Jump to content

Welcome to [ iT ] Forums
Register now to gain access to all of our features. Once registered and logged in, you will be able to create topics, post replies to existing threads, give reputation to your fellow members, get your own private messenger, post status updates, manage your profile and so much more. If you already have an account, login here - otherwise create an account for free today!
Cộng đồng Âm nhạc Việt Nam

Hình ảnh

Classical Music

* * * * * 1 Bình chọn

  • Please log in to reply
24 replies to this topic

#1
pe-thu-trang

pe-thu-trang

    Nhà Thông Thái CSTH

  • Mod Giải Trí
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2173 Bài Viết:
(Bài này chỉ giới thiệu về thể loại âm nhạc cổ điển trong văn hoá châu Âu.)

_ Âm nhạc cổ điển là một thuật ngữ mang một nghĩa rộng và có vẻ không chuẩn xác để chỉ thể loại âm nhạc "bác học" được sáng tác và bắt nguồn từ truyền thống âm nhạc nghệ thuật châu Âu, đặc biệt là giai đoạn 1000-1900. Một thời kỳ lịch sử âm nhạc 1550-1825 của giai đoạn này được gọi là thời kỳ âm nhạc thịnh hành.

_ Trong lịch sử âm nhạc, thuật ngữ nhạc cổ điển còn có một nghĩa ít khi dùng để chỉ âm nhạc thuộc giai đoạn trong lịch sử âm nhạc tính từ thời Carl Philipp Emanuel Bach cho đến Beethoven - tính ra khoảng từ 1730-1820. Khi dùng theo nghĩa này, thông thường hai chữ CĐ trong nhạc cổ điển được viết hoa để tránh nhầm lẫn.


Các Giai Đoạn Chính Của Nhạc Cổ Điển :

* Trung cổ: thông thường được coi là giai đoạn trước 1450. Giai đoạn này đặc trưng bởi thể loại Thánh ca (Chant), còn gọi là đồng ca nhà thờ hay Thánh ca Gregory.

* Phục hưng: khoảng từ 1450-1600, đặc trưng bởi sử dụng nhiều sự phối dàn nhạc và nhiều loại giai điệu.

* Baroque: khoảng 1600-1760, đặc trưng bởi việc dùng đối âm việc phổ biến của nhạc phím và nhạc dàn.

* Cổ điển: khoảng 1730-1820, là một giai đoạn quan trọng đã đặt ra nhiều chuẩn biên soạn, trình bày cũng như phong cách.

* Lãng mạn: 1815-1910: là một giai đoạn mà âm nhạc đã vào sâu hơn đời sống văn hoá và nhiều cơ quan giảng dạy, trình diễn và bảo tồn các tác phẩm âm nhạc đã ra đời.

* Thế kỷ 20: thường dùng để chỉ các thể loại nhạc khác nhau theo phong cách hậu lãng mạn cho đến năm 2000, bao gồm Hậu Lãng Mạn, Hiện Đại và Hậu Hiện Đại.

* Âm nhạc đương đại: thuật ngữ thường được dùng để gọi âm nhạc tính từ đầu thế kỷ 21.


_ Tiếp đầu ngữ tân thường được dùng để chỉ âm nhạc thế kỷ 20 hay đương đại được soạn theo phong cách của các giai đoạn trước đây, như cổ điển, lãng mạn, v.v... Ví dụ như tác phẩm Classical Symphony của Prokofiev được coi là một tác phẩm "Tân Cổ Điển".

_ Việc chia các thời kỳ âm nhạc phương Tây ở một mức độ nào đó là không hoàn toàn chặt chẽ, các giai đoạn thể gối lên nhau. Ngoài ra mỗi giai đoạn lại có thể được chia nhỏ theo thời gian hoặc phong cách.


__________________________________

Quơ vài dòng từ Wikipedia về làm cái mở bài 8-> giờ tới tiết mục chính yếu... :-&
Mở màn bằng một bản quen thuộc : Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ - Wolfgang Amadeus Mozart





Source: wikipedia


(st)


Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 12 November 2009 - 02:43 AM





Thế tình bạc, nhân tình ác. Mưa tiễn hoàng hôn hoa dễ rơi,gió nhẹ thổi ,lệ ngân tàn.
Dốc bầu tâm sự,độc ngữ tà lan. Khó! Khó! Khó!

#2
pe-thu-trang

pe-thu-trang

    Nhà Thông Thái CSTH

  • Mod Giải Trí
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2173 Bài Viết:
Chuyện kể rằng: ngày xửa ngày xưa, nếu muốn "chiếm" trái tim cô gái nào đó thì chàng trai đang “trồng cây si” thường mượn âm nhạc, tự thể hiện bằng tiếng đàn và giọng hát của chính mình. Thử tượng tượng một chút nhé: bạn là một cô gái châu Âu sống trong thời Trung cổ hay Phục hưng, bỗng một buổi chiều tối, bạn nghe văng vẳng tiếng đàn hát cất lên từ phía dưới cửa sổ nhà mình… Chúc mừng nhé! Bạn đã lọt vào mắt xanh của một anh chàng. Thể loại âm nhạc chàng đang chơi để tỏ tình với bạn chính là một Serenade.

Serenade thời Trung cổ và Phục hưng được biểu diễn không theo một hình thức đặc biệt nào, ngoại trừ nó được một người hát tự đệm bằng nhạc cụ có thể mang theo được (guitar, mandolin v.v...). Những tác phẩm thuộc dạng này cũng xuất hiện ở những thời đại về sau, nhưng thường là trong tình huống có liên quan một cách đặc biệt đến thời trước, chẳng hạn như một Aria tỏ tình trong một vở Opera. Một ví dụ nổi tiếng là ở màn đầu opera “Người Thợ Cạo Thành Seville” của Rossini, nhân vật bá tước Almaviva đã tỏ tình với Rosina bằng một Serenade.

Bạn có thể nghe "Serenade của Schubert" biểu diễn bằng nguyên bản tiếng Đức hay bằng nhiều ngôn ngữ khác. Ngay trong tiếng Việt cũng có nhiều phiên bản khác nhau. Có lẽ bản dịch lời hay và chuẩn xác nhất là của NSND Mai Khanh. Bạn cũng có thể nghe "Serenade của Schubert" dưới hình thức chuyển soạn khí nhạc với đủ loại nhạc cụ solo hay kết hợp nhạc cụ.

Thời nay có lẽ sẽ chẳng chàng nào "đủ sức" mang một cây đàn piano đến dưới cửa sổ nhà người mình yêu, chơi "Serenade của Schubert" để tỏ tình vào chiều tối. Và dù “đàn hát hay giỏi” đến mấy, cũng khó giãi bày tấm lòng với "nửa kia" bằng Serenade một cách đúng nghĩa nếu nhà nàng không có ban công hay cửa sổ đủ thấp.

Vậy tại sao chiều tối nay, bạn không click gửi cho cô ấy những lời nồng nàn:

“Để lòng anh tung cánh vút bay lên,
ngời trong ánh trăng đêm.
Trái tim anh đang như biển dâng sóng trào.
Ơi nàng xuân ngát thương yêu.
Anh chờ em hát cùng anh... khúc ca ban chiều.”







Bản này được mổ xẻ bằng đủ thứ nhạc cụ nhưng nghe tiếng violin là thấm nhất

Trước đây có đọc ở đâu đó là ông Schubert này sáng tác bài này òi nhờ bạn mình "trình diễn" cho cô gái ổng thương thầm nhân sinh nhật nàng... Cuối cùng nàng kết anh chàng hát thuê



Franz Peter Schubert (31/01/1797 - 19 /11/1828) là một nhà soạn nhạc người Áo.

Bố ông - Franz Theodor Schubert là thầy giáo nổi tiếng trong giáo khu, mẹ ông là người hầu của một gia đình giàu có trước khi lấy bố ông. Ông là một trong số 16 người con trong gia đình mà phần lớn đều chết yểu.

Bố Schubert cũng là một nhạc sĩ, tuy không nổi danh nhưng là người thầy đầu tiên truyền dạy cho Schubert những hiểu biết về âm nhạc.

Dù Schubert có khá nhiều người bạn ngưỡng mộ các nhạc phẩm của ông tuy nhiên âm nhạc của Schubert thời đó không được thừa nhận rộng rãi nếu không muốn nói là rất hạn chế.

Schubert chưa bao giờ đảm bảo được một công việc ổn định và thường xuyên phải nhờ đến sự ủng hộ của bạn bè và gia đình trong phần lớn sự nghiệp.

Schubert mất sớm, năm 31 tuổi. Vài thập kỷ sau khi Schubert qua đời, các tác phẩm của ông mới khẳng định được tên tuổi của mình


(st)

Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 17 August 2009 - 05:44 AM





Thế tình bạc, nhân tình ác. Mưa tiễn hoàng hôn hoa dễ rơi,gió nhẹ thổi ,lệ ngân tàn.
Dốc bầu tâm sự,độc ngữ tà lan. Khó! Khó! Khó!

#3
pe-thu-trang

pe-thu-trang

    Nhà Thông Thái CSTH

  • Mod Giải Trí
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2173 Bài Viết:
Những năm cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 khi Ogiński sinh ra và lớn lên, vương quốc Ba Lan luôn ở trong tình trạng bị những thế lực ngoại bang Nga, Phổ, Áo tranh giành, xâu xé và người Ba Lan mất Tổ quốc, mất tự do ngay trên đất nước mình. Ngay từ khi còn rất trẻ, ông đã mong muốn dành phần lớn cuộc đời mình để tham gia tham gia các phong trào Cách mạng cũng như đấu tranh chính trị nhằm khôi phục lại chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.

Sa hoàng đã hứa hẹn rất nhiều với Ogiński, nhưng rốt cục sau Đại hội Vienna (Áo) năm 1815, ông đã nhận ra Sa hoàng phản bội lại lòng tin của ông và người dân Ba Lan không thể giành lại được Tổ quốc của mình.

-------------------------------------------------------------------------------------------------
Đó là một cảm giác mênh mang và trống trải trong tâm hồn khi nhớ về Tổ quốc tươi đẹp đã vĩnh viễn mất đi mà không bao giờ có thể quay về nữa. Yêu thương, nhớ và nỗi buồn cứ như thế thấm vào tận sâu trong trái tim ông. Có thể cảm thấy mùi hương của tuyết lạnh xứ Ba Lan, cho đến tận khi tan ra chào màu xanh của mùa xuân tới.

Tất cả vẻ đẹp dịu dàng mà đau nhói đó cứ vương vấn mãi trong những nốt nhạc, trong kí ức của nhà soạn nhạc. Người nghệ sĩ tâm hồn vốn lang bạt, nhưng tận sâu thẳm trong tim, nỗi buồn lớn nhất có lẽ là không có nơi để trở về.


---------------------------------------------------------------------------------------------------



Tác phẩm mở đầu bằng một điệu la thứ buồn với tiếng đàn violin da diết gặm nhấm tâm hồn của một trái tim yêu nước thiết tha, và khi nỗi đau lên đến đỉnh điểm thì nó được vỡ oà ở điệp khúc với một loạt tiết tấu mạnh mẽ.

Polonaise do dàn nhạc biểu diễn thì thường được bắt đầu với một giai điệu dịu dàng, do dàn dây thể hiện kết hợp với kèn gỗ, điểm xuyết những âm thanh trong trẻo của kẻng ba góc (triangle). Ở đoạn giữa của tác phẩm xuất hiện âm hình đặc trưng của Polonaise làm sinh động cho bản nhạc.




Polonaise là tên gọi của một vũ khúc cổ của người Ba Lan xuất phát từ thế kỉ 16. Những nhạc sĩ tên tuổi như Bach, Handel, Beethoven... đều đã sáng tác các tác phẩm kinh điển thể loại này. Những bản Polonaise đầu tiên được chơi ở nhịp 3/4, với tốc độ vừa phải và sáng tác cho nhạc cụ.


Bản post ở trên thiếu vài giây đầu :-: nghe hơi hụt hẫng chút T_T nhưng tại cố gắng kiếm mấy cái "live show" như vậy chứ không muốn post slice hình 8-> tính ra âm thanh của youtube cũng có hơi ... :dede: đem "quảng cáo" thì coi như tạm ổn , nếu ai muốn nghe chất lượng cao thì liên hệ :- share ...

Strings version :



Piano version :


_____________________________


Michał Kleofas Ogiński (07/10/1765 Ba Lan - 10/10/1833 Italy) sinh ra trong một gia đình quý tộc ở gần thủ đô Warsaw.

Lớn lên, Ogiński tham gia hoạt động chính trị, tham gia vào nghị viện để tiếp nối truyền thống gia đình. Mặc dù được học nhạc lý, được dạy chơi piano và violin từ nhỏ nhưng âm nhạc với ông không phải là sự nghiệp suốt đời

Tuy không có một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ, nhưng ông đã góp nhiều công sức vào sự phát triển của nền âm nhạc Ba Lan thế kỷ 19. Các bản polonaise của ông tạo ảnh hưởng lớn đến những tác phẩm trong thời kỳ đầu sáng tác của Chopin.

Ogiński đã sáng tác rất nhiều Polonaise cho cây đàn piano, chơi solo, hai tay, ba tay hay thậm chí bốn tay, những tác phẩm đã nổi tiếng trên khắp các thủ đô Châu Âu như Lwow, Warsaw, Berlin, Vienna, Dresden, Prague, Paris, hay London sương mù.

Năm 1823, ông viết bản Polonaise nổi tiếng nhất của mình – Polonaise số 13 cung La thứ. Pożegnanie Ojczyzny (Farewell to the Fatherland) - Tạm Biệt Quê Hương.


(st)


Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 12 November 2009 - 02:44 AM





Thế tình bạc, nhân tình ác. Mưa tiễn hoàng hôn hoa dễ rơi,gió nhẹ thổi ,lệ ngân tàn.
Dốc bầu tâm sự,độc ngữ tà lan. Khó! Khó! Khó!

#4
pe-thu-trang

pe-thu-trang

    Nhà Thông Thái CSTH

  • Mod Giải Trí
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2173 Bài Viết:
Khoảng thế kỉ IV-V trước công nguyên, thi sĩ Hy Lạp Palladas đã chua chát mà rằng: “Người phụ nữ nào chẳng đắng như mật. Song có hai trường hợp tỏ ra dễ thương: trên giường cưới và trên giường chết." Tất nhiên nhận định này có phần thiên kiến vì nó xuất phát từ tính “ghét đàn bà” mà người vợ đã gây ra cho ông.

Hơn hai thiên niên kỉ sau, vào năm 1845, câu nói đó của Palladas đã được nhà văn Pháp Prosper Mérimée lấy làm tựa cho thiên truyện “Carmen”.

Truyện kể về cô gái Gypsy (*) xinh đẹp tên Carmen chẳng bao giờ thận trọng với tình yêu và đã khiến nhiều trái tim đàn ông tan nát.

Ba mươi năm sau đó, vào ngày 3/3/1875, vở opera “Carmen” của nhà soạn nhạc Pháp Georges Bizet lần đầu ra mắt công chúng ở Paris. Henri MeilhacLudovic Halévy đã viết phần lời (libretto) cho vở opera dựa trên truyện “Carmen” của Mérimée.

Nhưng lớp khán giả đầu tiên của opera “Carmen” đã bị sốc. Họ không thể chịu đựng được nhân vật Carmen lẳng lơ, sinh ra trong tự do và quyết chết trong tự do. Họ la ó, chửi bới các ca sĩ lẫn tác giả của vở opera.

Tuy nhiên sau lớp khán giả đầu tiên thì cho đến nay, “Carmen” luôn là một trong những vở opera được yêu thích và trình diễn nhiều nhất. Chính "Carmen" đưa tên tuổi Georges Bizet đến với cả thế giới, qua biết bao thế hệ.

Trong opera “Carmen” có rất nhiều các giai điệu nổi tiếng, trong số đó có "Habanera" hay còn có tên “Tình Yêu Là Con Chim Bất Trị”. Đây là aria (*) thể hiện rõ nhất cá tính nhân vật Carmen. Khi diễn xuất trên sân khấu, sau khi hát xong câu cuối: “Nếu tôi yêu anh, hãy coi chừng”, Carmen ném một bông hoa cho Don José. Và từ đó bắt đầu tình yêu và bi kịch giữa hai người.
[/COLOR]
________________________

(*) Gypsy : người thuộc một dân tộc du mục từ miền tây bắc Ấn Độ di cư sang Tây Âu TK 15 (cũng gọi là Romany)

aria : giai điệu tiêu biểu cho nhạc Baroque




Khi nào tôi sẽ yêu anh?
Thực tình, tôi chẳng biết…
Không bao giờ!... hoặc có thể ngày mai !...
Nhưng không phải hôm nay… chắc chắn.

Tình yêu là con chim bất trị
Chẳng ai thuần hóa được nó đâu,
và gọi nó cũng chỉ uổng công
nếu nó đã định tâm cự tuyệt!

Chẳng tác dụng gì, cầu xin hay dọa nạt,
Kẻ này nói nhiều, người nọ nín thinh;
Và chính người nọ tôi ưa hơn,
Chàng không nói, nhưng làm tôi vui thích.

Tình yêu! Tình yêu! Tình yêu! Tình yêu!

Tình yêu là đứa con dòng Bohème,
Nó chẳng đời nào, chẳng đời nào biết luật,
nếu anh không yêu tôi, tôi yêu anh,
nếu tôi yêu anh, hãy coi chừng!

Con chim mà anh tưởng bắt được
Đã vỗ cánh và đã bay đi;
Tình yêu ở xa, anh có thể chờ mong.
anh không còn chờ, kìa nó đó.
Chỉ quanh anh thôi, nhanh nhanh lên chứ,
nó đến, nó bay, rồi lại quay về
anh tưởng tóm được, nó lẩn rồi,
anh tưởng nó lẩn rồi, anh tóm được!


Vẫn thích nghe bản không lời hơn , post luôn




(st)


Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 12 November 2009 - 02:44 AM





Thế tình bạc, nhân tình ác. Mưa tiễn hoàng hôn hoa dễ rơi,gió nhẹ thổi ,lệ ngân tàn.
Dốc bầu tâm sự,độc ngữ tà lan. Khó! Khó! Khó!

#5
pe-thu-trang

pe-thu-trang

    Nhà Thông Thái CSTH

  • Mod Giải Trí
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2173 Bài Viết:
In a Persian market”, được sáng tác năm 1920, là một trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất của Ketèlbey. Theo nhà phê bình Anh Ralph Hill, một người rất sành về âm nhạc Ba Tư, đây là tác phẩm về Ba Tư hay nhất được viết ra bên ngoài vùng đất này với một mối quan tâm lớn đến màu sắc phối khí.

Màu sắc phối khí phong phú là một đặc trưng lớn trong nhiều sáng tác của Ketèlbey. Có họa sĩ vẽ cover cho tác phẩm của ông đã hóm hỉnh mô tả chính nhà soạn nhạc như một phù thủy đang pha chế một hỗn hợp âm điệu trong một cái vạc lớn.

Ketèlbey đã pha màu và vẽ ra loạt 9 bức tranh liên hoàn miêu tả cảnh tượng một phiên chợ Ba Tư cổ xưa trong “In a Persian market”:

Cảnh 1: Những người đánh lạc đà đang tới chợ
Cảnh 2: Những kẻ hành khất đang cầu xin bố thí
Cảnh 3: Sự xuất hiện của nàng công chúa xinh đẹp
Cảnh 4: Những người làm trò tung hứng trong chợ
Cảnh 5: Những người làm trò dụ rắn trong chợ
Cảnh 6: Đức Kha-lip (vua Hồi giáo) đi qua chợ
Cảnh 7: Những kẻ hành khất lại lên tiếng cầu xin
Cảnh 8: Những người đánh lạc đà tiếp tục lên đường
Cảnh 9: Chợ trở nên vắng vẻ, hoang vu



Lắng nghe “In a Persian market”, chắc chắn bạn không thể không mỉm cười khi nhận ra mình đang lạc vào một thế giới cổ tích diệu kỳ.

Như thể bạn đang có mặt tại phiên chợ cổ xưa và tận mắt chứng kiến những cảnh tượng vô cùng sống động - những cảnh tượng mà có lẽ trước đây bạn đã từng hình dung khi nghe những câu chuyện cuốn hút mê hồn của nàng Scheherazade trong “Ngàn lẻ một đêm”...

(st)


Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 12 November 2009 - 02:44 AM





Thế tình bạc, nhân tình ác. Mưa tiễn hoàng hôn hoa dễ rơi,gió nhẹ thổi ,lệ ngân tàn.
Dốc bầu tâm sự,độc ngữ tà lan. Khó! Khó! Khó!

#6
pe-thu-trang

pe-thu-trang

    Nhà Thông Thái CSTH

  • Mod Giải Trí
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2173 Bài Viết:
Từ lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng như một thiên tài âm nhạc năm lên tám tuổi, cho đến tận hôm nay, Chopin vẫn tiếp tục khiến cho thế giới không ngừng kinh ngạc, không ngừng tranh luận quanh cuộc kiếm tìm một định nghĩa về âm nhạc của ông - “người thi sĩ dương cầm vĩ đại cuối cùng...” như mọi người vẫn gọi. Đối với tôi, Chopin trước tiên và mãi mãi là thi sĩ của nỗi buồn xa xứ, và âm nhạc của ông là những bài thơ về một quê nhà xa vắng với nỗi niềm thương nhớ không nguôi...

Rời Warszawa (Ba Lan) khi vừa tròn hai mươi mốt tuổi, tạm biệt người thân và ngôi làng Zelazowa Wola yêu dấu với lời hứa sẽ trở về, Chopin không biết rằng, phía trước ông là mười tám năm xa xứ, rằng lần chia tay ấy là lần cuối cùng ông được nhìn thấy mẹ, cha… Cuộc khởi nghĩa Warszawa và những năm tháng loạn lạc chiến tranh sau đó đã khiến ông mãi mãi không thể nào quay trở lại quê nhà.

Mười tám năm ấy là mười tám năm của buồn và nhớ, của hy vọng và tuyệt vọng, của hạnh phúc và đau khổ…Mười tám năm của nỗi đau mất cha, của những âu lo cho tuổi tác và sự hao gầy của mẹ, của những ước vọng không thành về một đất nước Ba Lan yên bình và độc lập…mười tám năm chiến đấu với ốm đau, bệnh tật - chiến đấu chỉ cho một ước mơ giản dị là được trở về quê hương…Để rồi, cuối cùng ông chỉ có thể gửi lại lời trăn trối: hãy mang nắm đất quê hương mà ông vẫn hằng giữ rắc lên ngôi mộ của ông và hãy mang trái tim ông về Tổ Quốc…Tất cả, tất cả nỗi niềm thương nhớ đó đã trở thành ngọn lửa bất tử, thắp sáng và sưởi ấm trong từng nốt nhạc của ông-nhà thơ của những nỗi buồn xa xứ.

Ngôi nhà nhỏ, với những khung cửa sổ luôn rộng mở, những bức tường vôi trắng, nơi Chopin cất tiếng khóc chào đời, vẫn nằm lặng lẽ, yên bình dưới tán lá của những cây phong, cây sồi cổ thụ, trong một khu rừng nhỏ của làng Zelazowa Wola đẹp như cổ tích.

Mùa xuân, ngôi nhà và khu rừng như sáng bừng lên bởi sắc xanh tươi của lộc biếc, sắc vàng như nắng của hoa Bồ Công Anh trải trên thảm cỏ và sắc trắng muốt đến nao lòng của hoa táo trong những khu vườn phía xa xa…

Mùa hạ, những bông hoa Tường Vi nở hồng trong khu vườn nhỏ trước sân nhà. Ngôi nhà nhỏ như chìm trong giấc ngủ yên bình giữa tiếng rì rào của gió và tiếng chim hót trên cao…

Mùa thu, cây liễu cổ thụ trong vườn, người bạn thân thiết của Chopin thuở bé, toả bóng trầm mặc xuống con suối nhỏ. Những cây phong, cây sồi, cây bạch dương đua nhau khoe sắc vàng rực rỡ, sau đó chuyển thành màu đỏ rực như nỗi nhớ mong người chủ nhỏ Fred (Fredric Chopin)…

Mùa đông, ánh đèn trong ô cửa sổ sưởi ấm lòng khách đến thăm, ngồi bên chiếc đàn nhỏ, nơi Chopin làm quen những nốt nhạc đầu tiên, ta có thể nhìn thấy những bông tuyết bay đầy trong gió, khoảng sân và cả khu vườn ngập trong một màu trắng trinh nguyên, thời gian và không gian như chững lại, tưởng chừng như chỉ ít phút nữa thôi, chú bé Fred với mái tóc xoăn vàng óng đẹp như là một thiên thần sẽ bước ra từ sau cánh cửa kia…

Có một điều rất lạ, trong khu rừng nhỏ không bao giờ vắng đi tiếng gió, những cơn gió nhẹ và buồn thổi từ cánh rừng già Kampinos thâm nghiêm, băng qua cánh đồng làng, quấn quýt quanh ngôi nhà nhỏ, rồi tinh nghịch trốn tìm trên những con đường rải sỏi … Tôi gọi đó là “gió Kampinos”, những ngọn gió hình như đã mang Chopin về lại quê nhà…những ngọn gió đến và đi, phiêu bồng qua năm tháng, những “ngọn gió Chopin”, những ngọn gió của nhớ thương và hội ngộ…

Mùa hè năm 1999, trong một dịp tình cờ, tôi đã đến Mallorca, hòn đảo xinh đẹp giữa lòng Địa Trung Hải. Tại đây, tôi đã tìm đến Valldemossa, ngôi làng cổ nằm chênh vênh trên sườn núi, nơi Chopin cùng George Sand trải qua mùa đông năm 1838.

Trong ngôi làng đó, tôi gặp một căn phòng nhỏ cũ kỹ với mái vòm cao và khung cửa hẹp, nơi Chopin đã từng đứng lặng im bên cây đàn dương cầm được George Sand mang từ Pháp đến cho ông, hình dung nên những nốt nhạc đầu tiên của những bản Prelude trĩu nặng nỗi buồn vĩnh cửu.

Tôi đã ngồi lặng im bên một gốc ô liu già, nghe gió từ biển thổi về và cảm nhận được nỗi buồn của Chopin như một sự đồng cảm của người xa xứ, cũng như ông, tôi xa quê nhà đã gần mười năm…Người ta nói, trong những bản Prelude được Chopin viết ra từ căn phòng hẹp trên đảo này có tiếng mưa rơi của đêm buồn giông bão mùa đông năm 1838. Tôi thì nghĩ rằng đó là những giọt nước mắt rơi cho nỗi nhớ quê hương và ngày về xa ngái…

Âm nhạc của Chopin không chỉ có nỗi buồn, bên cạnh nước mắt nhớ thương còn có những tia nắng ngập tràn hy vọng về một đất nước Ba Lan rạng rỡ cùng tiếng nhạc ngựa reo vui của ngày trở về…Trong những năm tháng sống tại Ba Lan, khi cồn cào nỗi nhớ quê nhà, tôi thường tìm đến nhạc Chopin như một nguồn an ủi, làm dịu đi nỗi nhớ. Không hiểu sao mỗi khi nghe những Dạ khúc (Nocturne) của ông, tôi luôn có cảm giác khoảnh khắc ấy mình được bay lên, nhìn thấy trọn vẹn quê nhà dấu yêu…Hãy đi đến tận cùng nỗi nhớ của mình, ở đó bạn sẽ gặp Chopin!

Một chiều cuối đông 2001, tôi đã đến ngôi nhà thờ mang tên Cây Thánh Giá nằm trong lòng thành cổ Warszawa, nơi trái tim lưu lạc của Chopin quay về và vĩnh viễn nằm lại nơi đây. Ngồi trong chiều vắng, bên cây cột đá với tấm bia khắc tên ông, tôi đã nói lời từ biệt Chopin. Cũng như ông, tôi đã có những năm xa xứ nhưng hạnh phúc hơn ông tôi còn có quê hương yên bình để quay về . Còn ông, chẳng phải ông cũng đã quay về bằng trái tim bên cạnh tôi đây, bằng những cơn gió “Kapinos” thổi hoài không dứt trên ngôi nhà của mẹ đó sao?

Những ngày tháng hai này, trong khu vườn nhỏ của ông có lẽ băng bắt đầu tan, những chồi non bắt đầu trỗi dậy và một mùa xuân mới đang về. Tháng hai năm nay, tôi lỡ hẹn với ông, với ngôi nhà nhỏ…và đứa con nhỏ của tôi cũng đành lỗi hẹn vói những chú sóc nâu dễ thương trong khu rừng Kampinos, lời hẹn rằng sẽ mang hạt dẻ thật nhiều đến cho chúng… …Biết đâu, có một ngày nào đó, những cơn gió Kampinos, những cơn gió Chopin trong chuyến viễn du sẽ đến dạo chơi trên những hàng sao cổ thụ ngập nắng quê hương tôi, và ghé lại thăm tôi.

T. T (Warszawa – Sài Gòn 2004).
_______________________

Đọc xong bài này nghe một bản Nocturne là ngất ngây :bong :> nghe lúc nửa đêm nữa thì ... ngất luôn :bong

Piano version :




Violin version :



Đây là bản Nocturne No.20 in C# minor mở đầu bằng một đoạn introduction (giới thiệu) ngắn, vừa trang nghiêm vừa sầu não trong vẻ ngập ngừng và chậm rãi. Tiếp theo, chủ đề chính u sầu được trình bày với những nốt láy duyên dáng, gợi nhắc không khí tĩnh mịch của đêm tối.

Bầu không khí xúc cảm trở nên sáng sủa hơn vẫn không thể nào xua tan được tính chất hoang vắng của giai điệu mở đầu. Chủ đề chính trở lại ở nửa sau bản nocturne nhưng giờ đây nó day dứt hơn. Nỗi buồn dần trở thành nỗi thất vọng tràn trề khi âm nhạc dịu dàng tắt lặng kết thúc tác phẩm.

Nếu đã từng xem bộ phim The Pianist bạn sẽ nhận ra bản nhạc này trong một trường đoạn ấn tượng ngay đầu phim: Đài phát thanh Warsaw bị trúng bom Đức trong lúc Wladyslaw Szpilman (do Adrien Brody thủ vai) đang thu âm bản nhạc này tại đây.

-Trong phim đó bên ngoài bom nổ ì đùng ông này ngồi đàn tỉnh queo... nhìn cool dễ sợ 8-> .

(st)


Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 12 November 2009 - 02:44 AM
^^





Thế tình bạc, nhân tình ác. Mưa tiễn hoàng hôn hoa dễ rơi,gió nhẹ thổi ,lệ ngân tàn.
Dốc bầu tâm sự,độc ngữ tà lan. Khó! Khó! Khó!

#7
pe-thu-trang

pe-thu-trang

    Nhà Thông Thái CSTH

  • Mod Giải Trí
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2173 Bài Viết:

Attached File  lake_boat_sunset_scaled.jpg   30.46KB   0 Lượi tải

Hôm qua - hôm nay - ngày mai, thuyền vẫn trôi - nước vẫn chảy - phút giây hiện tại vẫn là quan trọng nhất.


Bài Ca Trên Mặt Nước

Tặng Agnes của tôi

Giữa khoảng sáng lung linh sóng nước
Như thiên nga, thuyền nhẹ lướt trôi;
A! theo sóng lóng lánh êm vui
Hồn ta cũng như thuyền trôi lướt;
Rồi từ trời cao dào lên sóng nước
Ánh hoàng hôn nhảy múa quanh thuyền.

Trên những ngọn cây phía rừng tây
Tia nắng đỏ vẫy chào thân thiện;
Dưới những nhành cây phía rừng đông
Đám lau sậy thì thầm trong ánh đỏ;
Trong ánh thẹn thùng hồn ta hít thở
Vui thiên đường và thanh bình rừng.

Ôi! theo cánh sương nó tan biến dần
Trên sóng lắc lư, thời gian ta cũng thế;
Ngày mai, thời gian sẽ lại tàn trên cánh sóng
Như hôm qua và như hôm nay;
Cho đến khi chính ta biến tan
Theo đôi cánh cao và rạng ngời hơn thế.






Cùng với Ständchen, Auf dem Wasser zu singen được xếp vào hàng kiệt tác của thể loại. Lời ca của Auf dem Wasser zu singen là bài thơ Lied auf dem Wasser zu singen (Bài ca trên mặt nước) do nhà thơ Đức Friedrich Leopold Graf zu Stolberg (1750 - 1819) viết năm 1782. Bài thơ được Stolberg đề tặng: “Für meine Agnes” (Tặng Agnes của tôi).

Âm nhạc của Auf dem Wasser zu singen có thể xem là một sự diễn dịch hoàn hảo cho bài thơ của Stollberg. Xuất phát từ cảm xúc của tác giả thơ, Schubert đã nâng thành một bài ca không những trôi chảy, du dương mà còn thêm phần sâu xa và đặc sắc.

Bằng thủ pháp âm nhạc, Schubert đã vẽ nên một bức tranh phong cảnh hữu tình. Ở đó, có hình ảnh một con thuyền nhỏ đang trôi trên mặt hồ phẳng lặng, có niềm vui trong lành thuần khiết mà con người an trú trong đó, buông xả những âu lo về đích đến của cuộc đời.

Solo piano version :





(st)


Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 12 November 2009 - 02:45 AM





Thế tình bạc, nhân tình ác. Mưa tiễn hoàng hôn hoa dễ rơi,gió nhẹ thổi ,lệ ngân tàn.
Dốc bầu tâm sự,độc ngữ tà lan. Khó! Khó! Khó!

#8
pe-thu-trang

pe-thu-trang

    Nhà Thông Thái CSTH

  • Mod Giải Trí
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2173 Bài Viết:
Khi Chopin đang sống tại thành phố Vienna, chàng nhạc sĩ được tin thủ đô Warsaw của Ba Lan đã bị quân đội Nga xâm lăng. Tin đau buồn này tới với Chopin và làm chàng nhạc sĩ cảm xúc và sáng tác ra "Luyện Khúc Cách Mạng" (the Revolutionary Etude).




Bản giới thiệu ở đây là do Maksim (thần tượng :d) oánh , mặc dù hơi New Age một chút :d nhưng rất ấn tượng, không hiểu sao nghe bản này mà người khác chơi cứ thấy chầm chậm... ức chế :(
P/S : vừa CTC hay tống kim nghe thì nhất :(


(st)


Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 12 November 2009 - 02:45 AM





Thế tình bạc, nhân tình ác. Mưa tiễn hoàng hôn hoa dễ rơi,gió nhẹ thổi ,lệ ngân tàn.
Dốc bầu tâm sự,độc ngữ tà lan. Khó! Khó! Khó!

#9
pe-thu-trang

pe-thu-trang

    Nhà Thông Thái CSTH

  • Mod Giải Trí
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2173 Bài Viết:
Zigeunerweisen của Pablo De Sarasate - hay gọi là Vũ Khúc Digan. Hãy nghe nó mỗi khi cần lấy lại nghị lực , hoặc cần một chút xáo động xua tan bầu không khí tĩnh lặng trong tâm hồn. Nhắc đến Sarasate là nhắc đến những tác phẩm "khó chơi" . Ông cũng đã có một câu nói rất hay rằng "Âm thanh hay nhất chính là giọng hát của con người", đó cũng là cái đích mà các nhạc cụ và nhạc công luôn muốn vươn tới.

Bài này tiếng Anh là Gypsy Air (cho nên mới gọi là vũ khúc Digan) hay Song of the Tramps. Châu Tinh Trì có đưa vào trong phim "Kungfu Hustle". Tác phẩm gồm 4 phần :

1. Đô thứ 4/4, Prelude. Dàn nhạc mạnh mẽ và sôi nổi mở đầu giới thiệu và tiếp theo là phần dạo đầu của violin gây ra ấn tượng bất ngờ và cảm giác buồn, vô vọng,....

2. Chậm. Bắt đầu với giai điệu violin để chuẩn bị thay đổi nhịp. Đoạn này đòi hỏi kĩ thuật tốt, giai điệu chủ yếu là violin, dàn nhạc chỉ làm nhiệm vụ đệm.

3. Nhịp 2/4. Âm thanh yếu hơn sự buồn bã được gọi là và đạt tới kịch điểm. Đoạn này thường được sử dụng trong quảng cáo hay nhạc nền của phim.

4. Nhịp 2/4. Giai điệu trở nên nhanh hơn và ít sức nặng, giai điệu Gypsy "Cùng đi và Nhảy" được đưa vào. Không khí trở nên tươi vui như tác giả muốn đưa vào niềm tin của người Gypsy - có hi vọng đằng sau những nỗi buồn. Kĩ thuật đưa lên mức cao nhất với những đoạn pizzicato và tốc độ cao.

Những ai yêu thích những bản nhạc có sự chuyển biến rõ rệt về sắc thái cảm xúc, giai điệu, tiết tấu đều không thể lờ đi Zigeunerweisen được. Sức ám ảnh của bản nhạc, độ khó của nó luôn làm người ta tò mò muốn chinh phục, chính vì vậy mà nó không thể thiếu trong hành trang của các violinist cũng như các cuộc thi.



(st)


Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 12 November 2009 - 02:46 AM





Thế tình bạc, nhân tình ác. Mưa tiễn hoàng hôn hoa dễ rơi,gió nhẹ thổi ,lệ ngân tàn.
Dốc bầu tâm sự,độc ngữ tà lan. Khó! Khó! Khó!

#10
pe-thu-trang

pe-thu-trang

    Nhà Thông Thái CSTH

  • Mod Giải Trí
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2173 Bài Viết:
The Heart Asks Pleasure First của Michael Nyman

Poem lyrics of The Heart Asks Pleasure First
Emily Dickinson

The heart asks pleasure first
And then, excuse from pain-
And then, those little anodynes
That deaden suffering;

And then, to go to sleep;
And then, if it should be
The will of its Inquisitor,
The liberty to die.



Bản này là theme song trong phim The Piano, không có gì nhiều để bình luận 8-> lãng mạn, lãng du, lãng đãng nhắm mắt lại.... lắng nghe... cứ như được dắt đi vòng vòng... rồi lại vòng vòng... tròn xoay... chóng mặt..

(st)


Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 12 November 2009 - 02:51 AM





Thế tình bạc, nhân tình ác. Mưa tiễn hoàng hôn hoa dễ rơi,gió nhẹ thổi ,lệ ngân tàn.
Dốc bầu tâm sự,độc ngữ tà lan. Khó! Khó! Khó!

#11
inferboy

inferboy

    Thành viên mới

  • Newbies
  • 26 Bài Viết:
Nhưng bài này rất hay, cám ơn bạn nhiều

#12
Kim Lam

Kim Lam

    Thành viên mới

  • Newbies
  • 13 Bài Viết:
Tác Phẩm : Violin concerto in E minor, Op. 64 (Bản công xéc tô cho đàn vĩ cầm cung mi thứ)
Tác Giả : Nhà soạn nhạc người Đức thời kỳ Lãng Mạn Felix Mendelssohn (1809–1847)
Trình Bày : Nghệ sĩ vĩ cầm Shlomo Mintz và dàn nhạc Israel dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Zubin Mehta


Chương 1:



Chương 2:



Chương 3:





Tại bữa tiệc sinh nhật lần thứ 75 của mình, Joseph Joachim (1831–1907), một trong những nghệ sĩ violon có ảnh hưởng nhất mọi thời đại, đã nói với các vị khách: "Người Đức có 4 bản violon concerto. Bản vĩ đại và không thỏa hiệp nhất là của Beethoven. Bản của Brahms ganh đua quyết liệt với nó một cách nghiêm trang. Bản phong phú và có sức quyến rũ nhất là do Max Bruch viết. Nhưng bản nội tâm nhất, viên ngọc của trái tim, là bản của Mendelssohn."

"Viên ngọc của trái tim" mà Joachim nói đến chính là bản nhạc trên. Khi mới 12 tuổi, Joachim đã được trình diễn tác phẩm này trong vai trò soloist (nghệ sĩ độc tấu).

Mendelssohn đã đạt tới đỉnh cao của những cảm xúc thanh cao, tế nhị trong tác phẩm này. Âm nhạc của nó đầy sức lôi cuốn bởi tính chất nhiệt thành, say đắm lãng mạn chủ nghĩa, nguồn cảm hứng trữ tình, vẻ đẹp duyên dáng tuyệt vời của những giai điệu uyển chuyển ngập tràn tác phẩm.

Bản nhạc này đã trở thành một tác phẩm trụ cột trong vốn tiết mục thể loại violon concerto. Mỗi năm, nó lại có mặt trong vô số các chương trình hòa nhạc lớn nhỏ khắp nơi trên thế giới. Giới phê bình xếp nó ngang hàng với các concerto xuất sắc của Beethoven, Brahms và Tchaikovsky.

Còn khán thính giả thì hầu như luôn bị nó mê hoặc ngay từ lần thưởng thức đầu tiên. Vì thế mà dù trong di sản âm nhạc của Mendelssohn có đến 7 bản concerto khác nhưng cụm từ "concerto của Mendelssohn" lại thường xuyên được ưu ái dùng để chỉ tác phẩm này mà thôi.

Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 23 December 2009 - 03:08 AM


#13
Kim Lam

Kim Lam

    Thành viên mới

  • Newbies
  • 13 Bài Viết:
Tác Phẩm : Piano Sonata No.8 in C minor Op.13 - Pathétique (Bản sô nát số 8 cho đàn dương cầm cung đô thứ - Bi thương)Tác Giả : Nhà soạn nhạc người Đức Ludwig van Beethoven (1770 - 1827)Trình Bày : Nghệ sĩ dương cầm Daniel BarenboimChương 1:Chương 2:Chương 3:Pathétique thường bị hiểu nhầm thành sự lâm ly thống thiết (theo nghĩa buồn của từ pathetic trong tiếng Anh), vì vậy rất nhiều người đã nghĩ rằng Beethoven viết bài này trong tâm trạng buồn thảm. Nhưng trong âm nhạc thì lại không phải như vậy, đó là một thuật ngữ dùng để chỉ một bản nhạc mà trong đó các nốt thấp và cao được sử dụng liên hoàn nhằm tạo nên một điểm nhấn giữa một nhịp điệu đang có sẵn. Nói nôm na thì giống như là chúng ta đang nghe cải lương đều đều thì tự dưng có người bật một đoạn hard rock lên làm tự dưng cảm xúc bị xáo động hoặc ngược lại. Cách sử dụng nốt nhạc kiểu này đem lại sự thu hút riêng biệt cho người nghe, như là đang đi trên một con đường gập ghềnh vậy.Bản Pathétique và một số tác phẩm khác của Beethoven được ông sáng tác năm 28 tuổi để tặng cho Hoàng tử Áo Karl von Lichnowsky, một người bạn thân, một thính giả trung thành đồng thời cũng là người đã giúp đỡ cho ông rất nhiều trong cuộc sống về mặt vật chất cũng như tinh thần.Nó gồm có 3 tiểu đoạn mà nếu được trình diễn đầy đủ thì cũng phải mất tầm 20 phút, trong đó nổi tiếng nhất là tiểu đoạn 2 Adagio cantabile. Tiểu đoạn này nổi tiếng vì Beethoven đã biến tấu cách sử dụng nốt nhạc cao thấp liên hoàn đã nói ở trên khiến nó trở thành một giai điệu theo phong cách hát (phong cách cantabile) chứ không phải gò bó theo phong cách nhạc thính phòng thông thường. Cách biến tấu rất tài tình này của Beethoven truyền thêm cảm xúc cho bản nhạc, như đưa ra một trang giấy trắng để người nghe có thể tùy theo tâm trạng của mình mà viết lên đó sự cảm nhận riêng tư.Pathétique được sử dụng rất nhiều trong phim ảnh cũng như được vay mượn nhịp điệu để hòa âm với khá nhiều bản nhạc khác. Điều này đủ nói lên rằng bản nhạc rất được ưa thích, dù tiết tấu của nó không vui tươi như những bản nhạc của Mozart.PS : Nếu ai hay dẫm đạp lên cái máy nhảy ở khu trò chơi của mấy cái siêu thị chắc chắn sẽ nhận ra ngay giai điệu của chương 3 được phối khí lại một cách ì đùng, ầm ầm với cái tên Beethoven Virus :bong

Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 27 December 2009 - 06:06 AM


#14
pe-thu-trang

pe-thu-trang

    Nhà Thông Thái CSTH

  • Mod Giải Trí
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2173 Bài Viết:
:mad: Nhạc hay quá chàng, post thêm cho ta nghe đi :-&




Thế tình bạc, nhân tình ác. Mưa tiễn hoàng hôn hoa dễ rơi,gió nhẹ thổi ,lệ ngân tàn.
Dốc bầu tâm sự,độc ngữ tà lan. Khó! Khó! Khó!

#15
Kim Lam

Kim Lam

    Thành viên mới

  • Newbies
  • 13 Bài Viết:
Tác Phẩm : Concerto Le Quattro Stagionni (The Four Seasons Concerto)
Tác Giả : Nhà soạn nhạc người Ý Antonio Vivaldi (1678 – 1741)
Trình Bày : Nghệ sĩ vĩ cầm người Đức Julia Fischer


Concerto No.1 In E Rv.269 - La primavera (Xuân)



Concerto No.2 In G Minor Rv.315 - L'estate (Hạ)



Concerto No.3 In F Rv.293 - L'autunno (Thu)



Concerto No.4 In F Minor Rv.297 - L'inverno (Đông)





Không xa lắm so với thời điểm vua George I cùng hoàng gia Anh hân hoan nghe Water Music của George Frideric Handel (1685 – 1759) trên sông Thames, hoàng gia Pháp mà đứng đầu là vua Louis XV cũng hoan hỉ với món quà âm nhạc tương tự từ một người ngoại quốc.

Nhà soạn nhạc người Ý Antonio Vivaldi (1678 – 1741) đã viết tặng hoàng gia Pháp 3 serenade. Trong số đó, bản La senna festeggiante (Tiệc sông Seine) viết năm 1720 và mang đậm phong cách Pháp thời đó, được đề tặng cho vua Louis XV.

Nhờ 3 serenade này, danh tiếng của Vivaldi ở Pháp càng được củng cố hơn. Trước đó, các concerto Bốn Mùa của ông đã được đón nhận nhiệt liệt ở Pháp, nơi mà quan niệm về việc dùng âm nhạc mô phỏng thiên nhiên được chấp nhận và phát huy.

Vivaldi có lẽ là người sáng tác nhiều concerto nhất trong mọi nhà soạn nhạc lớn của châu Âu. Ông từng khoe rằng có thể sáng tác một bản concerto nhanh hơn thời gian một người chép nhạc có thể chép xong phân phổ cho các nhạc công trong dàn nhạc.

Các concerto Bốn Mùa được Vivaldi đề tặng Veenceslao Monzinm, một vị bá tước người Bohemia. Nhà soạn nhạc viết trong lời đề tặng: "Vì các concerto này có thể nói về bất cứ cái gì, tôi nghĩ thật đúng đắn khi xuất bản chúng cùng với những bài thơ sonnet kèm theo và lời giảng nghĩa cho mọi tác phẩm được viết ra. Tôi cảm thấy chúng sẽ được xem là hoàn toàn mới mẻ".

Như vậy, in cùng 4 concerto là 4 bài thơ thể sonnet miêu tả từng mùa. Bốn Mùa là một trong những đại diện của âm nhạc chương trình thời kỳ Baroque. Nếu bạn muốn bắt đầu với Vivaldi, Bốn mùa là một sự khởi đầu dễ dàng và hợp lý.

Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 02 December 2009 - 11:55 AM


#16
pe-thu-trang

pe-thu-trang

    Nhà Thông Thái CSTH

  • Mod Giải Trí
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2173 Bài Viết:
:d Bài này quen quá giờ mới biết tên...
Ta nghĩ chàng nên làm 1 khóa cơ bản ví dụ như các từ thường dùng, các đạo cụ âm nhạc, và ảnh hưởng của chúng . Lập thêm 1 topic mới chẳng hạn :busy , vì 1 số cái ta cũng hem hiểu lắm.
Ta cũng rất thích violon nhưng thích nhất là piano :d




Thế tình bạc, nhân tình ác. Mưa tiễn hoàng hôn hoa dễ rơi,gió nhẹ thổi ,lệ ngân tàn.
Dốc bầu tâm sự,độc ngữ tà lan. Khó! Khó! Khó!

#17
Kim Lam

Kim Lam

    Thành viên mới

  • Newbies
  • 13 Bài Viết:
Tác Phẩm : Symphony No.40 in G minor KV.550 (Bản giao hưởng số 40 cung Son thứ)
Tác Giả : Nhà soạn nhạc thiên tài người Áo Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791)
Trình Bày : Dàn nhạc Tokyo Chamber dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Yasuto Kimura


Chương 1:



Chương 2:



Chương 3:



Chương 4:






Ánh sáng rực rỡ của thời kỳ Cổ điển, việc sáng tác thách thức các nhạc sĩ thể hiện hiệu quả tối đa chính là những tác phẩm giao hưởng. Đây chính là một trong những viên ngọc ấy, tác phẩm được viết vào mùa hè năm 1788, lúc Mozart ba mươi hai tuổi.

Chỉ trong vòng sáu tuần lễ, ông đã viết xong ba bản Symphony là bản số 39 40 và 41. Đây là sự hiển diện của một năng lực sáng tạo huyền thoại. Giới âm nhạc gọi đó là "Sức mạnh Apôlông" "Sức mạnh quỷ thần" "... vượt lên trên khả năng của con người". Và bản Symphony này đã là một trong những tác phẩm viết về thể loại này nổi tiếng nhất, hoàn hảo nhất của ông.



PS : Nếu ai đã coi cái quảng cáo điện thoại LG Cookie KP500 thì chắc chắn là nhận ra ngay giai điệu bản giao hưởng số 40 của cụ Mozart :busy






Và nếu không lầm thì cái bản Never Say Goodbye của bọn Hàn Quốc cũng manh múm từ cái giao hưởng này :dede, nghe khắc biết 8->






To "nàng" : Để thong thả ta mần 1 topic nhạc lý căn bản luôn nhá :)

Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 05 December 2009 - 09:31 AM


#18
Kim Lam

Kim Lam

    Thành viên mới

  • Newbies
  • 13 Bài Viết:
Tác Phẩm : Sonata in G minor - The Devil's Trill (Bản sônat giọng Son thứ - Âm láy ma quỷ)
Tác Giả : Nhà soạn nhạc người Ý Giuseppe Tartini (1692 – 1770)
Trình Bày : Nghệ sĩ vĩ cầm Itzhak Perlman và đệm dương cầm Janet Goodman Guggenheim
















Tartini là một trong những nhà soạn nhạc kiêm nghệ sĩ violon nổi tiếng trong lịch sử âm nhạc. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của ông là bản sonata trên.

Âm láy ma quỷ được viết cho violon cùng phần đệm basso continuo. Đây là một tác phẩm nổi tiếng vì đòi hỏi không chỉ kỹ thuật chơi violon cực khó, ngay cả với thời nay, mà còn cả mức độ biểu cảm nội tâm sâu sắc - một của hiếm vào thời của Tartini.

Âm láy ma quỷ được xuất bản lần đầu năm 1798, nhiều năm sau khi tác giả qua đời. Rất nhiều giai thoại được dựng lên xung quanh cái tên và nguồn gốc ra đời tác phẩm. Nhưng giai thoại nào cũng cho rằng Âm láy ma quỷ khởi nguồn từ một giấc chiêm bao.

Trong một giấc mơ của Tartini khi ông ẩn náu tại tu viện Thánh Francis tại Assini, quỷ sứ đã hiện lên ở chân giường ông và chơi một bản sonata. Lúc thức dậy, Tartini đã sáng tác một bản sonata cho đàn violin, mô phỏng tác phẩm mà ông đã nghe quỷ sứ chơi trong giấc mơ.

Theo một giai thoại khác thì chính Tartini đã kể với nhà thiên văn học Jérôme Lalande rằng ông mơ thấy quỷ sứ hiện ra và đề nghị được làm người phục vụ ông. Cuối những bài học giữa họ, Tartini trao cho quỷ sứ cây đàn violon của mình và kiểm tra kĩ năng chơi của nó.

Ngay lập tức quỷ sứ chơi đàn với một trình độ bậc thầy khiến Tartini như nghẹt thở. Khi Tartini thức dậy, ông lập tức chép lại bản sonata, cố gắng nắm bắt được những gì ông nghe được trong giấc mơ.

Giai thoại chỉ là giai thoại nhưng chuyện Tartini từng ẩn náu tại tu viện Thánh Francis tại Assini là có thật. Vì kết hôn với Elisabetta Premazone - người thiếu nữ được một hồng y giáo chủ thế lực để mắt tới, Tartini bị vu cho tội bắt cóc Elisabetta Premazone. Tartini phải bỏ trốn tới tu viện nơi ông có thể thoát khỏi truy tố và tiếp tục chơi violin.


Phần lớn bản sonata mang những đặc trưng hoàn toàn theo thông lệ sonata thời bấy giờ. Tấn bi kịch nội tâm được thể hiện qua những giai điệu bóng bẩy, những nốt láy duyên dáng ngập tràn trong tác phẩm.

Dường như một bức tranh mô tả nụ cười của một người con gái hồng nhan bạc phận đang hiện dần lên. Nụ cười tươi tắn không che giấu nổi nội tâm giằng xé: giữ gìn thiên lương hay buông mình cho quỷ sứ?
Yếu tố âm nhạc liên quan đến cái tên của tác phẩm xuất hiện ở đoạn cadenza chói sáng gần cuối tác phẩm. Trong đoạn cadenza này, kĩ thuật láy/rung (trill) rất khó vì đòi hỏi người biểu diễn phải rung trên một dây đàn trong khi phải lướt nốt thật nhanh trên một dây khác.

Ngay cả nghệ sĩ vĩ cầm có tiếng là Leopold Mozart (cha của Wolfgang Amadeus Mozart vĩ đại) cũng đánh giá: "những nét lướt đó đòi hỏi một kĩ xảo không xoàng." Sau đoạn cadenza khá dài, bè basso continuo tham gia trở lại trong ít nhịp cuối cùng đầy kịch tính. Cao trào đấu tranh nội tâm vừa mới qua nhưng câu trả lời cuối cùng vẫn chưa hề xuất hiện.

Tuy rất thành công khi biểu diễn sonata Âm láy ma quỷ trước các thính giả của mình nhưng Tartini vẫn khẳng định: "còn thua xa so với những gì tôi đã được nghe""nếu tôi có thể kiếm sống bằng phương tiện khác, tôi đã đập cây đàn violon và từ bỏ âm nhạc mãi mãi."


Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 17 December 2009 - 12:56 AM


#19
Kim Lam

Kim Lam

    Thành viên mới

  • Newbies
  • 13 Bài Viết:
Tác Phẩm : Adagio in G minor (Bản Adagio cung Son thứ)
Tác Giả : Nhà soạn nhạc người Ý Remo Giazotto (1910 - 1998)
Trình Bày : Vĩ cầm - César Velev & Organ - Harumi Kinosita





Có nhiều nhà soạn nhạc mà tên tuổi được đông đảo thính giả nhạc cổ điển ngày nay nhớ đến đến chỉ bằng một tác phẩm duy nhất. Và lẽ ra Tomaso Giovanni Albinoni (1671 - 1751) đã ở trong danh sách này nếu như không có một sự thật mới được phơi bày rằng tác phẩm nổi tiếng Adagio in G minor không phải do ông sáng tác.

Năm 1945, một nhà âm nhạc học người Milan là Remo Giazotto tới thành phố Dresden để tìm kiếm tư liệu hoàn thành tiểu sử và danh mục tác phẩm của Albinoni. Trong đống đổ nát của thư viện bang Saxony tại Dresden đã bị bom của quân Đồng minh phá hủy, Giazotto tìm thấy một đoạn bản thảo dở dang.

Đoạn bản thảo này chỉ gồm dòng bè trầm và sáu ô nhịp của phần giai điệu, có lẽ được dự tính cho một chương chậm của một bản Trio Sonata hay Sonata da Chiesa (sonata nhà thờ) nào đó của Albinoni, nhà soạn nhạc thời Baroque mà Giazotto đang nghiên cứu tiểu sử.

Năm 1958, Giazotto cho xuất bản tác phẩm Adagio giọng Sol thứ viết cho dàn dây và đàn organ. Giazotto khẳng định rằng bản nhạc này được ông chuyển soạn dựa trên đoạn bản thảo dở dang nói trên của Albinoni.

Adagio giọng Sol thứ được coi là một trong những mẫu hình âm nhạc tuyệt vời nhất của thời kỳ Baroque và mau chóng trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới. Nó có mặt trong vô số tuyển tập nhạc cổ điển chọn lọc nơi mà nó sánh ngang với những trích đoạn nổi tiếng của các tên tuổi lớn thời Baroque như Vivaldi, Bach, Handel...

Tác phẩm này còn lan tỏa vào văn hóa đại chúng vì được sử dụng trong rất nhiều bộ phim, chương trình truyền hình và ca khúc nhạc pop ăn theo. Những bản thu âm mới của Adagio giọng Sol thứ do các nghệ sĩ nhạc cổ điển thực hiện vẫn đều đặn xuất hiện hàng năm.






Và rồi người ta đã khám phá ra trò lừa gạt của Giazotto: cái gọi là khúc Adagio của Albinoni hoàn toàn là sáng tác của chính Giazotto chứ không phải của Albinoni. Thư viện bang Saxony tại thành phố Dresden chưa từng sở hữu một đoạn bản thảo dang dở nào của Albinoni như Giazotto đã công bố.

Những trò lừa gạt kiểu này không phải là hi hữu trong thế giới âm nhạc cổ điển. Khá nhiều tác phẩm nổi tiếng mà công chúng và giới phê bình tưởng rằng là sáng tác của các nhà soạn nhạc hàng thế kỉ trước hóa ra lại mới được sáng tác gần đây bởi những Giazotto.

Các bản Violin Concerto "Adelaide" của Mozart; Viola Concerto của Handel; Cello Concerto của Bach hóa ra lại do anh em nhà Casadesus sáng tác. Violin Concerto in C major của Vivaldi; Aubade Provençale của Couperin... hóa ra là tác phẩm của của Fritz Kreisler.

Tomaso Giovanni Albinoni có một khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm hơn 80 vở opera, 40 solo cantata, 79 sonata, 59 concerto và 8 sinfony... Những sáng tác của ông từng được Johann Sebastian Bach ca ngợi và sử dụng trong việc dạy nhạc. Bach cũng sử dụng một số chủ đề của Albinoni để viết các bản fugue cho đàn phím.

Và thật trớ trêu cho Albinoni khi ngày nay ông lại được nhớ đến nhiều nhất qua một tác phẩm không do mình sáng tác - bản Adagio giọng Sol thứ của Remo Giazotto.


PS : Khuyến mãi thêm một màn trượt băng nghệ thuật trên nền bản nhạc này :-$




Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 17 December 2009 - 12:57 AM


#20
Kim Lam

Kim Lam

    Thành viên mới

  • Newbies
  • 13 Bài Viết:
Tác Phẩm : Piano Concerto No. 20 in D minor, K.466 (Bản côngxéctô cho đàn dương cầm số 20 cung Rê thứ)
Tác Giả : Nhà soạn nhạc thiên tài người Áo Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791)
Trình Bày : Chỉ huy kiêm dương cầm : Friedrich Gulda, dàn nhạc Munich


Chương 1:





Chương 2:



Chương 3:




Là một trong những tác phẩm âm nhạc hay nhất của Mozart, sáng tác năm ông 29t, tác phẩm như một dòng chảy tự nhiên và có sức quyến rũ khôn tả. Trong số 27 piano concerto của ông thì đây vẫn là tác phẩm thu hút được nhiều nhất sự chú ý của các nghệ sĩ piano ngày nay. Vì thế chúng ta có vô vàn lựa chọn thu âm để có thể thưởng thức tác phẩm "gần như một huyền thoại" này.

Nhà lý luận âm nhạc Charles Rosen nhận định: "đây gần như là một huyền thoại về tác phẩm nghệ thuật... đôi khi khó có thể nói rằng liệu chúng ta đang nghe tác phẩm hay nghe danh tiếng của nó..."

Tác phẩm gồm 3 chương lần lượt là Allegro, Romanza và Allegro assai. Ngoài ra, khi biểu diễn concerto các nghệ sĩ độc tấu thường chơi thêm vào đó những khúc cadenza (do mình hoặc người khác viết) để phô diễn tài năng trình tấu.

Chúng ta không có những cadenza do chính Mozart viết cho bản concerto này. Tuy nhiên nhiều nhà soạn nhạc kiêm nghệ sĩ piano nổi tiếng đã viết những khúc cadenza cho tác phẩm này như Ludwig van Beethoven, Johannes Brahms, Johann Nepomuk Hummel, Felix Mendelssohn, Carl Reinecke, Clara Schumann, Bedrich Smetana... Beethoven thậm chí còn viết tới hai khúc cadenza để nghệ sĩ chơi ở chương đầu và chương cuối.

PS : Clip giới thiệu ở trên là chơi khúc cadenza do Beethoven viết.

Bài viết này được chỉnh sửa bởi pe-thu-trang: 24 December 2009 - 04:13 AM







Perfumista - Thong tin nuoc hoa

Stars Counter Game

Balloon vs. Thorns

MU Phuc Hung

Làm Việc Tài Nhà

Mu Da Nang

Tuyển Nhân Viên Bán Hàng

Tư vấn sức khỏe trực tuyến

Close [X]