúc bạn ấn nút phải trên Desktop nhằm thay đổi một vài phần trong Display properties, bỗng thấy xuất hiện dòng chữ Your System Administrator disable display properties. Bạn không thể nào thay đổi Screen saver hay Desktop gì được nữa. Trong trường hợp khó chịu ấy, bạn phải làm sao đây?

Bạn thử vào System tìm đến Display properties cũng thấy y hệt vậy thôi. Bạn phải chạy run Regedit vào registry tìm đến HKEY-CURRENT-USER\Software\ Microsoft\Windows\Current Version\Policies\System tìm NoDisplayCPL, bạn ấn nút phải để thay đổi value từ 1 thành 0 là bạn sẽ vào lại được Display properties như cũ.

3. Bạn là người dùng Win Me hay Win XP, đôi lúc gặp trục trặc không còn khởi động modem hay không đọc ổ đĩa CDROM. Bạn muốn trở lại tình trạng cũ còn tốt như trước kia. Chỉ có Win Me và Win XP mới có phần phục hồi System Restore. Bạn vào đây để trở lại những ngày trước mà bạn đã lưu lại registry cũ. Nhưng điều phiền toái duy nhất của System Restore là chiếm đất quá nhiều đôi lúc đến 500MB, bạn thật tình không muốn thế. Muốn tìm đến để xóa System Restore trong Win Me không phải là chuyện dễ đâu nhé, nó giấu kỹ lắm, khó tìm ra nếu bạn chưa tìm lần nào bao giờ: Ấn nút phải vào My Computer vào System Properties (hay ấn nút Windows + nút Pause) tìm Performance rồi File system đến Trouble shooting mới tìm ra được System Restore của Win Me để bỏ nút kiểm (tick) đi.

4. Xóa một chương trình bằng Add Remove, bạn đừng tưởng thế là đã xóa sạch, Windows vẫn còn hơi dở ở điều này. Khi bạn thử vào lại Windows Explorer, thư mục ấy có giảm đi nhưng vẫn còn đó và trong Registry của Windows vẫn còn. Riêng chương trình Creative dù bạn xóa ra sao, nó vẫn còn hiện diện khá đầy đủ trong Explorer: Bạn cần phải xóa tiếp vào ngay Registry Windows để xóa thật triệt để thư mục Creative ở HKEY-CURRENT-USER\Software\ và HKEY-USER-MACHINE\Software\. Bạn cẩn thận hơn muốn xóa tiếp những broken link, bạn cần chạy Fix-It Utilities 30 ở phần Registry Fixer.

II/ Từ chối truy nhập vào Windows Task Manager.

Windows Task Manager là chương trình dùng để quản lý tác vụ trong Windows. Bạn có thể gọi cửa sổ Windows Task Manager bằng cách bấm tổ hợp phím Ctrl+Alt+Del hoặc bấm chuột phải lên thanh taskbar và chọn Task Manager. Nếu bạn không muốn cho người dùng vọc phá máy bạn, kết thúc các chương trình đang chạy bằng phím Ctrl+Alt+Del... cách tốt nhất là khóa Windows Task Manager lại. Cách thực hiện như sau: Trước tiên bạn sao lưu registry lại để đề phòng sự cố. Sau đó vào Start\ Run > gõ regedit > bấm OK. Trong cửa sổ Registry Editor, bạn tìm đến khóa HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\
Windows\CurrentVersion\Policies\System (nếu trong Policies không có khóa System, bạn có thể tạo khóa này bằng cách bấm chuột phải vào Policies, chọn New\ Key và đặt tên cho nó là System). Ở vùng trống bên phải cửa sổ bạn bấm chuột phải, chọn New\ DWORD Value và đặt tên cho giá trị này là DisableTaskMgr. Bấm đúp chuột vào giá trị DisableTaskMgr vừa tạo và nhập vào số 1 để vô hiệu hóa Windows Task Manager hoặc số 0 để cho phép thực thi Windows Task Manager. Đóng cửa sổ Registry lại, logoff hoặc khởi động lại máy để những thay đổi có hiệu lực. Sau đó bạn thử bấm Ctrl+Alt+Del xem, một thông báo lỗi xuất hiện cho biết rằng bạn không được phép truy cập Windows Task Manager. (Biết vậy thôi, lời khuyên của tôi là các bạn không nên làm nếu không thật cần thiết. Vì chính bạn cũng có thể gặp rắc rối, chẳng hạn như khi máy bị "đơ" do một tiến trình bị lỗi, bạn không thể tác động vào được. Và lúc đó chỉ còn nút "restart" là có thể giúp bạn).

III/ Một số chương trình hỗ trợ Windows và tiện ích:

1. Tìm và sử chữa lỗi hệ thống với Norton WinDoctor 2005:

Nếu Windows của bạn hoạt động không còn ổn định như trước nữa, thường xuyên đưa ra những thông báo lỗi khó hiểu, có lẽ đã đến lúc phải nhờ đến vị “bác sĩ máy tính” Norton WinDoctor 2005 rồi. Phần mềm này giúp bạn dọn dẹp, sửa chữa registry, sửa chữa các lỗi file hệ thống của Windows... chỉ với vài cú nhấp chuột, nhờ đó mà máy tính của bạn chạy trơn tru, ổn định hơn.

Norton WinDoctor 2005 nằm trong bộ phần mềm Norton SystemWorks 2005, có thể tìm mua tại các cửa hàng bán đĩa CD trong thành phố.

Tiến hành cài đặt. Gọi chương trình bằng cách vào Start\ Programs\ Norton SystemWorks\ Norton Utilities\ Norton WinDoctor. Bạn sẽ thấy xuất hiện một hộp thoại với ba lựa chọn, bạn nên chọn mục đầu tiên (Perform all Norton WinDoctor tests) để chương trình kiểm tra, phân tích tất cả các khoản mục mặc định. Nhấn Next để bắt đầu quá trình phân tích.

Khi chương trình phân tích xong, nhấn Next, bạn sẽ được biết trên hệ thống hiện có bao nhiêu lỗi, nhấn Finish để vào cửa sổ chính của chương trình. Khung Problems Found sẽ liệt kê các lỗi theo từng nhóm, ví dụ như lỗi về shortcut (Invalid Shortcuts), lỗi thiếu file (Missing Program Files), lỗi đường dẫn (Invalid Application Paths)... Cột Severity cho biết mức độ nghiêm trọng của lỗi: Low (thấp), Medium (vừa) và High (cao). Để biết chi tiết về nhóm lỗi nào, bạn chọn nhóm đó và nhấn nút Details.

Ở khung Details bạn có thể biết được chi tiết từng lỗi một. Nếu muốn bỏ qua một lỗi nào, bạn chọn lỗi đó và vào menu Problem\ Ignore Selected Problem. Những lỗi đã bỏ qua sẽ được tô mờ và ở cột Status có biểu tượng.

#Bạn có thể chọn một trong các cách sửa lỗi sau:

- Nếu bạn muốn chương trình tự động sửa tất cả các lỗi tìm thấy trên hệ thống mà không cần bạn can thiệp vào quá trình này, nhấn nút Repair All. Sau đó nhấn Yes trong hộp thoại xác nhận.

- Để sửa nhóm lỗi nào, bạn chọn nhóm lỗi đó trong cửa sổ Problems Found và nhấn nút Repair. Ở cửa sổ Automated Repair vừa xuất hiện có hai lựa chọn: Let WinDoctor pick the best solution and automatically repair all problems (Để chương trình chọn giải pháp tốt nhất và tự sửa tất cả các lỗi trong nhóm lỗi này); Allow me to choose the solution for each problem (Bạn sẽ phải chọn từng giải pháp cho từng lỗi một).

- Để sửa một lỗi bất kỳ, bạn chọn lỗi đó trong cửa sổ Details và nhấn nút Repair. Sau đó chọn một trong các giải pháp mà chương trình đưa ra để sửa lỗi. Bạn nên chú ý giải pháp đầu tiên trong danh sách là giải pháp tối ưu nhất. (Những lỗi đã sửa xong ở cột Status sẽ có biểu tượng).

Nếu sau khi chương trình sửa xong mà bạn thấy hệ thống chạy tệ hơn trước (điều này rất hiếm gặp, tuy nhiên chương trình cũng đã phòng trường hợp này nên bạn không phải lo lắng nhiều), bạn có thể phục hồi lại trạng thái của hệ thống trước khi sửa.

Nếu đang trong cửa sổ chính của chương trình, nhấn nút History. Nếu mới chạy chương trình, bạn chọn mục thứ ba (View Repair History and undo changes).

Cửa sổ Repair History sẽ liệt kê chi tiết từng lỗi và các giải pháp bạn đã chọn để sửa lỗi. Bạn chọn một lỗi cần phục hồi và nhấn nút Undo (hoặc nhấn Ctrl+U). Chọn Yes trong hộp thoại xác nhận.

2. Thay đổi cấu hình mặc định của IE bằng chương trình "IETweak":


IETweak 2 của Stajnia Augiasza là chương trình mang đến nhiều tính năng mở rộng cho Internet Explorer của Microsoft để nó có thể phục vụ cho công việc của bạn tốt hơn.

Sau khi cài đặt hoàn tất, bạn hãy khởi động chương trình. IEtweak được chia làm 2 thẻ chính:

#Appearance:

- Toolbar’s pict: cho phép bạn thay đổi tên mặc định trên thanh menu của IE.

- Annimation: cho phép bạn thay đổi biểu tượng của Microsoft ngay tại góc phải trên của IE bằng một hình tương ứng.

- Title bar: cho phép bạn thay đổi tên trình duyệt IE.

- Icon: cho phép bạn thay đổi biểu tượng của IE.

#Functionality:

- Download files: Nếu bạn không sử dụng tiện ích download của hãng thứ ba thì theo mặc định khi bạn download dữ liệu trên cùng một Server. IE chỉ có thể download cùng lúc 2 tập tin mà thôi. Tính năng này cho phép tăng tối đa là 15 file download cùng một lúc như thế sẽ tiết kiệm được thời gian, rất hữu ít cho những người sử dụng đường truyền băng thông rộng ADSL.

- Search Engine: theo mặc định thì khi cần tìm kiếm nội dung, IE sẽ tiến hành dùng Search Engine là: http://ie.search.msn...st/srchcust.htm. Với IEtweak bạn hòan toàn có thể thay đổi được thông số này. Chẳng hạn như dùng Search Engine của Google (www.google.com.vn).

- Download folder: thay đổi thư mục mặc định download của IE, giúp bạn quản lý dễ dàng dữ liệu đã download.

Bạn có thể download chương trình tại website: http://ietweak.prv.pl với dung lượng 705 KB được cung cấp dưới dạng miễn phí, tương thích tốt với các hệ điều hành Windows.

------------------------
Vũ Sơn Tùng
[email protected]
Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo

#20
sunflower

sunflower

    Tiếu Ngạo Giang Hồ

  • Mod Tin Học
  • PipPipPipPipPip
  • 1635 Bài Viết:
Cài đặt Windows XP Tiếng Việt (hướng dẫn A-->Z)


Yêu cầu hệ thống:
Hệ điều hành được hỗ trợ: Windows XP đã cài đặt Service Pack2 (SP2). Các bản Tiếng Anh của Windows XP Professional với SP2, Windows XP Home với SP2 hoặc Windows XP TabletPC Edition với SP2 cần phải được cài đặt trên máy tính của bạn.

Các tệp script phức hợp phải được cài đặt sẵn trên máy tính của bạn. Hãy chọn “Cài đặt tệp cho script phức hợp và các ngôn ngữ viết từ phải-sang-trái (bao gồm cả tiếng Thái)” từ Tùy chọn Vùng và Ngôn ngữ trong Pa-nen Điều khiển. Bạn sẽ được nhắc đưa vào đĩa CD thiết lập Windows XP. Xem thêm trong các bước cài đặt Windows XP Tiếng Việt dưới đây.

Có sẵn 4.63 MB không gian trống để tải xuống Gói Giao diện Tiếng Việt cho Windows

Khoảng 15 MB không gian trống để Cài đặt



Các bước cài đặt Windows XP Tiếng Việt:
Khởi động Windows XP, đảm bảo rằng bạn đăng nhập vào máy với người dùng có quyền quản trị (Administrator).

Cài đặt Windows XP SP2 nếu bạn chưa cài đặt SP2. Thông tin về SP2 có thể tìm thấy tại đây.

Cài đặt hỗ trợ Vùng và Tiếng Việt:
Mở Start > Control Panel, chọn Regional and Language Options

Bấm vào Language và chọn hộp kiểm Install files for complex script and right-to-left language (including Thai)

Bấm vào Regional Options và chọn Vietnamese trong phần Standards and formats; chọn Vietnam trong phần Location. Xin lưu ý là không xuất hiện các phần dành riêng cho Việt Nam nếu chưa thiết lập trong phần (2) nói trên - phần hỗ trợ Language.

Bấm vào Advanced và chọn Vietnamese trong phần Language for non-Unicode progams.

Bấm và phím OK để bắt đầu quá trình cài đặt. Bạn có thể sẽ cần đến đĩa cài đặt Windows để tải vào các tệp cần thiết.

Khởi động lại máy tính.

Tải về Gói Giao diện Tiếng Việt cho Windows (LIPSetup.msi) tại đây

Khi xuất hiện cửa sổ tải về của Gói Giao diện Tiếng Việt cho Windows, bấm vào phím Continue để bắt đầu kiểm định bản Windows đang chạy có phải là bản chính hãng không.

Sau khi thực hiện xong các bước kiểm định để đảm bảo bạn đang sử dụng bản Windows có bản quyền, hãy bấm vào Download để tải về chương trình cài đặt. Có thể lưu tạm lên trên Desktop của máy để tiện cho việc tìm kiếm về sau.

Chạy tệp cài đặt LIPSetup.msi

Khi xuất hiện hộp hội thoại Thỏa thuận cấp phép, phải chọn Tôi chấp nhận thỏa thuận cấp phép thì mới có thể tiếp tục cài đặt. Bấm phím Tiếp.

Khi xuất hiện hộp hội thoại Thông tin cài đặt, đọc kỹ các thông tin trước khi bấm phím Tiếp để tiếp tục.

Một hộp hội thoại mới xuất hiện cho phép chọn ổ đĩa sẽ được cài đặt. Có thể bấm phím Tồn đĩa để xem dung lượng đĩa còn trống. Bấm phím Cài đặt để tiếp tục nếu không có gì thay đổi.

Khi hộp hội thoại thông báo Gói Giao diện Ngôn ngữ Windows đã được cài đặt thành công, bấm phím OK để đóng.

Một hộp hội thoại mới xuất hiện yêu cầu khởi động lại máy tính, Bấm phím Có để khởi động lại máy tính sau khi quá trình hoàn tất.

Sau khi bật lại máy tính, một giao diện tiếng Việt mới sẽ thay thế giao diện tiếng Anh. Quá trình cài đặt đã hoàn thành tốt đẹp.

Bài viết này được chỉnh sửa bởi sunflower: 12 May 2007 - 03:13 PM

Posted Image

Ân oán giang hồ nuôi tôi lớn
Cuộc đời khốn nạn dạy tôi khôn
Không đâm không chém đời không nể
Không tiền không bạc gái không theo






Perfumista - Thong tin nuoc hoa

Stars Counter Game

Balloon vs. Thorns

MU Phuc Hung

Làm Việc Tài Nhà

Mu Da Nang

Tuyển Nhân Viên Bán Hàng

Tư vấn sức khỏe trực tuyến

Close [X]