Jump to content

Welcome to [ iT ] Forums
Register now to gain access to all of our features. Once registered and logged in, you will be able to create topics, post replies to existing threads, give reputation to your fellow members, get your own private messenger, post status updates, manage your profile and so much more. If you already have an account, login here - otherwise create an account for free today!
Cộng đồng Âm nhạc Việt Nam

Hình ảnh

GIẢI MÃ TRUYỆN TÂY DU KÝ


  • Please log in to reply
10 replies to this topic

#1
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:
GIẢI MÃ TRUYỆN TÂY DU
LÊ ANH DŨNG
Tên sách: Giải mã truyện Tây du

Tác giả: Dũ Lan Lê Anh Dũng Nhà xuất bản: Thanh niên

Ngày xuất bản: 1/2006 Số trang: 208 Kích thước: 14 x 20cm Trọng lương: 200g Giá bìa: 22.000 VNĐ


Lời mở đầu


Bản in mới (năm 2000) Văn dĩ tải Đạo. Truyện Tây du mượn chuyện thỉnh kinh, đấu phép, bắt yêu để chở chuyên đạo lý giải thoát của thánh hiền, tiên phật. Nói ngay như vậy là để lập tức xác định rằng siêu vượt lên cốt truyện đầy những tình tiết ly kỳ, hấp dẫn, truyện Tây du vốn hàm chứa nhiều ý nghĩa thâm thúy về đạo pháp. Với một căn bản về Phật học và Lão học, nhất là Thiền học, khi đã gẫm suy, xét kỹ truyện Tây du, người đọc sẽ có dịp khám phá ra mật ngữ hình nhi thượng(esoteric) được che giấu tài tình, nằm ẩn khuất khéo léo sau những chương hồi gay cấn, tưởng chừng như chỉ nhằm thỏa mãn thị hiếu giải trí của đại chúng mà thôi. Thật vậy, với người đọc truyện Tây du giữa hai hàng chữ, kỳ thư này sẽ dẫn dắt đi vào huyền nghĩa ẩn áo của đạo học phương Đông. Nói cách khác, Tây du ký của Ngô Thừa Ân cần được một lần khơi mở, để thử khám phá.

Thoạt đầu, căn cứ theo bộ tiểu thuyết mười tập của các dịch giả Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh (Nxb Văn học Hà Nội, in từ năm 1982 đến năm 1988), Giải mã truyện Tây du hình thành và được đăng dần trên tập san Văn hóa & Đời sống từ tháng 9-1991 đến tháng 4-1992, tổng cộng gồm chín bài:

1. Đường Tăng! Anh là ai?
2. Trăng sao cửa động đá đầu non
3. Ngọn gió trong lò
4. Núi cao chi mấy núi ơi!
5. Vạn năm chờ quả chín
6. Bốn biển không yên cơn lửa trẻ
7. Sáu bảy mười ba
8. Nẻo về bên ấy
9. Nỗi lòng giấy trắng

Khi Giải mã truyện Tây du xuất bản lần thứ Nhất (1993, 144 tr.), trong Phụ lục, sách được bổ sung ba bài: 1. Tâm lập 2. Hư thực đôi điều 3. Trường xuân Chân nhân Tây du ký Không kể các bài điểm sách được in lại trong Dư âm Giải mã truyện Tây du, đến bản in lần thứ Nhì (Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 1995, 228 tr.), sách có thêm hai phụ lục khác:
1. Tây du ký có bài Lão tôn Phật không?
2. Nói chuyện Trư Bát giới
Trong bản in lần thứ Ba này, ngoài một ít sửa chữa nhỏ, nội dung sách còn tiếp tục được bổ sung như sau:
– Bài Nỗi lòng giấy trắng bổ sung lời giải huyền nghĩa vì sao ở chùa Lôi âm, khi đòi Đường tăng dâng lễ vật hai vị tôn giả A nan và Ca diếp lại bảo: “Tay trắng trao kinh truyền đời người sau đến chết đói mất.”

– Phần Phụ lục bổ sung thêm hai bài:
1. Đường tăng thỉnh kinh: hư cấu và lịch sử.
2. Hầu vương trong Tây du ký được hư cấu như thế nào? Người viết mong rằng những phần mới hiệu đính và tăng bổ trong bản in kỳ này sẽ có thể mang đến cho những người hâm mộ truyện Tây du niềm vui được thưởng thức và khám phá một danh tác bất hủ đời Minh, đã trải qua hơn bốn trăm năm tuổi.

Trân trọng, Phú Nhuận, 18 tháng 4 năm 2000 LÊ ANH DŨNG

Phụ lục

Đường tăng! Anh là ai?
Năm mà một
Long mã
Sa tăng
Bát giới
Tề thiên
Đường tăng
Cà sa và tích trượng
Yêu tinh
Một hình ảnh hai cuộc đời
Đi tìm nghịch lý
Trăng sao cửa động đá đầu non
Tâm viên ý mã - Đỉnh đá đơn côi
Một ánh trăng khuya
Ba sao hiu hắt
Ơn thầy như núi Thái
Sao gởi gió ngàn bay?
Lặng lẽ một phương trời lữ thứ
Mình riêng mình soi bóng cô liêu
Cát bụi chân ai
Còn đây lòng trẻ
Ngọn gió trong lò T
hất thất và cửu cửu
Số 5, số 9 và cung Tốn trong Dịch
Lò bát quái
Lò bát quái đặt ở đâu?
Lửa nào đốt lò bát quái?
Tốn là gió
Núi cao chi mấy núi ơi
Di đà và Thích ca
Trời và người
Bàn tay trùm vạn dặm
Ngũ hành năm ngọn
Lá bùa sáu chữ
Ăn sắt uống đồng
Vạn năm chờ quả chín
Những điều vô lý khi tả cây nhân sâm
Những sợi chỉ mỏng manh
Bốn biển không yên cơn lửa trẻ
Ngọn lửa trớ trêu
Ai người đốt lửa?
Bản tướng Hồng hài nhi
Sáu bảy mười ba Sáu tên cướp
Bảy con yêu tinh
Nẻo về bên ấy
Tam giáo một nguồn
Đường vô xứ Phật
Trên bến Lăng vân
Nỗi lòng giấy trắng
Ba lần thỉnh pháp
Mật nghĩa việc đánh đổi bình bát
Vì sao A nan và Ca diếp sợ người sau chết đói?
Từ kinh vô tự đến kinh hữu tự (pháp vô vi ra pháp hữu vi)
Tâm lập
Hư thực đôi điều
Lý Chí Thường Trường xuân Chân nhân tây du ký [trích dịch]
Trích dịch Lý Chí Thường Trường Xuân Chân nhân tây du ký
Tây du ký có bài Lão tôn Phật không?
Nói chuyện Trư Bát giới
Đường tăng thỉnh kinh hư cấu và lịch sử
1. Thân thế Đường tăng
2. Họ Trần xuất gia
3. Nguyên nhân đi thỉnh kinh
4. Hai người hộ tống Đường tăng
5. Con ngựa của Đường tăng
6. Đường tăng bị cái nóng thiêu đốt
7. Đường tăng là ngự đệ
8. Các lần gặp cướp
9. Các yêu quái ăn thịt người
10. Kỳ thị tín ngưỡng
11. Về chùa Lôi âm 1
2. Về việc kinh bị chìm xuống
sông
13. Bài văn của vua Đường Thái tông
14. Kết quả cuộc thỉnh kinh Hầu vương được hư cấu như thế nào?

1. Giác ngộ lẽ vô thường
2. Nhân duyên trò tìm được thầy
3. Thầy hỏi mục đích đi tu của trò
4. Buổi sơ kiến thầy trò nói đến tánh
5. Phải công quả trước khi thọ pháp
6. Thầy sợ trò bị đồng môn ám hại
7. Thầy ra ám hiệu hẹn giờ để bí mật truyền riêng pháp môn
8. Truyền pháp xong thầy buộc trò lập tức ra đi

Sẽ lần lượt post hết các mục trên ^^ trong khả năng có thể

Đường tăng! Anh là ai?

Posted Image

Năm mà một Tây du ký là câu chuyện trường thiên về hành trình qua phương Tây thỉnh kinh của năm thầy trò: Tam tạng, Tề thiên, Bát giới, Sa tăng, và con ngựa trắng. Thông thường, người ta sơ ý, chỉ kể có bốn, quên đi con ngựa, nguyên là con rồng ngọc (ngọc long), thái tử thứ ba, con của Tây hải Long vương Ngao Nhuận. Quên kể đến ngựa rồng, phải chăng vì vai trò đỡ chân cho Đường tăng của ngọc long tam thái tử hình như có vẻ lu mờ? Hay quên kể, vì không thấy ở Tây du ký tản mác ẩn ngữ nơi này, rải rác ẩn dụ nơi kia, mà ngòi bút của Ngô Thừa Ân đã ung dung viết như giỡn chơi, như bông đùa, mà ý hàm tàng thì rất thực. Và nên hiểu chỗ thực trong cái hư của Tây du ký, nét nghiêm trang trong vẻ bỡn cợt của Ngô Thừa Ân như thế nào?

Tây du ký là truyện xuất thế gian, do đó không có dấu ấn của Nho giáo, vì Nho giáo về cơ bản là đạo nhập thế, thuộc phạm vi hình nhi hạ học mà ngày nay Cao Đài gọi là ngoại giáo công truyền (exoterism). Đọc Tây du mà bảo Ngô Thừa Ân có cái gọi là tư tưởng chống Trời, chống thiên tử, tức là đã quên đi ngay từ ban đầu câu chuyện xuất gia, thỉnh kinh vốn đã hàm ngụ ý ngoại thế gian pháp[1]. Tây du nào có chống ai đâu, vì Tây du là câu chuyện ngụ ngôn, đem chuyện thỉnh kinh để diễn bày tư tưởng thiền học giải thoát trong đạo Lão, đạo Phật, thuộc phạm vi hình nhi thượng học mà ngày nay Cao Đài gọi là nội giáo tâm truyền (esoterism). Muốn đọc Tây du, hiểu Ngô Thừa Ân, cần thiết biết đọc giữa hai hàng chữ, nắm lấy bốn chữ ý tại ngôn ngoại (ý ở ngoài lời).

Như chép ở kinh Viên giác, Phật bảo lấy ngón tay chỉ trăng, nếu đã thấy mặt trăng thì có thể biết rằng phương tiện để chỉ trăng rốt cuộc chẳng phải là mặt trăng. Trang tử khuyên: «Có nơm vì cá, đặng cá hãy quên nơm. Có dò vì thỏ, đặng thỏ hãy quên dò. Có lời vì ý, đặng ý hãy quên lời.» Thế thì, vượt lên trên mọi hư cấu văn chương của Tây du ký với tài hí lộng chữ nghĩa của Ngô Thừa Ân, cuộc thỉnh kinh của Đường tăng thực chất là chi? Đường tăng là ai đó? Nước Thiên Trúc với chùa Lôi âm ở đâu? Sẽ là sửng sốt nếu nói rằng Đường tăng vẫn còn đang thỉnh kinh dù đã thỉnh kinh xong rồi từ vạn cổ. Tề thiên đã hàng phục xong thiên ma vạn quỷ, đã cởi được kim cô niệt đầu, đã được Phật tổ tán thán là Đấu chiến thắng phật ở giữa bửu điện trang nghiêm của chùa Lôi âm, nhưng Tề thiên vẫn còn đang và vẫn sẽ còn tiếp tục vất vả đánh nhau với yêu tinh ma quái. Mãi mãi cuộc chiến đấu vẫn chưa xong.

Tề thiên nào đã thành phật? Tề thiên nào chưa thành phật? Yêu ma nào đã quy hàng? Yêu ma nào còn chưa ngừng dấy động phong ba? Nước Thiên Trúc với chùa Lôi âm không ở về phương Tây, và cũng không phải là một địa danh trên bản đồ kim cổ. Vậy, cuộc thỉnh kinh đi về phương trời nào viễn xứ? Nên ta thử hỏi lớn tiếng rằng: Đường tăng! Anh là ai? Câu hỏi ấy phải chăng xấc xược? Sao lại dám xưng hô với Đường tăng là... Anh? Ta cứ hỏi nữa: Đường tăng! Anh là ai?

Cũng là ta hỏi chính ta đó thôi. Mỗi một người trong chúng ta đều là Đường tăng. Mỗi thời đại của quá khứ, hiện tại và vị lai đều có Đường tăng, đều vẫn đã, đang và sẽ còn tiếp tục thỉnh kinh. Cuộc thỉnh kinh chính là hành trình đầy trắc trở của mỗi người trong chúng ta truy tầm Chân lý - tìm cái mà Lão tử gượng cho là Đạo, gọi tên là Xích tử chi tâm, Phật mệnh danh là Bổn lai diện mục, và Cao Đài ngày nay bảo là Nhân bản hay Thượng đế tính - vốn dĩ đã sẵn tàng ẩn trong mỗi con người. Đi về đâu để có được Chân lý đó? Thiên Trúc ư? Hà xứ tại?

Thưa rằng nước Thiên Trúc ấy nào có đâu xa và con đường thỉnh kinh cũng chẳng phải là hành trình từ phương Đông qua phương Tây diệu vợi. Vương Dương Minh bảo: Vũ trụ là tâm ta, tâm ta là vũ trụ. Ngô Thừa Ân ám chỉ: Thiên Trúc là thân ta, thân ta là Thiên Trúc. Kinh báu chùa Lôi âm là hình ảnh tượng trưng cho Chân lý, nó nằm trong tự thân nội thể con người. Cuộc thỉnh kinh vì vậy là con đường quy hướng về nội tâm của mỗi người, là hành trình phản tỉnh nội cầu, quay lại nhìn vào chính nội thân của mình, tìm thấy trong chính ta cái chân lý: Người là một thiêng liêng tại thế, cùng với Trời đồng thể linh quang (ánh sáng thiêng liêng).

Do đó phải nói rằng bộ phim Tây du ký hai mươi lăm tập của nữ đạo diễn Trung Quốc Dương Khiết đã rất tài tình khi nhạc mở đầu cho phim là bài hát «Con đường nào ta đi...» Con đường thỉnh kinh là đường trở về nội tâm. Trên con đường cô đơn đó, ta là Đường tăng, và ta cũng là Tề thiên, Sa tăng, Bát giới, long mã. Như vậy cuộc thỉnh kinh phải bắt buộc đủ bộ năm thầy trò. Thiếu một là không được! Nhưng năm mà một: là một con người với năm phương diện.

Long mã

Posted Image

Con ngựa mà vua Đường cấp cho Đường tăng bắt buộc phải chết đi, để đem thay bằng ngựa thần, ngựa rồng. Ngựa là xác thân. Ngựa thần là xác thân cương kiện. Một tinh thần minh mẫn trong một xác thân tráng kiện. Con người đi tìm Chân lý, tìm Đạo, cần có xác thân vững vàng, khoẻ mạnh. Không có ngựa tốt thì Đường tăng không tới được Lôi âm. Người mà thể xác bịnh hoạn, tinh thần ươn hèn thì làm sao có thể quyết tâm chiến đấu để đạt tới Chân lý, đạt Đạo?

Sa tăng
Posted Image

Sa tăng là tánh cần cù, nhẫn nại. Ngô Thừa Ân bắt Sa tăng phải nhọc nhằn gánh hành lý là lẽ ấy. Tề thiên mấy bận giận Thầy, mấy phen đào nhiệm, từng quay về Thủy liêm động quê xưa; Bát giới nào có thua, đã trăm lần ngàn lượt cứ lẻo nhẻo đòi chia của, rồi mạnh ai đường nấy, chàng về cố thổ lấy vợ cho xong. Chỉ riêng có Sa tăng suốt cuộc hành trình thiên ma bách chiết, vào yêu ra quỷ, một lòng một dạ quảy hành trang tiến tới. Không một lời thối lui. Không một lòng biến đổi. Sa tăng là hình ảnh của tinh tấn, trì thủ, tâm bất thối chuyển. Dù khó khăn đến đâu, đã quyết rồi, thì cứ đi tới. Khí giới của Sa tăng vì thế là bảo trượng có đầu dẹp và bén nhọn, để mà dễ dàng găm chặt vào, ghim chặt vào. Chí đã định rồi thì không biến đổi, lòng đã quyết rồi thì chẳng chuyển lay. Pháp danh của Sa tăng vì thế là Ngộ tịnh: tịnh để mà khắc chế cái động, cái chưa thanh tịnh; tịnh để mà kham nhẫn, chịu đựng.

Bát giới
Posted Image

Bát giới là tánh tham. Tham ăn, tham ngủ, tham của, tham sắc và tham nịnh nọt cho được lợi về mình. Khí giới của họ Trư vì thế phải bắt buộc là đinh ba, là cào cỏ, để mà vơ vào cho nhiều, cho vừa lòng tham dục. Bát giới là sự tập hợp những bản năng rất vật dục và tầm thường nơi con người. Có lẽ vì thế mà pháp danh của chàng là Ngộ năng[2].

Tề thiên

Posted Image

Tề thiên là trí, lý trí. Bộ phim Tây du của nữ đạo diễn Trung Quốc Dương Khiết cho thấy đạo diễn dường như đã hiểu được vai trò quan trọng của Tề thiên. Lý trí phải dẫn dắt, phải soi đường cho hành động. Thế nên, trong phim, luôn luôn vai Tề thiên đều đi trước, để dẫn đầu mấy thầy trò. Lý trí ưa nổi loạn, ngang tàng phách lối, chẳng chịu thua kém nhường nhịn ai. Cho nên Tề thiên coi mình to ngang với Trời (Tề thiên: bằng Trời), và muốn lên trời xuống biển, quậy phá đều làm được tất, không chút đắn đo, chẳng hề ngần ngại.

Đối với Trời vẫn tự xưng «Lão Tôn» là tánh kiêu căng. Trước mặt Trời vẫn nghinh ngang, đứng xổng lưng không chịu quỳ, ăn nói lôi thôi bất kể tôn ti trật tự, đó là tượng trưng cho đầu óc duy lý của những người muốn phủ nhận Thượng đế. Lý trí ưa phân biện, cho nên Tề thiên mới có con mắt lửa tròng vàng, nhìn một cái là thấy rõ bản chất và hiện tượng, biết ngay ai đúng là căn tiên cốt phật, ai đậy che dáng quỷ hình ma. Lý trí cũng thích đả phá, ưa đả kích, cho nên khí giới của Tề thiên phải là thiết bổng (gậy sắt), để mà đập phá. Pháp danh của Tề thiên vì thế là Ngộ không: Không (sunyata) để mà siêu vượt lên mọi đối đãi của thế giới sắc tướng và thế giới phi sắc tướng. Lý trí, tư tưởng đã suy xét, đã vận động thì ôi thôi, thiên biến vạn hóa. Cho nên thiết bổng của Tề thiên khi nặng thì nặng vô cùng, mà lúc nhẹ thì nhẹ hơn mảy lông, muốn to nhỏ ngắn dài tùy ý, nhét gọn lỗ tai cũng xong, thế nào cũng được. Đó cũng là tư duy, ngôn ngữ, lý lẽ của con người. Hay cũng nó. Dở cũng nó. Bóp méo, vo tròn đều được cả. Đó vốn là nghề của chàng.

Lý trí vì những «thuộc tính» như thế nên cần thiết phải được uốn nắn luôn luôn cho hợp với kỷ cương, khuôn phép. Tề thiên bởi vậy mà phải đội kim cô. Tuy nhiên, khi về tới chùa Lôi âm, thành phật rồi, không cần cởi, vòng kim cô tự lúc nào đã biến mất. Cái trí con người khi đã thuần dưỡng thì không cần kỷ luật nó vẫn vận động đúng. Giống như trẻ con mới đi học, tập viết phải có giấy kẻ hàng đôi, đến chừng lớn lên viết giỏi rồi, giấy chẳng vạch hàng kẻ ô vẫn dễ dàng viết ngay ngắn. Cái trí của con người còn có một đặc điểm là xẹt rất lẹ, phóng rất nhanh, cực nhanh. Ngồi ở Sài Gòn mà có thể lan man nghĩ ngợi tới tận đâu đâu, như chu du năm châu dạo cùng bốn biển; chuyện mấy chục năm quá khứ, chớp mắt một cái là cả cuốn phim dĩ vãng trường thiên vùn vụt hiện về.

Diễn tả ý này, truyện Tây du bảo Tề thiên có được phép cân đẩu vân, «mỗi cân đẩu vân đi được mười vạn tám nghìn dặm» [TDK I 1982: 63]. Con số 108.000 dặm ngoài ý nghĩa tượng số học[3] còn nhằm ám chỉ tốc độ khủng khiếp của tư tưởng con người.

Đường Tăng

Đường tăng là con người có lòng từ bi, nhân hậu, bao dung, có quyết tâm tu hành vượt qua muôn vàn cám dỗ. Truyện Tây du chưa lột được cái đấu tranh ghê gớm của Đường tăng ở Tây Lương nữ quốc và khi chàng rơi vào tay yêu nữ động Tỳ bà [TDK VI 1988: 88-92, 108-109], thì bộ phim Tây du của Trung Quốc đã dàn dựng rất đạt những thử thách này. Đường tăng trong hai đoạn phim ấy hoàn toàn là một con người bằng xương bằng thịt, có giới hạn mà bản thân Đường tăng không thể vượt qua, nếu không được Tề thiên giải cứu kịp thời. Đường tăng còn có tánh phàm, u mê, nhu nhược, ba phải. Đọc truyện hay xem phim Tây du ai cũng dễ thấy ghét... chàng.

Một trăm lần Tề thiên cản: Yêu ma đấy, Thầy chớ có cứu. Và đủ một trăm lần Đường tăng cãi, cứ cứu, để rồi mắc nạn vương tai. Đó là nhận giặc làm con vì sự nhận thức của cảm tính không biết nghe theo tiếng gọi sáng suốt của lý trí. Đường tăng cứ lặp đi lặp lại những sai lầm của mình, và không có sai lầm nào giống sai lầm nào. Con người cũng thế, cứ đi từ sai lầm này đến sai lầm khác mà thôi, nếu không nghe theo lý trí, lương tâm mà chỉ biết chìu theo vọng tâm, tình cảm nhất thời. Trong các đệ tử, Đường tăng thường «cưng» ai nhứt?

Chàng vốn tỏ ra cưng Bát giới hơn cả. Bát giới tượng trưng cho các bản năng dục vọng tiềm tàng trong tâm mỗi người; vậy, phải chăng chính ta, ta vốn vẫn thường có xu hướng nhắm mắt đưa chân, phớt lờ cái lẽ đúng mà nuông chìu theo thói hư tật xấu của mình? Trong Tây du, luôn luôn xảy ra những mâu thuẫn có khi gay gắt giữa Tề thiên và Đường tăng, khiến cho thầy trò phải mấy phen chia lìa, thậm chí ngay khi Tề thiên mới bái Đường tăng làm sư phụ xong mà đã vội giận dữ bỏ đi [TDK II 1982: 84]. Đó cũng là cách biểu tượng hóa những đối nghịch giữa lý trí với tình cảm, cảm tính.

Cà sa và tích trượng

Đường tăng rõ ra là lương tri, nhưng tiếng nói của lương tri nhiều khi quá yếu mềm trước những sức mạnh đối kháng. Ngoài cái lý trí (là Tề thiên) chống đỡ, bảo vệ, Đường tăng còn cần phải được trang bị thêm hai phương tiện hữu hiệu để hộ thân, tự vệ. Đó là cà sa và tích trượng. Cà sa là áo giáp chở che, tích trượng để thêm sức cho đôi chân vững vàng trụ lập. Cà sa và tích trượng ấy chính là đạo đức chân chánh của con người. Có đạo đức, con người đủ khả năng tự phòng thủ, tự bảo vệ mình khỏi sa chân vào tội lỗi lạc lầm, tránh xa được sự trừng phạt của ngục hình đày đọa. Cho nên, khi Phật tổ Như lai sai A nan và Ca diếp mang áo cà sa gấm và tích trượng chín vòng trao cho Quan âm Bồ tát, đã dặn dò rằng:

«Tấm áo cà sa và cây gậy này đưa cho người lấy kinh dùng.
Nếu người ấy (...) mặc tấm áo cà sa của ta, thì thoát khỏi luân hồi; cầm gậy tích trượng của ta thì không bị hãm hại.» [TDK I 1982: 190]. Và khi ở kinh thành Trường An, giải thích chỗ quý báu của cà sa, Quan âm Bồ tát cũng bảo: «Mặc tấm áo cà sa của ta thì không bị đắm chìm, không sa địa ngục, không gặp tai ương ác độc, không bị hoạn nạn sói lang.» [TDK II 1982: 36]

Trong bộ phim Tây du hai mươi lăm tập của Trung Quốc, nữ đạo diễn Dương Khiết có lẽ đã hiểu tường tận ý nghĩa cà sa là áo giáp đạo đức hộ thân, cho nên rất tài tình khi dàn dựng cảnh yêu nữ động Tỳ bà quyến rũ Đường tăng sa vào sắc dục. Lúc ấy Đường tăng như trong cơn mộng du, lảo đảo bước gần tới vòng tay yêu nữ đón mời, và mảnh cà sa đỏ rực bỗng nhẹ tênh, vuột bay khỏi thân Đường tăng. Còn tấm áo, Đường tăng còn an ổn; áo vuột rơi rồi, tội lỗi mở cửa chực chờ. Đạo đức mất đi, cái xấu chen vào.

Yêu tinh

Yêu tinh quỷ quái hằng hà sa số cản đường ngăn lối cuộc thỉnh kinh cũng là những thói hư tật xấu của chính ta. Yêu tinh có hai loại. Có thứ là giống chồn cáo, rắn rít, cọp beo... biến thành. Hình ảnh này là ẩn dụ con người luôn luôn đương đầu với cái xấu, cái ác, các nghịch cảnh từ bên ngoài tác động vào bản thân. Loại yêu quái này luôn luôn bị Tề Thiên đập chết, không ai cứu chúng. Trên nẻo đường truy cầu Chân lý, tìm Đạo, con người phải dũng mãnh, nghị lực, quyết tâm san bằng mọi trở lực, chướng ngại ngoại lai để đạt cho kỳ được cứu cánh chân lý của mình. Dứt khoát không khoan nhượng. Nhưng... lại kỳ quặc hơn, có thứ quỷ quái mà Tề Thiên vừa vung thiết bổng định đập chết, thì liền có tiên này phật kia hiện ra cản lại, xin tha mạng chúng để rồi mang về thượng giới quản lý.

Loại yêu này xét lý lịch đã rõ, vốn là các con thú con vật mà các vị ở cõi trời nuôi giữ, chẳng may để sổng, nên chúng lẻn xuống trần làm tinh ma quái quỷ[4]. Có người xem phim hay đọc truyện Tây du, gặp những chỗ như vậy, liên hệ gần xa rồi nhếch miệng cười: Tưởng sao, cũng là một kiểu «xử lý nội bộ»! Loại yêu có «ô dù» cỡ bự như vừa nói, chính là cái xấu, cái ác, cái chướng ngại cản ngăn nội tại. Chúng nằm trong chính ta, và là một phần của ta. Giết chúng đi là giết ta ư?

Bài viết này được chỉnh sửa bởi Niệm Phật : 22 August 2009 - 09:27 AM


#2
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:
Một hình ảnh hai cuộc đời

Phật bảo: Hồi đầu thị ngạn. Quay đầu nhìn lại sẽ thấy ngay bến bờ giác ngộ. Buông dao đẫm máu xuống, mười tám ông ăn cướp lập tức hóa ra thập bát la hán. Con người là một hình ảnh hai cuộc đời. Trong ta là sự tồn tại của hai mặt đối lập lẫn nhau. Ta là Giê-xu mà ta cũng là Lu-xi-phe chúa quỷ. Ta là Thích ca, Lão tử mà ta cũng thừa sức bày trò ngạ quỷ, giở thói súc sanh. Trong ta vừa có thiên đàng, niết bàn cực lạc, vừa có cả hỏa ngục, a tỳ.

Trong cuộc chiến đấu để đạt tới Chân lý, con người có thể chuyển hóa cái ác thành cái thiện. Hôm trước còn là Hồng hài nhi hung tợn, khoái ăn thịt người thì hôm sau đã là Thiện tài Đồng tử trang nghiêm, cung kính hầu cận một bên Quan âm Bồ tát[5]. Bữa nọ còn làm yêu quái tụm bầy chận đường bắt người cướp của, ăn tươi nuốt sống, thì bữa nay đã thành voi thần, sư tử thánh đỡ chân cho Phổ hiền và Văn thù Bồ tát nơi cõi phật [TDK VIII 1988: 173-174].

Tánh tham là xấu, nhưng thay vì tham cái vị kỷ đê hèn, biết tham làm cái vị tha ích quốc lợi dân, thì tham ấy Chúa, Phật cũng tham. Tánh sân giận đáng chê, nhưng thay vì cái giận khí huyết của lòng ty tiểu, biết giận cho cái bất bằng chính nghĩa, thì giận ấy Lão Đam, Khổng tử cũng xá dài bái phục. Phân biệt hai hạng yêu tinh nội tại và ngoại lai như thế, người đọc truyện Tây du thử gẫm lại vì sao luôn luôn khi Tề thiên gặp yêu quỷ đều tróc Sơn thần, Thổ địa để truy tầm ngọn nguồn, gốc tích con yêu ở đâu. Cho dù đang thua sức lũ yêu, mà một khi đã nắm chắc lý lịch của chúng rồi thì trăm lần đánh là trăm lần thắng. Chuyển bại thành thắng là sau khi đã điều tra, xác minh lý lịch xong xuôi.

Sao lạ vậy? Cái xấu, cái ác vốn muôn đường nghìn lối, thiên hình vạn trạng. Con người phải biết nó từ đâu tới, do đâu mà ra. Như thầy thuốc giỏi, trị bịnh phải biết trị tận gốc chứ không trị ngọn.

Đi tìm nghịch lý

Tây du thoạt xem, tưởng đâu rặt chuyện nghịch lý, vô lý. Tại sao Tề thiên náo loạn thiên cung, cõi trời nghiêng ngửa, vậy mà lắm phen cam đành thất điên bát đảo với lũ yêu ma? Tề thiên không ngán Lão tử, thế sao chẳng trị nổi con trâu xanh của Lão tử sổng chuồng ở núi Kim Đâu? [TDK V 1988: 227-247; TDK VI 1988: 5-51] Tề thiên tuy có con mắt lửa tròng vàng, nhìn một cái biết ngay chân tướng yêu ma nhưng không phải luôn luôn đều dễ dàng chế ngự được yêu ma. Phải lắm phen cất công đi tìm phật, tiên, bồ tát cứu nạn. Bồ tát và phật tiên trong Tây du tượng trưng cho đạo đức chơn chánh. Vậy, phải chăng lý trí tuy có khả năng xét suy phân biện phải trái rạch ròi, nhưng chưa đủ mạnh mẽ? Đối với tha nhân, sửa chữa cái xấu, cải tạo cái ác có khi không bằng lý lẽ, hay sức mạnh, mà phải cảm hóa bằng đạo đức nghĩa nhân. Còn với chính bản thân, có những cái xấu, cái ác mà lương tri, lương tâm đã tự biết là xấu, là ác, là không nên nhúng tay vào, nhưng con người lại quá yếu đuối, thường không đủ sức cưỡng lại nổi những ham muốn mãnh liệt, đành buông xuôi. Khi đó, chỉ còn có nhân nghĩa đạo đức là chiếc phao cuối cùng cho khách hồng trần bấu víu để khỏi đắm chìm trước cơn phong ba bão táp của hải hà dục vọng.

Phật tiên hay Thượng đế cõi trời còn là hình ảnh biểu tượng của chính đại quang minh, của đại nhân quân tử. Yêu ma quỷ quái là phản diện, tiêu biểu cho tiểu nhân, giả trá, lọc lừa. Tề thiên vốn không từng lép vế với cõi trời mà lại nhiều phen chịu ngậm hờn cùng lũ quỷ. Trong cuộc đấu tranh của con người với con người, từ nghìn xưa đến nay, soi gương kim cổ, phải chăng ai cũng thấy rằng ta không sợ đấu lý, đấu tranh với người biết điều, đại độ, chính trực, mà ta lại đều phải sợ giáp mặt cùng kẻ hẹp hòi, ngu dốt, chấp nê. Hai mặt trận với hai đối thủ rõ ràng khác biệt! Đọc Tây du hóa ra không phải đọc Tây du, mà là đọc lại chính ta. Ngô Thừa Ân hóa ra không phải Ngô Thừa Ân mà là mật ngữ siêu thoát của Lão, Phật. Ngô là họ Ngô; Thừa là thừa hưởng, thọ nhận; Ân là ân sâu đức cả. Ai xưa kia đã thọ hưởng được cái học của thánh hiền mà giác ngộ, không nỡ đem giấu làm của báu tư riêng, nên lấy cuộc văn chương, mượn trò chữ nghĩa bày truyện Tây du? Thọ nhận ân Ai mà Ngô Thừa Ân muốn đáp tạ ân Ai?

Kiếp tằm đem trả nợ dâu,
Đem lời huyễn tưởng diễn câu diệu huyền.
Ngỡ rằng ma quái thần tiên,
Nào hay rốt lại nhãn tiền chính ta.
Cuộc chơi sực tỉnh giang hà,
Mực đen giấy trắng gọi là nhân duyên.

Trăng sao cửa động đá đầu non

Truyện Tây du dựng nên một nhân vật nổi bật là Tề thiên, một con khỉ. Diễn giải lý lịch của Tề thiên, truyện kể: Tại Đông Thắng Thần Châu, có nước Ngạo Lai, núi Hoa Quả, trên đỉnh núi có tảng đá tiên. “Một hôm tảng đá nứt đôi, sinh ra một quả trứng đá tròn, to bằng quả cầu, gặp gió hóa thành một con khỉ đá, đủ cả mặt mũi chân tay.” [TDK I 1982: 28]. Lý lịch xuất thân của Tề thiên đơn giản như thế, nhưng lại là cả một hàm dụ thâm trầm! Tâm viên ý mã - Đỉnh đá đơn côi Khỉ, hay tương cận với nó là vượn, theo Phật và Lão, tượng trưng cho tâm con người. Loài vượn, khỉ vốn hay lăng xăng, nhảy nhót, chuyền leo, không chịu ngồi yên. Cái tâm con người cũng lao xao, ưa tơ tưởng chuyện này, hay nhớ nhung việc nọ. Phật ví tâm người như loài khỉ, vượn nên gọi là tâm viên (con vượn lòng).

“Bạn” của tâm viên là ý mã (ngựa ý). Tâm ý theo nhau, tâm chạy rong, ý cũng chạy rong. Giữ chặt cho tâm ý ở yên, tập trung tư tưởng vào một chỗ, là chuyện không dễ. Sách chú quyển Tham đồng khế của Ngụy Bá Dương có câu: “Tâm viên bất định, ý mã nan truy.” (Vượn lòng nhảy nhót không yên, ngựa ý rong ruổi theo liền khó thay.) Người tu thiền, dù là hành giả theo pháp môn của Phật, Lão, hay Cao đài, tối kỵ bị “phóng tâm”, cho nên chỗ đầu tiên thực hành là phải cột lại tâm ý, không được để tâm ý nghĩ ngợi lung tung. Do sự liên quan ẩn dụ khỉ và ngựa nên mới bày ra chuyện Hầu vương (vua khỉ) lên trời giữ chức Bật mã ôn, trông coi, quản lý đàn ngựa. Đoạn tả cách Hầu vương săn sóc ngựa quả rất lạ đời: “Bật mã ngày đêm không ngủ, trông nom ngựa trại. Ban ngày còn chơi đùa, ban đêm chăm chỉ giữ gìn. Ngựa ngủ, đánh thức cho ăn cỏ; ngựa lồng, nhốt lại trong chuồng.” [TDK I 1982: 104]

Cái tâm cái ý lúc con người thức hay chạy rong, lúc con người ngủ vẫn chạy rong. Những ức chế, dồn nén ban ngày chưa biến hình thành hành động, thì đợi đến đêm về, sẽ biến thành cơn mơ giấc mộng dẫn dắt người đi... hoang! Có những hành giả, ban ngày còn tỉnh táo, ý thức đè nén được sắc tình trước ngoại cảnh diễm kiều; nhưng khi canh khuya mơ màng giấc bướm hồn hoa, thì chỉ còn là chiếc xe lao dốc tuột thắng, bao nhiêu “vốn liếng” cỏn con tích trữ được cũng đành trút bỏ một lèo trong vô thức! Cho nên một số thiền đường phải luôn dè chừng chuyện ngủ nghê mê mệt, có nơi chỉ dám nằm nghiêng, hay như một thiền phái Cao đài (Chiếu minh) chỉ dám ngủ... ngồi. Đó là lý do mà, theo Tây du, muốn chăn ngựa thì phải “ngày đêm không ngủ”, và “ban đêm chăm chỉ giữ gìn”. Các hành giả tập thiền, dù theo Phật, Lão, hay Cao đài, đều tối kỵ tâm trí mê muội, ngủ quên. Chứng bệnh đó chính là hôn trầm. Trong một số thiền đường, lúc cùng nhau tịnh tọa, có một người giám thị cầm gậy đứng canh, ai lỡ quên ngủ gà ngủ gật, lập tức quật gậy vào lưng cho tỉnh. Còn khi tỉnh, mà phóng tâm, đầu cứ lăng xăng hết chuyện nọ chuyện kia, phải rán diệt tan niệm lự, tập trung tư tưởng lại. Cho nên “ngựa ngủ, đánh thức cho ăn cỏ; ngựa lồng, nhốt lại trong chuồng.”

Tâm ý con người phát sinh từ đâu? Thông thường đều vẫn cho rằng từ cái đầu. Cái đầu là “quả trứng đá tròn”. Cái đầu sinh ra tư tưởng; tư tưởng không hình, không ảnh, không màu, không tiếng. Cho nên con khỉ (tư tưởng) sinh ra chỉ là nhờ “gặp gió hóa thành”. Tư tưởng có tốc độ cực nhanh, vì vậy truyện Tây du mới bảo con khỉ học được phép cân đẩu vân, nhảy một cái xa tới một trăm lẻ tám ngàn.

#3
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:
cái nỳ ngoài luồng do thấy hướng đi thiên về nhân vật họ Trư nhà ta. Post đọc cho vui^^
Có thể có bạn đọc rùi cũng nên
Năm Hợi tán gẫu về lão Trư

Trong một cuộc thăm dò trên mạng dành cho các bạn gái với đề tài “Trong bốn thầy trò Đường Tăng, bạn muốn... lấy ai làm chồng nhất?”. Kết quả thật đáng ngạc nhiên: trong 98 người tham gia, không một ai chọn Đường Tăng, số người chọn Tôn Ngộ Không là 10, Sa Tăng là 14 người, còn Trư Bát Giới đứng đầu bảng với số người bầu chọn là 74. Một Trư Bát Giới lười biếng, xí trai lại trở thành người chồng lý tưởng của các cô gái, chuyện thật khó hiểu? Tất nhiên, các bạn gái có cách nghĩ của mình.

Trên đường đi thỉnh kinh, dù là con gái nhà lành, hay nữ yêu quái đều không ai đếm xỉa tới Trư Bát Giới, nhưng phụ nữ trong thời đại hiện nay lại xem Trư Bát Giới là người tình lý tưởng. Vì sao mà lão Trư lại được yêu mến như thế? “Trư Bát Giới tuy lười biếng, ích kỷ, tham ăn, háo sắc, nhưng lại vui tính, có tình nghĩa, lương thiện, biết dịu dàng với phụ nữ, kể ra cũng là người đàn ông đáng yêu chứ?” – cư dân mạng đã nhận xét về lão Trư như thế, họ còn phân tích và cảm thông với lão nhiều điều...
Trong cuộc sống, ai cũng có ham muốn của mình, khi không được thỏa mãn nhu cầu nào đó thì con người sẽ càng mơ tưởng, muốn có được nó hơn. Trư Bát Giới vốn là Thiên Bồng nguyên soái chỉ huy thủy quân trên thiên đình, giữa chốn bồng lai tiên cảnh cực lạc, cũng vì quá nhàn hạ, không phải âu lo phiền muộn điều gì, Thiên Bồng nguyên soái đã nảy sinh dục vọng với Hằng Nga tiên nữ, phạm vào luật cấm trên thiên đình, nên bị đày xuống trần gian.

Sau này, Trư Bát Giới theo Đường Tăng đi thỉnh kinh, suốt ngày quanh quẩn bên cạnh ba người đàn ông, mà còn là ba người khô khan, cục mịch, nên Trư Bát Giới thường thả hồn lên mây, ao ước có một gia đình hạnh phúc, bên cạnh một người vợ xinh đẹp, dịu hiền, không phải chịu khổ nhọc đi thỉnh kinh, do đó mỗi khi gặp được cô gái nào, Trư Bát Giới cũng thừa dịp tán tỉnh, hy vọng xây dựng được gia đình riêng của mình. Cho nên, tính háo sắc của Trư Bát Giới hoàn toàn có thể hiểu được.

Trư Bát Giới với quan điểm: “Trên đời này không có người đàn ông xấu trai”

Posted Image

Ai cũng cho rằng, Trư Bát Giới xí trai, nhưng lão Trư lại không nghĩ như thế. Khi vị thừa tướng của vương quốc Nữ Nhi chê Trư Bát Giới xấu, lão đã nói một câu kinh điển: “Mỗi người mỗi vẻ, trên đời này không có nam nhi nào xấu trai cả”, lời đáp trả rất tự tin, thử hỏi bao nhiêu đàn ông thời nay dám thốt lên câu nói đó? Phụ nữ thích những người đàn ông tự tin, bởi người có lòng tin mới có thể mang đến cảm giác an toàn cho họ, làm vợ của những người nhu nhược sẽ phải chịu thiệt thòi. Con gái thích đàn ông điển trai, nhưng điều mà họ mong đợi hơn là tìm được điểm tựa đáng tin cậy cho đời mình.

Trư Bát Giới dịu dàng, hiểu tâm ý phụ nữ

Không giống Đường Tăng, trong tâm tưởng chỉ nghĩ đến kinh Phật, không có tà niệm và ham muốn gì khác – một hình mẫu hoàn mỹ đến độ xa rời thực tế, trong khi đó Trư Bát Giới gần gũi và đời thường hơn, lão ta vừa muốn đi thỉnh kinh để đắc đạo thành tiên được trở về thiên đình, vừa muốn nếm trải hạnh phúc tình yêu nơi trần thế, nhưng nếu bảo lão Trư lựa chọn giữa việc đi thỉnh kinh và lấy vợ, thì Lão sẽ từ bỏ ngay việc đi thỉnh kinh (điển hình như tập Vương quốc nữ giới). Tuy mẫu người như Trư Bát Giới hơi cục mịch, nhưng anh ta biết thương hoa tiếc ngọc, chìu chuộng phụ nữ, không vì sự nghiệp mà bỏ quên gia đình.

Trư Bát Giới chung tình

Posted Image
Trư Bát Giời có nhiều mặt tốt, nhưng cũng có hai điểm khiến lão Trư không được lòng các cô gái là: đầu tiên tướng mạo của lão quá khó coi, làm cho người khác phải sợ; thứ hai là tài “ tán gái” còn yếu kém, lúc nào cũng trực tiếp tấn công, đi thẳng vào vấn đề, không biết tế nhị, lãng mạn, khiến cho các cô gái hoảng sợ bỏ chạy. Tuy nhiều lần tỏ tình thất bại, nhưng lão Trư chưa bao giờ bỏ cuộc, điển hình là việc cưới Thúy Lan – con gái nhà họ Cao. Lấy được người chồng như vậy, bạn có thể yên tâm100%, không cần lo lắng việc anh ấy có người phụ nữ khác bên ngoài!

Trư Bát Giới là người đàn ông đảm đang

Posted Image

Xét từ ưu điểm biết làm vừa lòng người mà nói, thì Bát Giới không hề lười biếng chút nào. Nhớ lại, lúc ở nhà họ Cao làm rể, Lão Trư một mình làm hết chuyện đồng áng rồi đến việc nhà, không biết mệt mỏi là gì, cũng vì thấy lão ta siêng năng, Cao lão gia mới gả con gái cho.


Về sau đi thỉnh kinh, lão Trư trở nên lười biếng là vì lão nghĩ đây là việc công, không phải chuyện riêng của mình. Trư Bát Giới là một người luôn đặt lợi ích của mình và gia đình lên hàng đầu, lão sẵn sàng làm mọi việc nội trợ: nấu cơm, giặt giũ sau khi đi làm ruộng về, nhưng nếu bảo lão giúp việc cho hàng xóm, láng giềng thì xin miễn. Trong thời đại hiện nay, muốn tìm một người đàn ông sau khi đi làm về, còn biết giúp vợ làm việc nội trợ như Trư Bát Giới đâu phải dễ gặp.

Trư Bát Giới biết lo xa


Đàn ông thành đạt thường dễ sinh tật, tiêu tiền phung phí, đàn đúm bạn bè, nhưng Trư Bát Giới thì ngoại lệ. Tuy biết phép thuật, có thể hô biến ra vàng bạc châu báu, nhưng trên đường đi thỉnh kinh, mỗi khi đặt chân đến một vương quốc, lão Trư không quên kiếm chút tiền cho bản thân để phòng tránh trường hợp thỉnh kinh thất bại, có thể trở về nhà họ Cao, lận lưng chút vốn để mưu sinh, lo cho vợ. Lấy được người chồng biết lo xa tính trước như vậy, không cần phải lo là không có cơm ăn.

Có thể nói, Trư Bát Giới là mẫu người đàn ông có nhiều ưu điểm, điển hình là có đến 70% phụ nữ nhìn thấy thế mạnh của anh ta. Đây được xem là một khám phá thú vị mà trước giờ ít người để ý đến.

#4
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:
Một ánh trăng khuya

Ba sao hiu hắt Hầu vương vào một ngày đẹp trời bỗng giác ngộ lẽ sinh tử cõi đời là vô thường, lập tức hạ quyết tâm từ bỏ ngôi vua ở động Thủy liêm, lặn lội chiếc thân tầm sư học đạo. Câu chuyện rõ ràng mang dấu ấn của Thái tử Cồ đàm lìa bỏ hoàng cung của dòng họ Thích ca, đơn độc dấn mình tìm cầu giải thoát. Trên đường gió bụi, Hầu vương gặp người kiếm củi chỉ đường, bảo hãy đến núi Linh đài Phương thốn, trong núi ấy có động Tà nguyệt Tam tinh, và hãy cầu học đạo với Bồ đề Tổ sư. Chốn ấy tìm đâu? Hà xứ tại?

Phương thốn theo đạo Lão là hạ đơn điền, nằm cách dưới rún ba đốt ngón tay. Theo phép luyện khí công, yoga, thiền, đấy là một trong những điểm quan trọng trong thân thể mà phép tu nội dược (luyện nội đan, interior alchemy) của đạo Lão và Cao
đài đặc biệt nhấn mạnh. Linh đài theo đạo Lão là tâm. Con người phàm phu thì tâm phàm phu, con người thánh thiện thì có thánh tâm. Tâm phật không phải tự nhiên mà có, tâm phật cũng trong chỗ tâm phàm đã khơi trong gạn đục trở thành; như đóa sen tinh khiết ngát hương đã nẩy mầm vươn lên từ tận đáy sình bùn ô trược. Truyện thơ Phật bà chùa Hương của bình dân Việt Nam diễn ý này rất tuyệt vời:

Thần thông nghìn mắt nghìn tay,
Cũng trong một điểm Linh đài hóa ra.

Tà nguyệt là trăng khuyết (lưỡi liềm).Tam tinh là ba ngôi sao. Kiều (?) có câu: “Một vầng trăng khuyết ba sao giữa trời.” Chính thực đây là cách chiết tự chữ Tâm . Do tâm mà thành phật, đắc đạo, cho nên đạo Lão có bài thơ cổ rằng:

Tam điểm như tinh tượng,
Hoành câu tựa nguyệt tà.
Phi mao tùng thử đắc,
Tố phật giả do tha.

Nghĩa là: Ba điểm tượng hình sao,
Móc câu như trăng khuyết.
Thú cầm theo đây đắc,
Phật do đó mà ra.

Hóa ra con đường cầu đạo của Hầu vương là con đường hướng nội, trở vào tâm, tu thiền. Đạo Lão và Cao đài gọi là con đường phản tỉnh nội cầu, phản bổn hoàn nguyên.

Ơn thầy như núi Thái
Sao gởi gió ngàn bay?

Posted Image

Không thầy đố mày làm nên. Hầu vương còn phải bái sư, tôn Bồ đề Tổ sư làm thầy. Bồ đề hay bodhi (tiếng Sanskrit) là trí giác ngộ. Chỉ có người giác ngộ (sáng suốt) mới đáng mặt làm thầy dạy kẻ mê muội (u tối). Theo Phật, thầy chỉ là người giúp đỡ. Một khi trò đã giác ngộ rồi, cái giác đó do chính bản thân trò tự mình kiến lập, tạo dựng, nào phải đâu của cải ông thầy ban trao tặng dữ. Lúc Hầu vương học đạo xong rồi, chưa kịp... lãnh bằng tốt nghiệp, liền bị thầy lập tức đuổi về. Đã đuổi lại còn răn đe, cấm ngặt không được hở răng nói cho thiên hạ biết mình là đệ tử ruột của Tổ sư! Hầu vương lấy lễ học trò, thành khẩn tạ ơn biển trời dạy dỗ, thì cũng bị thầy quyết liệt phủ nhận: “Ân nghĩa gì đâu...” [TDK I 1982: 66]

Rõ ra là ẩn ngữ thiền tông. Khi đã giác ngộ, đạt tới trí bát nhã (prajna) thì con người đạt tới vô sư trí. Không có ai làm thầy ta, và ta cũng chẳng dám làm thầy ai. Đã thế, trổi hơn một bậc, cũng chẳng còn dám khinh khi rẻ rúng một ai, như Thường bất khinh Bồ tát tâm tâm niệm niệm: Ai ai cũng sẽ thành phật đó mà.


Lặng lẽ một phương trời lữ thứ
Mình riêng mình soi bóng cô liêu


Trở lại với chuyện hỏi thăm đường của Hầu vương . Truyện kể :
“Hầu vương nắm tay người kiếm củi, nói:

- Thưa lão huynh, làm ơn đưa tôi đến. Nếu tốt lành, tôi không bao giờ quên ơn chỉ dẫn.
Người kiếm củi nói:

- Bác là người hảo hán mà không biết thông biến. Tôi chẳng vừa nói với bác là gì, bác không hiểu ư? (...) Tôi còn bận kiếm củi, bác cứ đi đi!” [TDK I 1982: 43]

Đạo thần tiên phải tự thân mình thực hành, không nhờ ai giúp. Hầu vương phải đích thân tìm đến Tà nguyệt Tam tinh động. Con đường về nội tâm của hành giả là con đường cô đơn, lữ khách không thể trông cậy, lệ thuộc bất kỳ ai khác. Và cũng không còn bận bịu mưu sinh, áo cơm ràng buộc.

Cát bụi chân ai
Còn đây lòng trẻ


Những đoạn Tây du như dẫn trên, thoạt xem có vẻ dông dài, rườm rà, thừa thãi, nhưng thực ra mang đầy dấu ấn của thiền tông. Chẳng hạn, một đoạn khác cũng tưởng đâu rất lòng vòng, khi kể chuyện Bồ đề Tổ sư đặt họ tên cho Hầu vương. Thoạt đầu, Tổ sư hỏi Hầu vương có tánh gì, Hầu vương đáp rằng không có tánh. Thế thì:
“Tổ sư cười nói: Ngươi tuy thân thể thô lậu, nhưng giống loài khỉ ăn quả tùng. Ta và ngươi trên thân đều lãnh họ tên, ý ta muốn đặt ngươi họ Hồ [chiết tự: khuyển (con chó) + cổ (xưa) + nguyệt (trăng)]. Chữ Hồ bỏ con thú [bỏ chữ khuyển] bên cạnh thì còn là cổ nguyệt. Cổ là già, nguyệt là âm, lão âm không thể sinh hóa dưỡng dục được. Nên ta đặt họ ngươi là Tôn [chiết tự:khuyển + tử + hệ] mới tốt. Chữ Tôn bỏ con thú [bỏ chữ khuyển] bên cạnh thì còn là tử hệ. Tử là con trai, hệ là trẻ sơ sinh, quả là hợp với bản chất trẻ thơ. Vậy ta đặt cho ngươi là họ Tôn nghe[6].”

Một trò chơi chữ lý thú! Chữ Hán, tánh (tính) [bộ nữ] nghĩa là họ; nhưng theo Phật, tánh (tính) [bộ tâm] còn có nghĩa là bản thể, là phần trường tồn bất biến nơi con người. Nhờ đó mà con người dù xấu xa vẫn có thể tương lai tu thành phật được. Và tu Phật là cốt đạt tới chỗ minh tâm kiến tánh, theo Nho là tồn tâm dưỡng tánh, theo Lão là tu tâm luyện tánh. Đặt cho tánh là Tôn, rồi giải chi li ra thành trẻ nhỏ, Tây du ký đã đưa ra một vấn đề trọng tâm của đạo Lão. Muốn tu hành đạt đạo, con người phải có được cái tâm hồn nhiên của trẻ mới đẻ (xích tử chi tâm).

Cũng vậy, Tân ước chép lời Chúa Giê-xu khuyên môn đệ hãy giữ tâm hồn như con trẻ thì mới vào được thiên đàng nước Chúa.[“Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi không biến cải, và trở nên như con trẻ, thì hẳn chẳng được vào nước trời đâu.(Verily, I say unto you, except ye be converted and become as little as children, ye shall not enter into the kingdom of heaven.” Matthew, 18:3. The Gideons, 1967.]

Hầu vương có tên là Tôn hành giả. Hành giả là người thực hành thiền. Lại có pháp danh là Ngộ không, ngụ ý muốn ngộ nhập được cái Không (sunyata), hành giả phải dọn sạch lòng như tâm con trẻ. Một hành giả thiền môn ngày xưa, dọc bước phong trần đi tìm cửa động trăng sao, như Tôn ngộ không hành giả, dấu chân cô đơn của khách lữ còn in lại lời thơ trầm trầm vọng vào u uẩn cõi phù vân:

Nhất bát thiên gia phạn,
Cô thân vạn lý du,
Thanh mục đổ nhân thiểu,
Vấn lộ bạch vân đầu.
[Tương truyền tác giả bài thơ này là hòa thượng Bố đại.]

Nghĩa là: Một bát cơm ngàn nhà,
Thân đơn muôn dặm xa,
Mắt xanh nào ai có,
Hỏi đường mây trắng qua.

Phải! Mây trắng ơi, con đường nào ta đi? Câu hỏi của Tôn ngộ không hành giả sẽ vẫn còn được hỏi mãi giữa từng cuộc đời ai kia muốn xin được một lần trở về quê xưa để làm trẻ nhỏ ngồi bên thềm cũ hồn nhiên nhìn thế sự dần qua.

Ngọn gió trong lò

Tề thiên sau khi thua trận, thiên binh áp giải về trời trị tội. Trị cách gì cũng không giết được. Thái thượng Lão quân tâu cùng Thượng đế:
“Hay là để thần mang nó về bỏ vào lò bát quái, đốt nó bằng thứ lửa văn vũ mà thần thường dùng để luyện linh đơn...” [TDK I 1982: 165, 166] Lão quân mang Tề thiên về cung Đâu suất, ném vào lò bát quái.

“Nguyên lò này gồm tám cung của các quẻ: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Đại thánh chui ngay vào nằm dưới cung Tốn. Tốn là gió, có gió thì không có lửa.” (...) “Thời gian thấm thoát, chẳng mấy chốc đã được bốn mươi chín ngày, đủ số ngày luyện.” [TDK I 1982: 165, 166] Câu chuyện được kể tỉ mỉ với những chi tiết rườm rà. Đây là cả một vấn đề sinh tử đối với những người muốn học đạo trường sinh, tu theo đạo Lão. Đoạn văn diễn tả một giai đoạn cơ bản của thực hành thiền hay luyện nội đan. Có ba chi tiết phải chú ý: (1) bốn mươi chín ngày; (2) lò bát quái; (3) cung Tốn.

Thất thất và cửu cửu

Tại sao Tây du bảo phải đợi đến bốn mươi chín ngày mới gọi là “đủ số ngày luyện”? Bốn mươi chín tức là thất thất (7x7). Nó ám chỉ trong quá trình tu tập thiền định (đạo Lão và Cao đài gọi là tịnh luyện), có một giai đoạn người hành giả phải giam mình trong chốn tư phòng, hoặc thiền thất, thiền đường (Cao đài còn gọi là tịnh thất, tịnh trường), hoặc vào chốn vắng vẻ núi non, như mấy ông đạo ở Thất sơn dựng cốc.

Theo đạo Phật, bốn mươi chín ngày cũng rất quan trọng cho linh hồn người chết. Vì sau khi hồn lìa khỏi xác, linh hồn chưa ra trước Diêm đình để các phán quan xét xử. Thời gian “tại ngoại hậu tra” (bail) dài bốn mươi chín ngày, và linh hồn được phép tạm trú ở một khu vực (cảnh giới) mà Phật giáo gọi là antarabhava, dịch là trung hữu hay trung âm, trung ấm [Soothill 1962: 10]. Đây là lúc để thân nhân cõi thế lo cầu siêu cho người quá cố, để linh hồn ấy tiêu tai giải nghiệp, ngõ hầu khi ra tòa án âm phủ sẽ dễ dàng được cứu rỗi, được cho về cõi trên, hoặc luân hồi vào đường tốt. Lễ cầu siêu bảy lần bảy ngày, kể từ ngày chết.

Ở đạo Lão và Cao đài giai đoạn này kéo dài, và gọi là cửu cửu (9x9) tức tám mươi mốt ngày. Cho nên khi Đường tăng về tới chùa Lôi âm, Quan âm Bồ tát cộng sổ, thấy mới có tám mươi nạn, phải... “lập kế” để Đường tăng chịu thêm một nạn chót, cho đủ... chỉ tiêu.

Posted Image

Tây du kể: “Bồ tát xem qua quyển sổ một lượt, bèn truyền bảo: Trong đạo Phật ‘chín chín tám mươi mốt mới về nguồn’, thánh tăng đã chịu tám mươi nạn, còn thiếu một nạn nữa mới đủ số.” [TDK X 1988: 181]

Đi từ kinh đô Tràng An nước Đại Đường (đất phàm, con người luân hồi) đến chùa Lôi âm nước Thiên Trúc (đất phật, chân nhân giải thoát), Đường tăng phải trải qua tám mươi mốt nạn và vượt qua mười vạn tám ngàn dặm (108.000 = 9x12.000). Ý nói rằng, quá trình tu luyện để siêu hoá từ phàm nên thánh phải gồm những “công đoạn” bắt buộc. Một trăm lẻ tám ngàn dặm là bội số của 9. Cây tích trượng của Đường tăng có chín vòng. Cây đinh ba Bát giới dùng làm vũ khí có chín răng. Xâu sọ người Sa tăng đeo ở cổ cũng gồm chín cái.

Xâu chuỗi lớn của nhà sư thông thường cũng gồm một trăm lẻ tám hột[7]; hoặc có khi ngắn hơn là năm mươi bốn hột (9x6), hoặc hai mươi bảy hột (9x3) là bội số của chín, hoặc mười bốn hột (7x2) là bội số của bảy[8]. Giới đạo sĩ dù theo trường phái nội đơn (thiền) hay ngoại đơn, đều theo quá trình chín lần khổ luyện này mà thuật ngữ đạo Lão gọi là cửu chuyển công thành, hay cửu chuyển đan thành. Cao đài cũng vậy, cửu cửu là giai đoạn thiền (hay tịnh luyện) rất cơ bản, hành giả bước vào bực sơ thiền phải qua đó mới có thể chuyển lên những bực cao hơn, cho nên kệ sơ thiền Cao đài có câu rằng: Cửu cửu công phu chẳng chí bền, Con đường tu luyện khó lòng nên...

Cũng như đạo Phật, ở Cao đài hành giả không quan trọng hóa việc cầu siêu (thất thất vong: lễ bốn mươi chín ngày) vì hành giả phải tự giải thoát cho mình bằng chứng ngộ. Cầu siêu vì thế là để cho ai còn trong ràng buộc luân hồi. Lễ cầu siêu của đạo Phật là thất thất, thì ở Cao đài là cửu cửu, cứ chín ngày cầu siêu cho người chết một lần, tính từ ngày chết. Cũng với quan niệm về chín từng trời, tín đồ Cao đài tin rằng, cứ qua một lần cúng cửu, linh hồn nhẹ nghiệp hơn và thăng lên được một từng trời tương ứng.

Con số 9 còn là một tượng số khá phổ biến trong thiền nhà Phật[9].
Tại sao Phật, Lão, và Cao đài chú trọng con số 9? Và ở Tây du, tại sao Đường tăng muốn thành tựu công viên quả mãn phải trải qua chín lần chín tai nạn (ám chỉ là sự khổ luyện đớn đau của hành giả), phải vượt qua chín lần mười hai ngàn dặm? Số 9 là số thành và là số dương lớn nhất (lão dương). Tu luyện là chuyển âm trược (phàm phu) thành dương thanh (tiên phật), mà số 9 là số thuần dương cho nên số 9 gắn liền với thiền đạo và thiền gia, đạo sĩ. Nhưng... nói như vậy thì hơi lẹ quá, nên cũng cần thử lướt sơ qua một chút về Dịch học, để hiểu thêm cái lò bát quái của Lão quân nó tròn vuông lớn bé cỡ nào, và lò bát quái ấy đặt ở cung Đâu suất hay là ở một nơi nào khác nữa.

Posted Image

#5
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:
có tiểu thuyết Vn nữa mà. Ma net của Đặng Thân nè.
Mi mốt sẽ post Oxford yêu thương của Dương Thuỵ. Hay lắm. Đón xem nhá.
SAo giống quảng cáo vậy ta???

Số 5, số 9 và cung Tốn trong Dịch

Dịch là âm dương. Âm là chẵn; dương là lẻ. Lẻ loi nên gọi cơ; chẵn đôi nên gọi ngẫu[10]. Dịch chia mười con số từ 1 đến 10 làm hai loại, gồm:
[a] năm số dương (1, 3, 5, 7, 9); và năm số âm (2, 4, 6, 8, 10).

Số 5 theo ngũ hành có vị trí nằm ở trung ương như sau: 2 3 5 4 1 Số 5 được gọi là số sinh, vì nó sinh ra các số khác. Trong bát quái, số 5 ứng với quẻ Tốn.
Tề thiên bị hầm, bị ninh trong lò bát quái mà vẫn cứ sống nhăn, đó là nhờ ẩn mình trốn tại cung Tốn. Tốn là cửa sinh. Đọc truyện Phong thần, hay Phong kiếm xuân thu (chuyện Tôn Tẫn, Bàng Quyên), ai cũng nhớ người xưa đánh giặc thường lập trận đồ, bày cửa tử và cửa sinh. Đối phương kéo quân vô cửa tử thì chỉ còn có nước đại bại, mất mạng. Tại sao số 5 là số thành? Trong năm số 1, 2, 3, 4, 5 bày theo ngũ hành nói trên, thử làm bốn bài toán cộng như sau:

5+1 = 6 ; 5+2 = 7 ; 5+3 = 8 ; 5+4 = 9

Bốn kết quả 6, 7, 8, 9 là số thành, và 9 là số thành lớn nhất (ngụ ý viên mãn, hoàn hảo). Số 9 lại là tổng số của ba số dương: 1+3+5 = 9. Cho nên chín được gọi là số lão dương hay thuần dương.

Mà dương là quân tử, chính nhân (âm là tiểu nhân, tiện nhân). Do đó ngôi vua được gọi là cửu trùng (chín tầng, chín bệ), và Bà Huyện Thanh Quan (Trấn Bắc hành cung hoài cổ) ngậm ngùi:
Chín tầng sen rớt rơi hương ngự,
Năm lớp mây phong sắc áo chầu.


Ở Trung Quốc, đời Tấn, cha con Vương Hi Chi (321-379) và Vương Hiến Chi đều là danh gia về thư pháp, được tôn là Thảo thánh Nhị vương. Thuở nhỏ, để mài mực luyện chữ, Hiến Chi đã gánh nước đổ đầy 18 chum (2x9) lớn[11]. Ở Hy Lạp, nhà triết học kiêm toán học Pythagore cũng khám phá ra số 9 là huyền diệu, nên bảo rằng: Chín là số hoàn hảo, và bình phương của ba (3x3 = 9), một tam hợp hòa hài trọn vẹn, rất mực đề huề (Neuf est le nombre parfait en tant que carré de trois qu’est la trinité de l’harmonie complète).

Lò bát quái


Posted Image

Trở lại với cái lò bát quái trên cung Đâu suất của Lão quân. Ở Á Đông có tới ba loại bát quái. (bát quái dân gian, bát quái hậu thiên và tiên thiên)

Bát quái dùng để ninh, hầm Tề thiên thuộc mô-đen nào? :jeje:

Trong dân gian, trước cửa nhà thường có treo tấm bùa bát quái để trừ tà ma, xua yêu quỷ. Thầy bói cũng có khi xài loại bát quái này. Nó gồm tám quẻ xếp đặt như sau (kể theo chiều kim đồng hồ):
Càn, Cấn, Khảm, Chấn, Khôn, Đoài, Ly, Tốn. Bát quái này không phải loại dùng để hầm Tề Thiên.

Theo Dịch, vua Phục Hy thời thượng cổ đã nghĩ ra sơ đồ Tiên thiên bát quái hay Tiên thiên cơ ngẫu. Tiên thiên tức là lúc vừa có trời đất, vũ trụ mới hình thành. Sơ đồ của Phục Hy gồm vị trí tám quẻ như sau:

- đi ngược chiều kim đồng hồ (tức là theo chiều dương) Càn, Đoài, Ly, Chấn;
- đi xuôi chiều kim đồng hồ (tức là chiều âm) Tốn, Khảm, Cấn, Khôn.

Theo sơ đồ Tiên thiên bát quái, con người nguyên thủy còn thuần lương, tâm người tâm phật như nhau. Phục Hy biểu tượng bằng quẻ Càn (dương) ở trên, quẻ Khôn (âm) ở dưới. Âm dương chính vị, hòa hài. Lò bát quái của Lão quân không đúc theo mô-đen của Phục Hy.

Ngô Thừa Ân kể rằng: “Nguyên lò này gồm tám cung của các quẻ Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.” [TDK I 1982: 165]

Té ra lò bát quái của Lão quân đúc theo Hậu thiên bát quái hay Hậu thiên cơ ngẫu, là mô-đen của Văn vương. Hậu thiên là lúc trời đất, con người, vũ trụ đã không còn đúng tiêu chuẩn chất lượng của thời nguyên sơ khởi thủy. Con người gần quỷ ma, xa tiên phật. Tâm người tâm phật đôi nẻo đôi nơi, hai phương trời cách biệt! Theo sơ đồ của Văn vương, các quẻ xếp theo chiều âm (xuôi chiều kim đồng hồ), con người có xu hướng biến chất hơn là thăng hoa. Sơ đồ này cho thấy hai quẻ Càn (dương) và Khôn (âm) nằm lệch một bên, không chính vị. Bên dưới là quẻ Khảm (nước, thủy, âm) và trên là quẻ Ly (lửa, hỏa, dương).

Posted Image
Gương bát uqía bằng đồng giá 299.000VND :jeje:

Kinh Dịch, quẻ chót (quẻ 64) lấy Ly trên hiệp Khảm dưới thành ra quẻ Hỏa thủy Vị tế. Vị tế là chưa xong. Kết thúc kinh Dịch, làm thành quẻ chót, tại sao lại bày ra chuyện dở dang?

Cuối bộ Tây du, Đường tăng đem kinh về Trường An, kinh bị rớt xuống sông Thông Thiên; lúc phơi kinh ai dè lại bị mất hết mấy trang chót [TDK X 1988: 189], thì lại vẫn là chuyện dở dang! Mà con người cũng là một dang dở đó thôi. Đã đành làm kiếp người thì cao trổi hơn vật thú, nhưng người chưa bằng phật tiên.

Trên nấc thang Chân-thiện-mỹ, giá trị con người mới ở nửa vời. Nếu tiến hóa thêm, con người sẽ hoàn thiện là hiền thánh, là tiên phật, là chân nhân. Còn nếu thoái hóa, người tuy bề ngoài mang hình hài thân xác con người xinh đẹp, sang trọng, nhưng bên trong thì tâm hồn đã rữa nát, ngang loài cầm thú.
Ông Darwin chắc cũng đành lắc đầu than thở: Cốt khỉ hoàn cốt khỉ! Phép tu đạo Lão khi xưa và Cao đài ngày nay chính là biến Hậu thiên bát quái trở lại nguyên vị Tiên thiên bát quái, đưa con người hư hao trở lại con người Nhân bản mà cuộc đời tôn xưng là Phật, Chúa, Tiên, Thánh, Thần. Biến cải Hậu thiên ra Tiên thiên, trong đạo Lão và Cao đài gọi là chiết Khảm điền Ly; tức là tách hào hai dương ở quẻ Khảm bên dưới sơ đồ Hậu thiên mà đưa vào quẻ Ly ở bên trên, đưa hào hai âm ở quẻ Ly xuống cho quẻ Khảm, thì Khảm-Ly (Hậu thiên) đổi lại Khôn-Càn (Tiên thiên), âm dương trở lại chính vị. Cao đài gọi đây là con đường phản bổn hoàn nguyên. Lão giáo gọi là phục kỳ bản, phản kỳ chân.

Posted Image

Lò bát quái đặt ở đâu?

Lò bát quái trong Tây du như vậy là một ẩn ngữ, nói lên sự tu luyện của con người. Lò đặt ở đâu? Tại cung Đâu suất chăng? Không phải thế! Lò bát quái ấy nằm trong thân xác con người, đặt ở chỗ mà đạo gia gọi là Đơn điền, là Phương thốn [xem bài Trăng sao cửa động đá đầu non].

Bức hình Tẩy tâm thối tàng đồ của đạo Lão kèm theo đây cho thấy vị trí lò bát quái trong thân hành giả luyện nội đan.

Lửa nào đốt lò bát quái?

Lửa để đốt lò bát quái, theo Tây du ký, là “thứ lửa văn lửa vũ”.

Văn là chi, vũ (võ) là chi? Thuật ngữ này có thể hiểu theo hai nghĩa. Hiểu cạn, văn ám chỉ kinh điển; phải học kinh, trì chú để trợ lực; vũ (võ) ám chỉ phép hành công tọa thiền, và kèm một số môn ngoại công phu (physical exercises) để hộ trợ như Bát đoạn cẩm (tám bài luyện tập), Thập nhị cẩm đoạn (mười hai bài luyện tập), v.v...

Cho nên người tu thiền cũng cần văn ôn võ luyện, phải văn võ song toàn. Hiểu sâu xa hơn, lửa văn lửa vũ ám chỉ việc thực hành công phu thiền định của hành giả, gọi đích danh là luyện hỏa hầu. Thiền Lão và thiền Cao đài có bốn giờ công phu là thời Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu, trong đó hai thời Tý Ngọ là để luyện hỏa hầu. Tổ sư Hi di Trần Đoàn bảo:

Hỏa hầu là công phu giờ Tý và giờ Ngọ, hai thời ấy luyện tập và trì thủ không kể đêm ngày.” [Tý Ngọ công phu thị hỏa hầu, lưỡng thời hoạt thủ vô hôn trú.] Nếu hiểu lửa ở đây là lửa trong nội thân, để luyện “hỏa hầu” thì hành giả có lúc vận công nhu nhuyễn, giống như đốt lửa riu riu, đó là dùng lửa văn; hoặc có lúc vận công tích cực hơn, giống như đốt lửa cho ngọn hừng lên, đó là dùng lửa vũ (võ). Giống như bà nội trợ giỏi khéo nấu cơm, hành giả cũng phải tùy lúc mà nổi lửa cho đúng cách.

Theo [Đái Nguyên Trường 1970: 68], mục từ “văn vũ hỏa hầu” viết: “Hỏa hầu như nấu cơm, lúc mới đốt thì nước nguội, gạo sống, vậy ắt phải dùng lửa vũ mãnh liệt cho cơm mau chín. Nếu lửa khi chậm khi mau không đều đặn, khi đốt khi ngưng thì cơm ấy sống sượng không đều, vị lại không ngon. Nếu đã dùng lửa lớn (vũ) nấu qua thì hãy dùng lửa văn nấu chậm. Khi cơm chín tức thì tắt lửa. Nếu như vẫn dùng lửa lớn như cũ ắt phải lo sợ rằng thừa hơi nóng, bốc thẳng lên nắp nồi và cháy khét sinh vị đắng. Luyện đan thì vận dụng lửa văn lửa vũ cũng y như vậy. Như khi luyện tinh một trăm ngày tiểu chu thiên thì nên dùng lửa vũ; khi luyện khí mười tháng đại chu thiên thì nên dùng lửa văn. Nhưng nấu cơm là chất liệu hữu hình cho nên thời gian ít và dễ dàng, còn tu luyện kim đơn là thứ vô hình vô chất, nếu hỏa hầu không phù hợp thì khó thành công.
Cho nên phải cầu minh sư dạy bảo, không để một chút xíu sai biệt nào cả. Kinh dạy luyện đơn không bao giờ nói sai vậy.”[12]

Posted Image
Hồ lô có nắp đồng tiền và đáy hình bát quía, giá 200.000VND

Tốn là gió

Bị nấu liên tục bốn mươi chín ngày trong lò bát quái, nhờ Tề thiên núp vào cung Tốn nên an toàn tánh mạng. Tốn là gió. Điều này ám chỉ hành giả khởi công phu phải dựa vào hơi thở. Điều thân (tư thế thích hợp khi ngồi thiền), điều tức (hô hấp để hơi thở một vô một ra cho đúng cách), điều tâm (giữ cho tâm an định, không bị phóng tán như ngựa khỉ lăng xăng), đấy chính là ba “công đoạn” cơ bản của thiền gia hay hành giả.

Đạo Lão và Cao đài cho rằng Tam bảo gồm có Tinh, Khí, Thần. Khí theo nghĩa hẹp có thể hiểu tạm là hơi thở. Ở sinh mạng, khí là sự sống; hơi thở dứt đi, mạng sống đoạn lìa. Ở tu thiền (tịnh luyện), người ngồi thiền (hành giả) phải để tâm, ý vào hơi thở luân lưu nhằm cột lại cái tâm viên ý mã [xem bài Trăng sao cửa động đá đầu non]. Vì Khí với người tu quan trọng như thế, nên cũng đừng lấy làm lạ khi bước vô bửu điện của một thánh thất Cao đài bất kỳ, đối diện với Thiên nhãn là bàn thờ Hộ pháp, thấy nơi ấy chỉ tượng trưng bằng một chữ Khí (chữ Nho viết thảo). Chữ Khí, thư pháp Lê Anh Minh Tóm gọn lại, câu chuyện nấu Tề thiên trong lò bát quái là ẩn ý gì?

1. Tề thiên là cái lý trí phàm phu phân biện (nhị nguyên). Lão quân đòi “giết” Tề thiên trong lò bát quái tức là dùng công phu thiền pháp để diệt cái tâm điên đảo (phàm tâm tử, đạo tâm sanh); lấy hơi thở (điều tức) để kềm lại, cột lại cái tâm viên ý mã ưa lăng xăng xạo xự.

2. Tề thiên nhờ núp ở cung Tốn bốn mươi chín ngày nên không chết, vì ở cung Tốn “có gió mà không có lửa”. Bốn mươi chín ngày chưa phải là trọn vẹn quy trình hành pháp của thiền gia (Đường tăng còn phải lặn lội cho tới một trăm lẻ tám ngàn dặm mà!). “Có gió” tức là mới ở khởi đầu, dùng hơi thở (điều tức) để kềm tâm định ý... nhưng tâm ý vẫn còn có thể bay nhảy nếu quên chú ý vào một hơi thở vô, một hơi thở ra. “Không có lửa” tức là chưa đến giai đoạn cực kỳ quan trọng hiểm nghèo: luyện hỏa hầu. [Yoga gọi là luồng hỏa xà (kundalini), tượng hình con rắn lửa. Luyện thành công thì thông suốt hai mạch Nhâm, Đốc; còn luyện hỏng thì... “tiêu”, mà truyện chưởng Kim Dung và phim chưởng Hong Kong gọi tên là “tẩu hỏa nhập ma” (lửa chạy đường tà).]

3. Lò bát quái nấu kim đơn của Lão quân chính là lò lửa luyện nên vàng mười; thân phàm phu huyết nhục qua trui luyện thành công sẽ trở nên kim thân bất hoại. Mỗi con người đều sẵn có trong cơ thể một lò bát quái. Đường tăng là người đã chụm lửa đốt lò bát quái, mang lò ấy để đi ngược dòng đời thế tục, tìm về cõi phật, thành phật thành tiên. Vậy thì tất cả những gì linh thiêng, mầu nhiệm đều không ở đâu xa. Máy Tạo hóa huyền vi đã tàng ẩn trong chính mảnh thân nhỏ bé của mỗi con người. Quả thực, truyện Tây du được kể bằng lối nói úp úp mở mở, nhưng lắng lòng thật kỹ thì nghe như đâu đó có Ngô Thừa Ân cất lên lời tha thiết rằng: Con người ơi, anh chính là một huyền nhiệm!

#6
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:
Núi cao chi mấy núi ơi

Tề thiên sau khi nhảy ra khỏi lò bát quái của Lão quân, như mãnh hổ thoát cũi sổ chuồng, mặc sức vận dụng hết phép thần thông tài nghệ đánh phá cung Trời đến nỗi: Thiên cung đại náo phen này, Thiên binh thần tướng bó tay chịu lùi.

Thượng đế bèn sai ngay Du dịch Linh quang và Dực thánh Chân quân sang phương Tây mời Phật tổ tới bắt yêu quái.” Gặp Phật, Tề thiên hỏi, thì “Như lai cười, nói: Ta là Phật A di đà Thích ca Mâu ni...” [TDK I 1982: 169]

Để ý cách xưng hô ở đây rất thâm thúy. Tại sao phải dùng đến bốn danh xưng: Phật tổ, Như lai, A di đà, Thích ca? Di đà và Thích ca

- Phật (Buddha) theo tiếng Sanskrit là Đấng giác ngộ, không còn mê muội, sai lầm nữa, là Đấng có thể cứu vớt người khác, và đã tự cứu được mình. Nên, khi cõi trời cần được cứu, thì chỉ có Phật mới cứu được. Đúng người đúng việc.

- Như lai (Tathâgatha) nghĩa là thường trụ, bất biến. Kinh Kim cang chép rằng Phật vốn không do đâu mà tới; tới cũng chẳng đi về đâu. Chính vì vậy, người tu thành phật mà thật ra thì không có chỗ thành phật, vì phật vốn đã ở sẵn nơi tự thân con người. Phật không có ở ngoài người, không phải từ bên ngoài đi tới người. Như lai là thật tướng. Cái gì nói ra từ Như lai, đó là Chân lý.=> nói theo kiểu như trên thì tâm Phật ngay chính trong bản thảnh, đâu nhất thiết tìm nơi thâm sơn cùng cốc , hành xác ép thân để hoá Phật. :jeje:

- A di đà là Phật quá khứ so với Thích ca Mâu ni. Đã có Di đà thuyết pháp trước khi Thích ca thuyết pháp. Vậy tại sao ở cửa miệng Chân lý (Như lai) lại nói điều tưởng như là sai chân lý: Đã là Di đà thì Di đà, chứ lẽ đâu vừa là Di đà vừa là Thích ca? Di đà và Thích ca là một. Chúng sanh với phật là một. Phật đã thành từ thiên cổ và phật sẽ thành từ trong nhân loại, từ trong chúng sanh mai hậu là một. Đây là triết lý thượng thừa của đạo lý phương Đông. Mặc dù nói qua tưởng như hàm hồ, ngụy biện.

Trời và người

Posted Image

Cuộc đấu lý giữa Tề thiên và Phật tổ cũng rất thú vị. Phật nói Thượng đế đã tu 1750 kiếp, mỗi kiếp 129.600 năm, còn con khỉ “mới từ súc sinh lên làm người” tại sao lại dám đòi ngang bằng Trời (Tề thiên)! [TDK I 1982: 172]

Trước tiên, phải nói người viết truyện có sơ sót ở con số này. Theo Phật giáo, một kiếp (kalpa) mà gọi là tiểu kiếp dài 168.000.000 năm, trung kiếp 336.000.000 năm, đại kiếp 1.344.000.000 năm!=>( chóng mặt thiệt, làm Thượng Đế đâu có dễ :jeje:)

Trở lại với việc Tề thiên tranh cãi với Phật tổ. Khi bị Phật... mắng vì dám đòi làm Trời, :bong
Tề thiên nói tỉnh bơ: “Thượng đế tuy tu luyện lâu lắm, nhưng cũng không nên ngồi mãi ngôi ấy.” [TDK I 1982: 172].

Lời lẽ rất phạm thượng! Phạm thượng mà không hề hủy báng Trời, lại rất đúng đạo lý nữa chứ! Đúng đến mức có lẽ Ngọc hoàng cũng không giận. Ở đời, ông thầy giỏi là người dạy ra học trò còn giỏi hơn thầy. Con hơn cha, nhà có phúc. Thích ca thành Phật rồi đâu có thèm giữ độc quyền làm Phật cho riêng Thích ca. Thích ca khuyến khích rằng mọi người đều có khả năng để làm ông Phật như Thích ca.
Ngày nay trong Cao đài vẫn cho rằng con người tiến hóa từ con thú đi lên, nhưng chưa đủ, người lại phải còn tiến hóa thêm để hoàn thiện là tiên là phật, thậm chí là Trời. Cho nên Cao đài chủ trương con người đến thế gian từ Trời và còn phải ráng học hỏi không ngừng để sẽ tiến hóa lên làm Trời:

Tu hành là học làm Trời,
Phải đâu muôn kiếp làm người thế gian.

Vì vậy, phải dám nói rằng, khi Tề thiên đòi... đảo chánh :bong , soán ngôi Ngọc hoàng, thì Ngọc hoàng lại vẫn yêu thương Tề thiên hơn ai hết.
=> cái nỳ là khuyến khích hay kích thích phản động đây??? Nhưng ít ra đọc câu nhắc khéo này vẫn thấm hơn so với những ngôn từ sáo rỗng hùi còn đi học. -__-

Bàn tay trùm vạn dặm

Cuộc tỉ thí giữa Tề thiên và Phật tổ là cuộc tỉ thí không cân sức. Phật tổ thách thức: “Ta đánh cuộc với nhà ngươi, nếu nhà ngươi có tài nhảy một cân đẩu vân ra khỏi được lòng bàn tay phải của ta, thì nhà ngươi thắng.” [TDK I 1982: 173]

Tề thiên là trí, dù có thông minh sáng suốt đến đâu chăng nữa thì cũng vẫn còn trong chướng ngại của thế gian trí, trong hạn chế của phàm phu trí. Đó là lý do của nghịch lý Tây du: chỉ cần một cân đẩu vân là có thể vượt qua mười vạn tám ngàn dặm dễ dàng, thế mà Tề thiên dù cố gắng đến đâu vẫn cứ phải quẩn quanh trong lòng bàn tay Phật tổ!

Phật là Pháp vương (Dharma Lord, Vua Pháp) nên bàn tay của Phật nắm trọn vạn pháp. Cân đẩu vân là cái trí phàm. Tề thiên là một pháp trong vạn pháp thì làm sao lọt ra khỏi bàn tay của Phật!
Trên nguyên tắc, Tề thiên chưa đấu thì đã thua rồi, nào phải đợi đến lúc so tài.=> buồn thay cho Đại Thánh của chúng ta :busy

Ngũ hành năm ngọn Khi biết mình thua, toan... xù vụ đánh cuộc. :bong ( but rốt cuộc cũng đâu có xù đc) :busy
Tề thiên “vội vàng tung người nhảy vút đi, nhưng bị ngay Phật tổ lật bàn tay túm chặt lấy, mang ngay ra ngoài cửa Tây thiên, biến năm ngón tay thành năm quả núi: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, gọi là núi Ngũ hành, nhẹ nhàng đè chặt Đại thánh xuống dưới.” [TDK I 1982: 175]

Bàn tay vốn có năm ngón dài ngắn không đều. Theo thuật đoán số mệnh qua bàn tay, người ta cho rằng trong bàn tay có đủ cả ngũ hành: ngón cái là kim; ngón trỏ, mộc; ngón út, thủy; ngón vô danh, hỏa; ngón giữa, thổ. [Thông thường, khi cưới vợ lấy chồng, người ta đeo nhẫn vàng ở ngón vô danh (ngón áp út), phải chăng ngụ ý muốn lấy lửa (hỏa) để thử “tuổi” vàng, để coi hôn nhân có bền được cùng năm tháng hay không?] => ko đọc thì sẽ ko biết. Trc đây lại thịnh cái lối giải thích 5 ngón là biểu tương "buồn, vui, xui, tình, bạn" kiểu "con nít" -__-. Ngại nhất đeo ngón vô danh- xui :d

Mượn hình tượng bàn tay năm ngón ứng với ngũ hành để từ đó chuyển sang hình tượng ngọn núi Ngũ hành nhốt Tề thiên, quả là cả một tài tình của Ngô Thừa Ân! Núi Ngũ hành là chi? Tề thiên là chi?

Theo Phật giáo, thân con người vốn do năm yếu tố cấu tạo thành, gọi là ngũ đại, gồm có đất, nước, gió, lửa, và hư không. Mỗi người đều có ngũ căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân). Mỗi căn đều có một ý thích riêng, do đó con người có ngũ tình: mắt thích xem cái đẹp, hấp dẫn, khêu gợi; tai thích nghe cái êm dịu, du dương, thích nghe nịnh hơn là lời nói phải; mũi thích hít mùi thơm ngon; lưỡi thích nếm thích ăn những gì hợp khẩu vị; thân lại thích sự hưởng thụ sung sướng an nhàn, v.v... Do có ngũ căn mà con người có năm thứ ham muốn (ngũ dục); những thứ đó cứ đè chặt tâm linh, tinh thần con người, rất khó gỡ ra. Do đó, con người dễ xuôi theo cái xấu cái ác mà khó vươn lên cái đẹp cái thiện.

Theo Nho giáo và Lão giáo, con người do sự phối hợp của âm dương, của năm yếu tố kim, mộc, thủy, hỏa, thổ (ngũ hành) tạo nên. Sách Lễ ký miêu tả “thành phần cơ cấu” con người như sau: “Nhân giả, kỳ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, ngũ hành chi tú khí.” (Người là cái đức của trời đất, nơi gặp gỡ của âm dương, nơi tụ hội của thần minh, là tinh hoa tốt đẹp của ngũ hành hiệp lại.)

Chính vì vậy, luôn luôn có sự liên hệ giữa thân xác và ngũ hành, chẳng hạn như biểu sau đây: Đông y xây dựng lý thuyết cũng căn cứ trên ngũ hành âm dương. Thuật luyện nội đan (thiền) của Lão giáo và Cao đài cũng vận dụng sự tương quan âm dương, ngũ hành với thân xác. Núi Ngũ hành là bàn tay hóa ra, bàn tay là một phần của thân xác, vậy núi Ngũ hành chính là cách ám chỉ thân xác con người. Tề thiên vốn dĩ thần thông mà chịu bị nhốt trong núi Ngũ hành. Ngô Thừa Ân muốn nói xa nói gần rằng: khi còn mang xác phàm nặng nề trọng trược thì chưa thể khai phóng cho phần thần diệu linh thiêng trong tự thân nội thể con người hiển lộ.

Do đó, Tề thiên từ cõi người bay đi bay về cõi phật như... đi chợ, nhưng không thể cõng Đường tăng bay vù một lèo tới chùa Lôi âm cho tiện, và Đường tăng cứ phải lẽo đẽo đi qua muôn dặm hồng trần. Muốn đạt được thần thông, tự do khai phóng, muốn được ngang bằng Trời (Tề thiên), bắt buộc phải cởi bỏ xong xác phàm. Cho nên trước khi vào đến Linh sơn, tại bến Lăng Vân, lúc bước chân xuống thuyền bát nhã, Đường tăng phải bỏ xác trôi sông, còn cái người đứng trên đò với Tiếp dẫn Phật tổ là một Đường tăng khác, một bậc chơn nhơn đã siêu thoát [TDK X 1988: 162].

Lá bùa sáu chữ

Posted Image

Lại nói về việc giải cứu Tề thiên thoát ra khỏi núi Ngũ hành [TDK II 1982: 72-73]. Ngô Thừa Ân đã cốt ý muốn rằng chỉ có Tam tạng mới cứu được Tề thiên, chỉ có Tam tạng mới giúp nổi Tề thiên hất tung cả núi Ngũ hành.

Tại sao lại là và chỉ là Tam tạng? Mà Tam tạng có nghĩa gì?

- Tam tạng (tripitaka) là ba kho báu của nhà Phật. Con người muốn giải thoát, phải nương nhờ vào ba kho bảo vật này, gồm có: - Kinh tạng (sutra pitaka): là các kinh, tức là giáo lý của đức Phật.
- Luận tạng (abhidharma pitaka): là các lời bình luận để giảng giải kinh Phật. (Cũng giống như ở Nho giáo, có sự phân biệt giữa kinh và truyện, truyện là phần diễn giải lời kinh.)
- Luật tạng (vinaya pitaka) là giới luật, kỷ luật nhà Phật, phương tiện giúp con người kềm chế thói hư tật xấu để tu sửa thân tâm cho nên thánh thiện.
=> Cái này hồi thi Lịch sử văn minh từng ra, học nó quả chẳng khác nào tụng kinh ;-)

Trong việc nhốt Tề thiên dưới núi Ngũ hành cũng như cứu Tề thiên ra khỏi núi Ngũ hành đều liên quan tới một lá bùa. Lúc đầu, khi nghe Củ soát Linh quan đi tuần tra báo cáo lại rằng Tề thiên đã thò đầu ra khỏi núi, để cho Tề thiên khỏi cục cựa làm đổ núi Ngũ hành, Phật tổ bèn “rút trong tay áo ra một tờ giấy, trên có sáu chữ vàng Úm-ma-ni-bát-mê-hồng, đưa cho A nan dặn mang đi dán trên đỉnh núi.” [TDK I 1982: 180]

Tại sao phải chọn đỉnh núi mà dán? Lẽ ra phải dán chỗ nào kín gió mưa sương tuyết chứ? Phải chăng vì lá bùa này không có thể dán được chỗ nào khác hơn là ngoài đỉnh núi? Sáu chữ vàng trên lá bùa Phật tổ cũng gọi là lục tự chơn ngôn, là thần chú, là đà la ni (dharani); cũng chính là sáu vần (syllables)

Om mani padme hum=> (cái mà trong Kính Vạn Hoa đọc là Án ma ni bát mê hồng nè :d ), xuất phát từ Lạt ma giáo của Tây Tạng. Người ta tin tưởng rằng mỗi một âm trong sáu âm này đều có một huyền năng siêu phàm, cứu giúp con người khỏi sa vào đường luân hồi làm cầm thú, thoát kiếp súc sanh[13] Phân tích từng âm lại có thêm nhiều ý nghĩa khác nhau, chẳng hạn:

- Om hay Aum, có nghĩa như cung kính tuân phục, và theo ý nghĩa này nó được hiểu tương đương như chữ Amen của đạo Thiên chúa. Om là cái tên bí nhiệm để gọi Thượng đế Ba ngôi trong đạo Bà la môn. Đối với nhiều tu sĩ Phật giáo, đặc biệt là Mật tông, Om được dùng như thần chú, và là một đề tài hay đối tượng khi tham thiền quán tưởng[14]

- Mani cũng gọi Ma ni bảo châu, ngọc Mani, tượng trưng cho sự thánh thiện, thuần khiết, do đó Mani còn dùng để tượng trưng cho Phật Thích ca và giáo lý của Phật[15]

Theo Mật tông, sáu chữ thần bí này còn ám chỉ một cái “huyệt” nằm ngay trong đỉnh đầu con người. Cho nên mới phải dán bùa trên đỉnh núi. Sáu chữ này còn mang ý nghĩa: Ôi ngọc châu viên giác nằm tại liên hoa cung. Đạo Lão và Cao đài gọi đó là nê hoàn cung. Sách Ấu học quỳnh lâm gọi đó là Cao đài, nên chép “Cao đài viết đầu...” và còn chép “Đầu vi Cao đài” (Cao đài gọi là đầu... Cái đầu là Cao đài). [Bản in tại Thượng Hải 1912, quyển 2, chương Thân thể, tr. 21.] Trong Đạo đức kinh, tên nó là cốc thần.

Tóm lại, lá bùa sáu chữ Úm-ma-ni-bát-mê-hồng dán trên đỉnh núi Ngũ hành là ẩn dụ của các hành giả tham thiền, ám chỉ rằng trong đầu não con người có tiềm tàng một huyền năng linh diệu, nhờ đó mà con người có thể tiến hóa lên làm Phật làm Trời.

#7
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:
Ăn sắt uống đồng

Trở lại với chuyện nhốt Tề thiên dưới núi Ngũ hành. Tây du chép một đoạn rất... oái oăm và cắc cớ. Truyện kể rằng trước khi Như lai trở về chùa Lôi âm, thì...

“Lúc ấy, Ngài lại phát tâm từ bi, niệm thần chú, gọi cả Thổ địa, Thần kỳ, cùng Ngũ phương Yết đế dặn canh giữ núi Ngũ hành, thấy khi nào Đại thánh đói thì cho ăn viên sắt, khát thì cho uống nước rỉ đồng...” [TDK I 1982: 180] => khỉ dá có khác, ko ăn thực vật chỉ ăn kim loại, hèn gì khi bị lôi chém đầu đao gãy làm đôi -__-

Sắt hòn và nước rỉ đồng thì ăn làm sao uống làm sao cho nổi! Nuôi... “khỉ” mà tại sao không dặn đem trái cây? Tại sao Như lai chỉ định một thực đơn loại đặc sản quái lạ như thế?! :jeje: ( đúng đó, chơi gì kỳ vậy???) >:bong

Đã vậy, lúc mở đầu chuyện ăn sắt uống đồng này, thì truyện chép rõ ràng rằng Như lai nói như vậy, và do “Ngài phát tâm từ bi”. Từ bi thấy mà... ớn! :busy

Như lai là Chân lý. Cái gì do Như lai nói ra đều đồng nghĩa với Chân lý. Vậy, dặn cho ăn viên sắt uống nước rỉ đồng nhất định phải là lời thật, lẽ thật, việc thật, và đúng là phát sinh do lòng từ bi thật sự. (nghi ngờ à???)

Posted Image

Đạo Lão có thuật luyện đan, để trường sinh bất tử, tức là bỏ xác phàm làm tiên. Câu chuyện ăn sắt uống đồng hóa ra chỉ là một ẩn dụ, nhằm nói xa nói gần đến việc tu luyện mà thôi. Phật từ bi muốn cứu người sống, nên dặn dò phải biết tham thiền luyện đạo. Qua Tây du, Phật và Lão đều rất đề huề. Ngô Thừa Ân khéo léo vận dụng cả hai nguồn giáo lý ấy để nói về con đường gian khổ mà hành giả bắt buộc phải vượt qua để tìm thấy Người Yêu lý tưởng của mình, là Chúa, là Phật, là Thượng đế. Muốn nhìn được chân dung Người Yêu, đành phải vượt núi. => đi tìm người yêu kiểu này chắc chưa tìm đc thì đã chết mất xác quá -__-

Yêu nhau mấy núi cũng trèo,
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.
Có điều, trong cõi người ta,
Con đường leo núi vẫn là gai chông.
Cho nên lắm khách... anh hùng,
Ngậm ngùi ngó núi chạnh lòng thở than.


Than rằng : Núi cao chi mấy núi ơi,
Che khuất mặt trời, chẳng thấy Người Yêu!

Vạn năm chờ quả chín

Trên con đường sang phương Tây thỉnh kinh, năm thầy trò Đường tăng không thiếu những cơ hội tiếp xúc với các đạo sĩ Lão giáo, và chuyện họ đến núi Vạn thọ, ghé vào tá túc ở quán Ngũ trang là một trường hợp điển hình [TDK III 1988: 71-139].

Chùa (hay tự) là nơi nương thân của tăng ni. Quán (hay đạo quán) là chỗ náu mình của đạo sĩ. Quán Ngũ trang do quyền cai quản của Trấn nguyên Đại tiên. Ông chủ này còn có tên là Dữ thế Đồng quân. Một hôm trước mặt học trò, Trấn nguyên Đại tiên dặn dò rằng:

“Sắp tới, có một cố nhân của ta đi qua đây, hai con phải tiếp đón nồng hậu, mang hai quả nhân sâm ra mời ngài xơi, để tỏ chút tình cố cựu. (...) Năm trăm năm trước, ta với ngài ấy có quen biết nhau (...). Ngài đã từng tự tay mời trà ta, kính trọng ta. Từ đấy ta coi như bạn cũ.” [TDK III 1988: 76]

Khi mượn miệng Đại tiên nhìn nhận Đường tăng là “cố nhân”, là “bạn cũ” của ông, Ngô Thừa Ân đã tế nhị bày tỏ quan điểm Tiên Phật đề huề, Thích Lão không hai. Thầy trò Đường tăng đến núi Vạn thọ và tạm trú trong quán Ngũ trang nhằm lúc Trấn nguyên Đại tiên đi vắng, vì phải dự buổi thuyết pháp quan trọng do Nguyên thủy Thiên tôn triệu tập. Hai đồ đệ Thanh Phong, Minh Nguyệt ở nhà vâng lời dặn dò của sư phụ, đón tiếp Đường tăng chu đáo.

Đường tăng được mời thưởng thức hai trái nhân sâm, trông hao hao dạng người. Vốn tu hành, trường trai giới sát (ăn chay trường, không giết hại sinh mạng), nhìn thấy hai trái sâm, Đường tăng hoảng vía, cho nên

run rẩy sợ hãi, lùi xa ba thước, nói: Lạ quá! Lạ quá! Năm nay được mùa, mà sao nơi đây thất bát đến nỗi phải ăn cả thịt người? Đứa trẻ này chưa đầy ba ngày mà mang cho tôi giải khát ư?” [TDK III 1988: 82]
=> hình như cả đời chưa thấy trẻ hay sao ấy, kích thước của 1 đứa trẻ thật và 1 quả nhân sâm hình trẻ đâu có giống nhau??

Nài ép cách mấy, giải thích cách chi cũng không mời được Đường tăng, hai đệ tử của Trấn nguyên Đại tiên về phòng riêng bèn bảo nhau... “đại diện” Đường tăng chia đôi mỗi người một quả xơi tất. Rủi ro, Bát giới đang ở khít vách nghe lóm chuyện hai tiểu đồng bàn bạc, biết được đấy là của quý có một không hai, lập tức xúi Tề thiên lén ăn trộm nhân sâm chia nhau ăn cho biết mùi mẽ. Đến khi việc ăn trộm đổ bể, Tề thiên giận, phá nát cây nhân sâm, đánh cho bật gốc chết khô. Sau phải cầu viện Quan âm tới cứu cho cây nhân sâm sống lại.

Posted Image

Minh Nguyệt

Chuyện dẫn từ Hồi thứ 24, sang cuối Hồi thứ 26 mới dứt. Coi như trọn đủ ba hồi. Dài dòng và... vô lý đến khó hiểu! Vô lý, vì lẽ trên đời làm gì có cây nhân sâm nào to như thế, linh diệu đến thế! Những điều vô lý khi tả cây nhân sâm Ngô Thừa Ân miêu tả hình dáng cây nhân sâm ở quán Ngũ trang như sau:

Một thân cây cổ thụ cực to, cành xanh thơm ngát, lá biếc um tùm, lá trông từa tựa lá chuối, dựng đứng cao hơn nghìn thước, gốc to đến bảy tám ôm. Hành giả tựa vào gốc cây nhìn lên, thấy cành phía nam lấp ló một quả sâm rất giống đứa trẻ, cuống quả dính vào ngọn cây, chân tay đung đưa, đầu mặt gật gù, gió thổi qua kẽ lá như tiếng trẻ kêu.” [TDK III 1988: 86]

Trái nhân sâm đặc sản của quán Ngũ trang còn có tên là nhân sâm quả hay thảo hoàn đơn. Theo Ngô Thừa Ân thì:

Giống cây này ba nghìn năm mới nở hoa, ba nghìn năm mới kết quả, lại ba nghìn năm nữa mới chín. Tính ra phải một vạn năm mới được ăn. Và trong một vạn năm ấy chỉ kết được ba mươi quả. Hình dáng quả này tựa như trẻ mới sinh chưa đầy ba ngày, tứ chi hoàn toàn, ngũ quan đủ cả.” [TDK III 1988: 75] => giống này mà có thật chắc cũng ko ai sống thọ mà chờ ngày đc ăn đâu nhỉ?

Người học thuốc, nghiên cứu nhân sâm đều thừa biết rằng không có cây nhân sâm nào to như đại thụ, không có lá nhân sâm nào giống như lá chuối, và rõ nhất là không có trái nhân sâm nào mọc đong đưa trên cành chờ hái, mà chỉ có củ (hay rễ) nhân sâm nằm dưới đất phải đào lên mới lấy được. Lẽ thường lá nhân sâm mọc vòng, cuống dài, lá kép gồm nhiều lá chét mọc thành hình chân vịt; củ hay rễ nhân sâm không hề giống như truyện Tây du miêu tả. Cây nhân sâm từ năm thứ ba trở đi là đã đơm hoa kết trái được rồi. Quả mọng và dẹt, to bằng hạt đậu xanh, khi chín thì đỏ... Còn củ hay rễ nhân sâm thì sau sáu năm trồng cây là đã có thể đào lên dùng.

Posted Image

cây nhân sâm

Người Việt Nam gọi nhân sâm là củ sâm vì chính là rễ sâm (radix ginseng) mới có dạng hao hao như hình người. Thực ra, khi mới đào lên thì củ sâm nhìn chưa giống dạng người cho lắm, phải qua một quá trình chế biến rất công phu như sau:

- Lấy củ: Cây sâm tối thiểu đã trồng được sáu năm thì có thể đào lấy củ. Đào củ khoảng cuối mùa Thu (trung tuần tháng Chín) hay đầu mùa Đông (thượng tuần tháng Mười). Lúc đào củ phải ráng giữ để khỏi làm đứt các rễ lớn, nhỏ. Còn phải giữ nguyên độ ẩm của củ, do đó không được hong gió hay phơi nắng.

- Rửa củ: Dùng bàn chải nhỏ cọ rửa từng củ cho sạch đất. Lúc rửa phải ngâm củ trong nước.

Posted Image

củ nhân sâm lúc mới hái xong

- Hấp và sấy củ: Củ rửa sạch cho vào nồi hấp chừng một tiếng rưỡi, ở nhiệt độ 80o-90o. Sau đó sấy khô khoảng 6-7 giờ (nếu nhiệt độ 50o-60o).

- Sửa và phơi củ: Củ đã sấy khô rồi, dùng tay bứt các rễ nhỏ để dùng vào việc khác. Rễ này gọi là tu sâm (tức sâm râu hay râu sâm). Dùng tay sửa nắn lại vị trí các rễ lớn, tạo dáng dấp như một người có đủ hai tay hai chân (nên gọi là nhân sâm). Tùy theo củ sâm nhỏ lớn mà đem phơi cho khô để bảo quản được lâu. Thời gian phơi từ một tuần đến nửa tháng là xong quy trình chế biến
[Đỗ Tất Lợi 1981: 799].

Posted Image

khi hoàn tất đã có dạng hình người

=> công phu đến thế thảo nào mà nhân sâm mắc nhất trong các loại thuốc. 8-|

Trong quá trình thực hiện sáu công đoạn (đào, rửa, hấp, sấy, sửa, phơi), củ sâm đã phải tiếp xúc đầy đủ với cả ngũ hành: củ nằm trong đất (thổ), rửa và ngâm trong nước (thủy), hấp trong nồi kim loại (kim), sấy bằng lửa (hỏa), phơi nắng thì bày trong nia, hay mẹt (mộc). Như vậy, nhờ có đủ cả ngũ hành mà nhân sâm mới trở thành một thứ củ quý trần gian.
=> Ủa vậy rốt cuộc nó quý vì trải qua ngũ hành à? Thế mà mình đinh ninh trc giờ là do ít hiếm nên quý chớ :bong

Ngược lại, “quả” nhân sâm mọc từ cây báu ở núi Vạn thọ, vốn đã có “từ khi còn hỗn độn mới chia, trời đất còn mờ mịt chưa phân” [TDK III 1988: 75], và lạ thay, thứ quả sâm này lại rất “kỵ” ngũ hành, nghĩa là phải chịu cảnh... ngũ hành tương khắc.( vậy quý nhờ là ...đồ cổ??_ 1 vạn năm đâu có ngắn) :busy

Tây du ký nói rõ chỗ ngũ hành tương khắc như sau: “Quả này gặp kim thì rụng, gặp mộc thì khô, gặp thủy thì hoá, gặp hoả thì héo, gặp thổ thì nhập. Hái quả phải dùng đồ kim khí mới rụng được, rụng rồi phải đựng trong một cái khay lót vải, nếu không chạm vào đồ gỗ là khô ngay, ăn vào cũng vô ích không thể kéo dài tuổi thọ được. Muốn ăn phải đựng vào đồ gốm, chiêu với nước trong. Quả này gặp hỏa là héo, vô dụng, gặp thổ là chui vào đất.” [TDK III 1988: 88]

Óc tưởng tượng của người thuật chuyện Tây du như vậy là vô địch! Mà nào đã hết! Trước khi xem lại sự huyền diệu của quả sâm ở quán Ngũ trang cũng nên biết qua về dược tính của nhân sâm, để hiểu phần nào vì sao tác giả Tây du lại mượn củ sâm mà bịa ra chuyện quả sâm. Đông y coi có bốn thứ thuốc đại bổ, theo thứ tự từ hạng nhất tới hạng tư là: sâm, nhung, quế, phụ.

- Phụ tức là phụ tử (tên khoa học: aconitum napellus).
- Quế (cinnamomum, tiếng Anh là cinnamon).
- Nhung tức là lộc nhung hay mê nhung, là sừng của con hươu (con lộc).
- Sâm (tên khoa học là panax gingeng). Ginseng là tên phiên âm hai chữ nhân (gin) sâm (seng). Còn panax xuất phát từ gốc tiếng Hy Lạp là panakes, tương đương với chữ panacea trong tiếng Anh, ý nghĩa của nó là trị đủ bệnh, trị bá chứng (all-healing, cure-all).


Xét về từ nguyên cũng đủ rõ giới thầy thuốc đã coi nhân sâm là linh dược thần diệu cho con người. Sách thuốc cổ từng cho rằng nhân sâm bổ ngũ tạng (tim, gan, bao tử, phổi, thận), giúp nhẹ mình, tăng tuổi thọ, trị bệnh đường ruột. Theo Đỗ Tất Lợi, các cuộc thí nghiệm ở Nga, Nhật, Trung Quốc vào giữa thế kỷ 20 cũng cho thấy nhân sâm làm giảm mệt mỏi, hưng phấn, tăng hô hấp, tăng sức đề kháng của cơ thể, giảm lượng đường trong cơ thể, và tăng cường sinh lực! Tuy nhiên, cho dù nhân sâm thực sự có là panax đến đâu thì cũng chưa ai dám bạo miệng như Ngô Thừa Ân khi miêu tả dược tính của quả nhân sâm núi Vạn thọ, quán Ngũ trang, quả quyết rằng:

Ai có duyên được ngửi quả này một lần, thì sống lâu ba trăm sáu mươi tuổi; ăn một quả, sống mãi bốn vạn bảy nghìn (47.000) năm.” [TDK III 1988: 75]

Vốn dĩ nhân sâm trong dân gian đã là huyền thoại cho nên Ngô Thừa Ân đã thừa gió bẻ... sâm :bong , bằng cách khuếch đại nên câu chuyện hoang đường, biến củ thành trái, biến rễ thành quả, tức là đem cái dưới đất mà đặt lên ngọn cây. Nói cách khác, đây là nghịch chuyển, nghịch hành. Hiểu như vậy, là bắt đầu nắm được chiếc chìa khóa để giải mã câu chuyện hư cấu này.

Những sợi chỉ mỏng manh


Họ Ngô đã tạo nên những tình tiết nho nhỏ hỗ trợ cho chủ đề chính của câu chuyện. Đó là những sợi chỉ mỏng manh nhưng sẽ giúp người đọc Tây du lần phăng ra manh mối của trái nhân sâm. Thoạt đầu, mới vào chuyện liền giới thiệu tên núi là Vạn thọ. Mà Vạn thọ đồng nghĩa với truờng sinh bất tử. Lại nói quả nhân sâm còn có tên là thảo hoàn đơn [TDK III 1988: 75].

Đơn (đan) gợi nhớ đến nghĩa luyện đơn, nấu thuốc (thiền) của đạo Lão. Đã vậy, muốn ngầm mách nhỏ người đọc Tây du hãy hiểu câu chuyện này qua lăng kính đạo Lão cho nên vừa vào chuyện là đã nhắc ngay đến đại tiên, đạo quán. Nói quả nhân sâm ba nghìn năm mới nở hoa, ba nghìn năm mới kết quả, ba nghìn năm mới chín, tức là nói đến chín nghìn năm. Số chín ám chỉ cửu chuyển công thành hay cửu chuyển đơn thành trong phương pháp tu luyện của đạo Lão [xem bài Ngọn gió trong lò].

Nói nhân sâm có hình đứa trẻ mới sinh chưa đầy ba ngày [TDK III 1988: 75] là ngụ ý nhắc đến anh nhi, xích tử (new-born child). Anh nhi cũng là thánh thai (holy embryo).
Nhân sâm trong câu chuyện này tượng trưng cho tinh trùng của người. Sống theo nếp đời trần tục, nam nữ phối hợp thì tinh cha huyết mẹ sẽ tạo nên phàm thai (human embryo), sản sinh con nít. Đó là con đường mà tinh đi xuống để nối dõi tông đường, bảo tồn giống nòi. Đi xuống như vậy thì cây nhân sâm cho củ dưới đất. Sống theo đời tu hành thiền định của Lão, Phật và Cao đài thì khởi đầu phải tập giữ thân thanh tịnh bằng cách trường trai, ăn thuần rau quả (nên quả nhân sâm có tên thứ hai là thảo hoàn đơn, thảo là cây cỏ); kế đó, tiến lên một nấc cao hơn là diệt dục, tránh giao hợp, giữ gìn tinh huyết để có đủ “nguyên liệu” mà đốt lửa bắc lò bát quái [tức là tham thiền luyện đạo, xem bài Ngọn gió trong lò]. Cũng phải dứt hết những lo nghĩ, những việc làm nào khiến cho hao thần tổn khí. Theo đạo Lão và Cao đài, tinh, khí, thần là ba món báu (tam bửu) của hành giả tu thiền.

Lão giáo và Cao đài coi việc giữ gìn tinh, khí, thần là quan trọng nên luôn dạy hành giả phải bảo tinh, dưỡng khí, tồn thần. Đề cao tam bửu hơn nữa thì nói đến nguyên tinh, nguyên khí, nguyên thần. Vậy, đâu phải khơi khơi mà Ngô Thừa Ân bèn đặt tên cho chủ nhân quán Ngũ trang là Trấn nguyên Đại tiên. ??

Trấn hiểu là gìn giữ; còn nguyên lại gợi nhớ đến nguyên tinh, nguyên khí, nguyên thần. Tu theo đạo Lão (cũng như Cao đài) cần giữ nguyên tinh để tham thiền tịnh luyện, tạo thành thánh thai, trường sinh bất tử. Đó là đi ngược lại thói tục đời thường, đó là nghịch chuyển công phu, cho nên Tây du mới bảo cây nhân sâm mọc trái lên ngọn. Nói nhân sâm kỵ ngũ hành thì phải hiểu là ngũ hành hậu thiên, ám chỉ thân xác con người [xem bài Núi cao chi mấy núi ơi]. Sự chung đụng xác thịt trong vòng tình dục sẽ chỉ tạo ra phàm thai chứ không biến tinh ra thánh thai. Ngược lại, nhờ diệt dục, trường trai mà cơ thể, thân xác được tinh khiết, thanh tịnh; đó là điều kiện tối thiểu để luyện đạo cho thành công.

=> hèn gì mà có cụm "phàm nhân", từ phàm thai phát triển mà thành. Quả là lời cao siêu

Cho nên Ngô Thừa Ân mới đặt tên quán là Ngũ trang. Trang là trang nghiêm. Tất cả ngũ quan (mắt, tai, mũi, miệng, thân thể), ngũ tạng (tim, gan, tì, phổi, thận) đều trong sạch. Nói theo Phật, ngũ căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng ,hành, thức) đều không còn làm người tu hành điên đảo nội tâm; người tu dứt bỏ xong dục vọng, mê luyến, sân giận, v.v... thì khi ấy thân xác ngũ hành (Phật gọi là ngũ đại) biến đổi nên cõi thanh tịnh, trang nghiêm, là Ngũ trang quán. Chỉ với những điều kiện như vậy mới tác thành nổi “quả nhân sâm”. Quả cũng là kết quả. Con đường tu luyện để đắc đạo đương nhiên rất khó. Vì bắt buộc phải đi ngược dòng thế tục. Cho nên Tây du bảo rằng đúng mười ngàn năm mới được ăn được quả nhân sâm [TDK III 1988: 75].

Còn khi đã “hái” được “quả” nhân sâm rồi thì đắc đạo, thành tiên thành phật, trường sinh bất tử, không còn phải chịu cảnh luân hồi sinh tử nữa. Thế nên, kết thúc chuyện nhân sâm quán Ngũ trang, núi Vạn thọ, Ngô Thừa Ân nhắn nhủ rằng: Có duyên ăn thảo hoàn đơn, Sống lâu ma quỉ tai ương lo gì. [TDK III 1988: 139]

Người có được “nhân sâm”, ấy là người đắc đạo. Đắc nhưng mà vẫn không có chỗ được. Vì có ai cho ai đâu mà nói được nói đắc! Căn tiên cốt phật (chủng tử) vốn đã tự có, tự hữu, hằng hữu ở mỗi con người, đâu phải từ bên ngoài đem vào trong thân mà có. Vì thế Ngô Thừa Ân mới bảo rằng cây nhân sâm đã hiện hữu từ lúc vũ trụ còn hỗn mang, khi chưa tạo thiên lập địa [TDK III 1988: 75], tức là tiên thiên.
Theo Phật, người đắc đạo chưa vội vào niết bàn mà còn chung sống với phàm phu cõi tục để cứu đời, tùy duyên hóa độ. Phật gọi đó là bồ tát. Theo Đạo đức kinh, đó là bậc thánh nhân, biết “hòa kỳ quang, đồng kỳ trần”, tức là dù đã giác ngộ, nhưng vẫn đem cái sáng (quang) của mình hòa cùng cái sáng phàm tục của đời, tuy thân thoát ra vòng trần cấu mà vẫn không nỡ riêng mình rời bỏ trần gian.
Triết lý đó, cả Phật, Lão và Cao đài xưa nay đều cùng chủ xướng. Hiểu Phật và Lão cho đến kẽ tóc chân tơ, cho nên Ngô Thừa Ân mới dám trộn lộn cả chuyện phật lẫn chuyện tiên thành một bộ Tây du. Họ Ngô lại kín đáo nói tới cái chủ trương người đắc đạo tuy thoát tục mà không lìa tục của Lão, Phật, bằng cách bảo rằng chủ nhân cây nhân sâm ở quán Ngũ trang nơi núi Vạn thọ còn có tên là Dữ thế Đồng quân [TDK III 1988: 75], tạm hiểu là bậc cùng sống chung lẫn lộn với thế nhân cõi tục.

Posted Image

Bồ Tát

Bằng hình tượng ngôn ngữ vạn thọ, ngũ trang, trấn nguyên, dữ thế đồng quân, thảo hoàn đan; bằng tượng số chín ngàn năm đơm hoa kết quả và trái chín; bằng biểu tượng nhân sâm giống trẻ con mới đẻ, tất cả những điều ấy, qua óc tưởng tượng phong phú, tài nghệ hư cấu tuyệt kỹ của Ngô Thừa Ân, tác giả đem cái chuyện luyện đan nấu thuốc, tham thiền tịnh luyện ẩn náu sau câu chuyện tưởng chừng chỉ để mà giải trí mua vui. Trong cái giả tưởng lại hàm tàng cái phi giả tưởng. Sau lớp hư cấu là chân lý giải thoát bằng tu chứng của Phật và Lão. Để đạt đến sự chứng đắc ấy, con đường nhiêu khê chi xiết! Ai đâu dám lấy thời gian mà đặt cuộc cho sự viên thành? Ôi, một vạn năm mới chờ ăn được... quả chín! Con đường ngược chiều, con đường phản bổn hoàn nguyên, là con đường của Đường tăng đi về vĩnh cữu thường hằng, mà Ngô Thừa Ân ví von là vin cành hái trái.
:jeje:

#8
Niệm Phật

Niệm Phật

    Tiền trảm hậu tấu

  • Advance Member
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2605 Bài Viết:
http://www.thuvien-e...read.php?t=4029


các bạn vào đây mà xem tiếp nha, dài quá nên up lên không nổi :jeje:

#9
metalwarrior

metalwarrior

    Trình độ A CSTH

  • Advance Member
  • PipPip
  • 208 Bài Viết:
dài quá ah

#10
thieugia22288

thieugia22288

    Căn bản tin học tốt

  • Member
  • Pip
  • 59 Bài Viết:
dài thật nhưng mà ở cửa phật còn có tham ô huống gì thời này. Tham ô là tất yếu.

#11
kingofkings

kingofkings

    Căn bản tin học tốt

  • Member
  • Pip
  • 79 Bài Viết:
dài nhưng mà hay






Perfumista - Thong tin nuoc hoa

Stars Counter Game

Balloon vs. Thorns

MU Phuc Hung

Làm Việc Tài Nhà

Mu Da Nang

Tuyển Nhân Viên Bán Hàng

Tư vấn sức khỏe trực tuyến

Close [X]