Jump to content

Welcome to [ iT ] Forums
Register now to gain access to all of our features. Once registered and logged in, you will be able to create topics, post replies to existing threads, give reputation to your fellow members, get your own private messenger, post status updates, manage your profile and so much more. If you already have an account, login here - otherwise create an account for free today!
Cộng đồng Âm nhạc Việt Nam

Hình ảnh

Thơ xuân

- - - - -

  • Please log in to reply
6 replies to this topic

#1
tuphuvutuong

tuphuvutuong

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 331 Bài Viết:

Xuân vãn
Ngài là một vị vua anh minh lỗi lạc, một nhà văn hóa lớn, một thi sĩ uyên thâm, một thiền sư đắc đạo và hơn hết Ngài là một vị Sư Tổ Thiền Việt nam. Ngài sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử lúc ngài 41 tuổi sau khi nhường ngôi lại cho con là vua Trần Anh Tông(1276-1320). Trong những thi phẩm của Ngài, thơ xuân chiếm một phần rất lớn. Một trong những bài thơ đó là bài Xuân Vãn. Có lẽ Ngài chỉ mượn cảnh mùa xuân để diễn đạt sự chứng ngộ của Ngài. Mà sự chứng ngộ của riêng Ngài thì làm sao kẻ phàm phu tục tử như chúng ta có thể thấu triệt được. Bài thơ như sau:

Xuân vãn
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.
Như kim khám phá Ðông hoàng diện,
Thiền bản, bồ đoàn khán trụy hồng.
Trần Nhân Tông


Dịch nghĩa:
Khi còn trẻ(chúng ta/nhà Vua) chưa từng hiểu rõ 'sắc' với 'không'
Mỗi khi xuân đến vẫn xao xuyến/gửi lòng trong trăm hoa
Ngày nay đã khám phá/nhận diện được bộ mặt của Chúa xuân
Ngồi trên nệm cỏ/bồ đoàn nhà thiền ngắm cảnh hoa hồng rụng.
Bài thơ này đã có nhiều người dịch, ví dụ:


Xuân Muộn
Tuổi trẻ chưa tường không với sắc,
Lòng xuân mãi vướng với trăm hoa;
Nay đà hiểu hết được lẽ thật,
Bình thản ngồi trông bóng xuân qua.
Phan Thành Khương


Xuân Muộn
Tuổi trẻ chưa tường lẽ sắc không,
Xuân sang, hoa nở, rộn tơ lòng.
Chúa xuân nay đã thành quen mặt,
Nệm cỏ ngồi Thiền ngó rụng hồng.
Trích từ bài của Nguyễn Công Lý


Nhưng có lẽ chúng tôi thích nhất là lối dịch rất thoát của Ôn Trúc Lâm.
Cuối xuân
Thuở bé chưa từng rõ sắc không,
Xuân về hoa nở rộn trong lòng.
Chúa Xuân nay bị ta khám phá,
Thiền bản, bồ đoàn, ngắm cánh hồng.
Hòa thượng Trúc Lâm dịch - Trích từ bài của thầy Thích Thông Huệ


Riêng cá nhân chúng tôi, thì cũng định dịch ra như sau:
Xuân qua
Tuổi trẻ chưa tường tỏ sắc không
Tâm xuân vừa đến trăm hoa lòng
Bây chừ hiểu rỏ thềm chân lý
An nhiên tĩnh tọa cánh hồng rơi.
Đọc qua, đọc lại vẫn chưa diễn đạt những gì Sư Tổ muốn nói, rồi lại đổi thành:
Xuân rãi
Tuổi trẻ chưa tường tỏ sắc không
Tâm xuân vừa đến trăm hoa lòng
Chúa Xuân hiện hữu thừa chân lý
Giường Thiền tĩnh toạ thấy hồng rơi.
Tâm Thường Định


Bài thơ này được cư sỹ Nguyên Giác dịch ra tiếng Anh là:
The Late Spring
When I were young, I did not understand the existence and the emptiness.
Now the spring flowers bloom, and I am blissful to see clearly the face of the spring.
From the Zen bed, sitting on a grass mat, I keep watching the falling roses.


Rồi chúng tôi theo gót anh cũng mạo muội dịch ra tiếng Anh như sau:
Spring Perspective
The young don’t understand existence or emptiness
Their inner spring arrives and hundreds of flowers start to bloom
A clear understanding and realization of the true path arises
Sitting and reflecting on the falling of the rose petals. (Phe Bach translated)
Nhưng cũng chưa hài lòng lắm, nên dịch lại là:
The Inner Spring
When I was young, I didn't quite understand existence or emptiness
The spring comes and I am still excited as hundreds of flowers start blooming
Now, realizing the inner spring is always here; it is the true path
Sitting on the Zen mat acknowledging the falling of the rose petals. (Phe Bach translated)

Nói tóm lại, chúng ta không thể thấu triệt được những gì đã chứng ngộ, là trí tuệ bát nhã, là tinh thần Bồ tát Ðại thừa của vị Thiền sư đắc đạo. Hay như thầy Thông Huệ nhấn mạnh: 'Thuở bé chưa từng rõ sắc không / Xuân về hoa nở rộn trong lòng'. Thuở bé là lúc còn non tuổi đời, cũng là khi còn ấu thơ về đạo lý. Nhân một ngày xuân đi dạo trong vườn thượng uyển, Thái Tử thấy trăm hoa đua nở tỏa hương ngào ngạt. Chưa thấu hiểu lý Bát Nhã, chưa rõ thể tánh không của các pháp, Thái Tử ngỡ thân tâm cảnh đều thật có. Ý thức chấp ngã chấp pháp mạnh mẽ, nhất là trong điều kiện thuận lợi về vật chất, Ngài làm sao tránh khỏi rộn ràng xao xuyến khi thấy cảnh xuân về? Mà cá nhân chúng tôi, ở tuổi tam thập nhi lập, thì làm sao dịch cho hay được. Mình bị giới hạn những cái gì mình đang là. Cho nên, mặt dù tất cả chúng ta có ý nghĩ tốt, nhưng dịch những bài thơ thiền đã được chứng ngộ như vậy thì chúng ta chưa đạt được, nên chúng ta hãy để nguyên như vậy.

Tâm Thường Định



#2
tuphuvutuong

tuphuvutuong

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 331 Bài Viết:

Bài thơ Xuân vãn của Điều Ngự Giác Hoàng - Trần Nhân Tông

Vua Trần Nhân Tông là một minh quân đời thứ 3 triều Trần. Từ lúc còn là Thái Tử, Ngài đã được vua cha cho học Thiền cùng Tuệ Trung Thượng Sĩ, biết rõ đường lối tu hành theo tông chỉ: 'Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc'(Xoay lại soi sáng chính mình là phận sự gốc, không cầu bên ngoài mà được). Khi lên ngôi, dù bộn bề trăm việc đối nội và đối ngoại, Ngài vẫn có chỗ sống riêng của mình, tuy ở trong trần mà vẫn vui với Đạo. Năm 41 tuổi, Ngài nhường ngôi cho con, sau đó xuất gia về núi Yên Tử, lấy hiệu Hương Vân Đại đầu đà, được tôn xưng là Điều Ngự Giác Hoàng. Ngài sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử mang đậm bản sắc dân tộc, trở thành vị Sơ Tổ của dòng Thiền đặc thù Việt nam. Bài thơ Xuân vãn là một trong những bài mượn cảnh mùa xuân, diễn đạt một cách sâu sắc trình độ tâm linh vút cao của Ngài:


Xuân vãn

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.
Như kim khám phá Đông hoàng diện,
Thiền bản, bồ đoàn khán trụy hồng.

Cuối xuân
Thuở bé chưa từng rõ sắc không,
Xuân về hoa nở rộn trong lòng
Chúa Xuân nay bị ta khám phá,
Thiền bản, bồ đoàn, ngắm cánh hồng.
Hòa thượng Trúc Lâm dịch.

Bài thơ tứ tuyệt ngắn ngủi nhưng bao hàm cả hai giai đoạn đời Ngài: lúc còn bé chưa biết đường tu và khi đã là vị Thiền Sư đạt đạo.
Thuở bé chưa từng rõ sắc không / Xuân về hoa nở rộn trong lòng: thuở bé là lúc còn non tuổi đời, cũng là khi còn ấu thơ về đạo lý. Nhân một ngày xuân đi dạo trong vườn thượng uyển, Thái Tử thấy trăm hoa đua nở tỏa hương ngào ngạt. Chưa thấu hiểu lý Bát Nhã, chưa rõ thể tánh không của các pháp, Thái Tử ngỡ thân tâm cảnh đều thật có. Ý thức chấp ngã chấp pháp mạnh mẽ, nhất là trong điều kiện thuận lợi về vật chất, Ngài làm sao tránh khỏi rộn ràng xao xuyến khi thấy cảnh xuân về? Và đây hầu như là tâm trạng chung của con người, nhất là những ai có tâm hồn nghệ sĩ. Nhà thơ Đinh Hùng nhìn xuân sang mà nhớ hương người xưa:

Xuân nào như xuân mới?
Hương nào như hương xưa?
Lòng chàng không có tuổi
Duyên chàng se tình cờ.

hay J. Leiba nói thay cô gái tuổi trăng tròn:
Em nhớ năm em lên mười lăm,
Cũng ngày đông cuối sắp sang xuân.
Mừng xuân, em thấy tim hồi hộp,
Nhìn cái xuân sang khác mọi lần.

Tập khí của chúng ta là dính mắc với trần cảnh, loạn động theo các duyên bên ngoài. Từ đó tạo nghiệp, quẩn quanh trong sáu nẻo luân hồi. Đức Phật dạy, chính sáu căn là đầu mối của phiền não sinh tử, do tiếp xúc với sáu trần mà khởi tâm phân biệt. Nhưng sáu căn cũng là nguồn gốc của Niết bàn, khi thấy nghe hay biết tất cả các pháp mà vẫn an nhiên tự tại. Thời điểm chợt nhận ra tánh giác thường hằng của chính mình là khoảnh khắc diệu thường, ngàn năm không dễ có. Những bậc đạt đạo dùng rất nhiều mỹ từ tạm đặt tên cho tánh giác sẵn đủ ấy, vì thật sự nó không có tên, cũng không thể dùng ngôn từ diễn tả. Ở đây, Sơ Tổ Điều Ngự gọi là Chúa Xuân. 'Chúa Xuân nay bị ta khám phá'. Thật ra, Chúa Xuân không lẫn tránh, không giấu mặt, cũng không phải ở đâu xa. Chỉ vì vọng thức che lấp nên không nhận ra tánh giác lúc nào cũng sáng ngời.


Mai Hoa Ni đời Tống viết bài thơ Ngộ đạo như sau:
Tìm Xuân, chẳng thấy bóng xuân sang,
Giày rơm giẫm nát đỉnh mây ngàn.
Trở về chợt ngửi hương mai ngát,
Xuân ở đầu cành đã chứa chan.
Đỗ Tùng Bách dịch

Một đời lặn lội, mòn mỏi những bước chân giẫm nát cỏ cây trên đỉnh núi mây phủ, thế mà vẫn chưa tìm thấy mùa xuân. Chính vì ý tưởng “tìm xuân” nên xuân không thể hiện. Chúa Xuân không ở bên ngoài, không phải là đối tượng của sự tìm cầu, mà chính là mình - con người bất sanh bất diệt xưa nay. Sực tỉnh xoay trở về chính mình, ta mới nhận ra, quả thật xuân đang trùm khắp vạn hữu, mai đang tỏa ngát mùi hương.
Sơ Tổ của chúng ta không những đã trở về, đã khám phá Chúa Xuân, Ngài còn trọn vẹn sống cùng mùa Xuân miên viễn:

Thiền bản, bồ đoàn, ngắm cánh hồng.

Thiền bản: chiếc chõng hay giường nhỏ, bồ đoàn: chiếc gối tròn để ngồi. Đây là hai dụng cụ sử dụng khi tọa thiền. Giường hay chõng thiền còn ám chỉ chân tánh hay bản tâm của mỗi người. Ngồi trên giường Thiền nghĩa là hằng sống cùng bản tâm sẵn đủ. Bản tâm thường tịch nhưng thường tri, luôn lặng lẽ mà luôn chiếu sáng. Định của bản tâm không trụ không xả, không nhập không xuất nên là thường định, đại định. Tinh thần Bồ tát Đại thừa không bỏ huyễn cầu chơn, không bỏ mê về ngộ, không bỏ trần gian thủ chứng Niết bàn. Trong các cảnh vô thường sinh diệt, các bậc đạt đạo nhận ra và sống bằng thể tánh chân thường bất sinh, nên có cái nhìn thẩm thấu vào bản chất của các pháp. Do vậy, các Ngài tự tại anh nhiên trước sự biến đổi của vũ trụ vạn hữu, nên nói 'ngồi trên giường Thiền ngắm từng cánh hoa rụng trong một chiều xuân vãn'.
Cùng một cảnh xuân nhưng lúc mê thì tâm loạn động, dính mắc theo cảnh, khi ngộ thì an nhiên nhìn mọi sự đổi dời. Xuân đời đến rồi đi, hoa theo xuân nở rồi tàn, nhưng Chúa Xuân mãi hiện hữu, siêu vượt thời - không. Mùa Xuân miên viễn ấy không ở đâu xa, không từ bên ngoài đến, mà ở ngay đương xứ - tại đây và bây giờ. Cầu chúc tất cả chúng ta, nhân mùa xuân đến, nhận ra Chúa - Xuân - tự - tâm của chính mình, đồng thời chan rải hương xuân đến khắp mọi người.

Thiền thất Viên Giác



#3
tuphuvutuong

tuphuvutuong

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 331 Bài Viết:

Thơ Xuân Trần Nhân Tông

Các vua nhà Trần(thế kỷ 13) dùng núi rừng Yên Tử làm nơi tu hành và phát triển đạo Phật, hình thành phái Trúc Lâm Tam tổ.
Vua Trần Nhân Tông, người đã cùng vua cha Thánh Tông chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông và là người sáng lập thiền phái Trúc Lâm - cũng đồng thời là một nhà thơ với nhiều bài cảm tác về mùa xuân đầy tinh tế và sâu sắc.
Trần Nhân Tông là vị vua thứ ba của đời Trần. Ông thừa hưởng sự thông tuệ của ông nội là Thái Tông và cha là Thánh Tông, lên ngôi năm 1278, mất năm 1320.
Nhân Tông là vị vua cùng Thượng hoàng Thánh Tông chủ trì hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông oanh liệt nhất, cũng là vị vua sáng suốt, kiến tạo những năm đầu xây dựng đất nước sau chiến tranh.
Ông còn là người lập ra thiền phái Trúc Lâm, cùng Trần Thái Tông, xây dựng thiền phái riêng ở trời Nam này, và có những học thuyết về thiền học khá sâu sắc. Nhưng vua cũng là người yêu thiên nhiên, hay làm thơ.
Ông để lại nhiều thơ trong các tập thơ Trần Nhân Tông, Đại hương hải ấn thi tập, Tăng già toái sự, Thạch thất mỵ ngữ. Nhưng hiện nay, theo các nhà sưu tập thơ Lý Trần, thì chỉ giữ lại được 31 bài thơ của ông. Trong 31 bài thơ này, có đến gần chục bài thơ về mùa xuân. Có thể về mùa xuân, nhà vua hay đi du ngoạn và từ đó làm thơ.
Đây là một nét xuân ban mai:


Xuân hiểu

Thủy khởi khải song phi
Bất tri xuân dĩ quy
Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi


Buổi sớm mùa xuân
Ngủ dậy tung song cửa
Nào hay xuân đã sang
Một đôi bươm bướm trắng
Gặp hoa, cánh vội vàng.


Nhà thơ bất ngờ trước cảnh xuân đến, càng bất ngờ thấy cái rộn rã của mùa xuân qua đôi bướm trắng chớp cánh bay đến với hoa. Tình kín đáo mà cảnh thì hồn nhiên. Thi tứ đã chớp được cái khoảnh khắc ấy. Còn đây là ý nghĩ khi đến vãn cảnh chùa Cổ Châu:

Đề Cổ Châu hương thôn tự
Thế số nhất sách mặc
Thời tình lưỡng hải ngân
Ma cung hồn quản thậm
Phật quốc bất thăng xuân


Đề chùa Cổ Châu
Số đời thật mờ mịt
Mắt giấu tình bên trong.
Cai quản cung ma chặt
Đất Phật xuân thong dong.


Từ chùa nghĩ về xứ Phật. Cõi thiền vậy đấy, nhưng biết đâu, khi mùa xuân đến thì cái tình vẫn nhen nhóm. Muốn tu được thì không gì khác phải giữ sao cho không có đất của sự cám dỗ thì mùa xuân cửa Phật mới thật yên ổn. Chuyện Phật ư? Chuyện đời và cả chuyện răn mình nữa đấy chứ!
Còn đây là xuân trên hồ Động Thiên:

Động Thiên hồ thượng
Động Thiên hồ thượng cảnh
Hoa thảo giảm xuân dung.
Thượng đế liên sầm tịch
Thái thanh thì nhất chung

Trên hồ Động Thiên
Cảnh hồ Động Thiên nọ,
Hoa cỏ giảm màu xuân
Thượng đế thương hiu quạnh
Tầng xanh chuông bỗng ngân
Trần Lê Văn dịch


Hồ ở nơi vắng vẻ cằn khô, khiến vẻ xuân hoa cỏ cũng kém phần. Nhưng cái phần xuân ở trên tầng trời xanh vẫn dồi dào lắm. Và trời đã đem cái hương xuân ấy từ trời đến cho vùng đất xa xôi hẻo lánh này qua những tiếng chuông ngân . . . Phải có tâm hồn tinh tế đến thế nào mới nhận biết được cái tình của vũ trụ, không để cho một nơi nào dù hiu quạnh phải thiệt thòi. Cái tâm nhân hậu bao la mới có được cái tứ thơ như thế.
Nhà vua thường hay quyến luyến với cái vẻ xuân, và lần nào người cũng nhận được những điều sâu kín từ trong những ngày xuân ấy. Người viết:

Xuân cảnh
Dương liễu hoa xuân điểu ngữ trì
Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi
Khách lai bất vấn nhân gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thúy vi!

Cảnh xuân
Khoan nhặt chim kêu hoa liễu dầy
Họa đường thềm dãi bóng mây bay
Chuyện đời khách đến không hề hỏi
Cùng tựa lan can ngắm cảnh ngoài.


Mùa xuân đẹp đến nỗi không muốn bàn đến chuyện thế sự nữa. Khách đành cùng chủ tựa lan can mà ngắm vẻ xanh thắm của mùa xuân.
Nhưng bài thơ hay nhất của Trần Nhân Tông về mùa xuân lại là bài Xuân nhật yết chiêu lăng:

Xuân nhật yết Chiêu lăng
Tì hổ thiên môn túc
Y quan thất phẩm thông
Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong

Ngày xuân thăm Chiêu lăng
Nghiêm trang nghìn cửa quân hùm,
Trăm quan bảy phẩm một vùng cân đai.
Bạc đầu, chàng lính nhắc hoài,
Chuyện Nguyên Phong cũ những ngày ruổi rong


Đến thăm lăng mộ của Trần Thái Tông vào mùa xuân, trước ba quân hùng mạnh, trăm quan rờ rỡ. Sau lúc bái yết lạy ở trước lăng, hỏi chuyện người lính già, thì ông ta luôn nhắc đến chuyện thời Nguyên Phong, tức là đời Trần Thái Tông . . . Thế là khi đất nước triều đình hùng mạnh, thì những người lính lại là người nhớ đến những ngày khởi nghiệp gian nan vất vả nhất. Ý tứ thật sâu sắc. Cái ý ngày xuân, được nhắn nhủ kín đáo và thâm trầm xiết bao. Một vị vua anh hùng, một vị học giả uyên thâm, mới có được những vần thơ xuân như thế.

Ngô Văn Phú



#4
tuphuvutuong

tuphuvutuong

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 331 Bài Viết:

Attached File  Xuanhieu.gif   2.84KB   2 Lượi tải

Xuân hiểu
Thủy khởi khải song phi
Bất tri xuân dĩ quy
Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi

Sáng xuân
Ngủ dậy, mở cửa sổ,
Chẳng hay xuân đã về.
Kìa một đôi bướm trắng
Đuổi theo hoa mãi mê.
Phan Thành Khương dịch


Attached File  Xuancanh.gif   3.72KB   2 Lượi tải
Xuân cảnh
Dương liễu hoa xuân điểu ngữ trì
Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi
Khách lai bất vấn nhân gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thúy vi!

Cảnh xuân
Đám hoa liễu rậm, chim hót chậm;
Dưới thềm nhà lớn, mây chiều bay.
Khách đến chẳng hỏi chi chuyện thế,
Chỉ tựa lan can nhìn mê say.
Phan Thành Khương dịch



#5
tuphuvutuong

tuphuvutuong

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 331 Bài Viết:

Mùa Xuân, lại đọc thơ Xuân của Hoàng đế Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, người đã cùng vua cha(Trần Thánh Tông) hai lần đánh tan đội quân xâm lược sừng sỏ Nguyên Mông. Trần Nhân Tông cũng là một vị chân tu, một Thiền sư, người đã sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm. Vì thế, Trần Nhân Tông được người đời xưng tụng là Phật Hoàng(Vua Phật). Và Trần Nhân Tông lại cũng là một nhà thơ, một thi sĩ, có một hồn thơ trong sáng, thanh cao. Hồn thơ đó luôn hướng về Chân, Thiện, Mĩ, luôn hướng đến sự hoàn thiện và tự hoàn thiện.
Nhân dịp đầu xuân Nhâm Thìn và đầu năm mới 2012, chúng ta hãy cùng đọc lại, cùng thưởng thức đôi vần thơ xuân của vị Hoàng đế - Thiền sư - Thi sĩ này.
Chim có tổ, người có tông(Tục ngữ). Đầu xuân, nhà thơ Trần Nhân Tông đã đến viếng Chiêu Lăng, lăng mộ của Trần Thái Tông(1218 - 1277), vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần và là ông nội của nhà thơ. Bằng một bài thơ 5 chữ 4 dòng(ngũ ngôn tuyệt cú) hết sức vắn gọn, nhà thơ đã khắc họa khung cảnh uy nghi, rực rỡ của khu lăng mộ và hoài niệm của người cựu chiến binh đã từng tham gia đánh đuổi giặc Nguyên Mông lần thứ nhất(1257). Bài thơ đã cho chúng ta thấy được ý thức về nguồn cội và sự gắn bó với cội nguồn, với cha ông, của hoàng đế - thiền sư - thi sĩ Trần Nhân Tông, Sự uy nghi, rực rỡ của khu lăng mộ cũng cho phép chúng ta hình dung được sự uy nghi, rực rỡ của triều đại nhà Trần. Câu chuyện của người lính già tóc bạc cũng chính là hào khí Đông A(hào khí nhà Trần), hào khí Đại Việt.
Nguyên tác:

Attached File  09073635_xuan 1.jpg   5.7KB   1 Lượi tải

Phiên âm:

Xuân nhật yết Chiêu Lăng
Tì hổ thiên môn túc,
Y quan thất phẩm thông;
Bạch đầu quân sĩ tại,
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong(1).

Dịch thơ:
Ngày xuân, viếng Chiêu Lăng
Gấu cọp nghìn cửa đứng,
Áo mão bảy màu chen;
Người lính già tóc bạc
Chuyện Nguyên Phong mãi khen.
Phan Thành Khương dịch

Tiếp theo là một bài thơ 5 chữ 4 dòng (ngũ ngôn tuyệt cú) khác, bài 'Trên hồ Động Thiên'(2).
Nguyên tác:

Attached File  09073716_xuan 2.jpg   5.36KB   1 Lượi tải

Phiên âm:

Động Thiên hồ thượng
Động Thiên hồ thượng cảnh,
Hoa thảo giảm xuân dung;
Thượng Đế liên sầu tịch,
Thái thanh thì nhất chung.

Dịch thơ:
Trên hồ Động Thiên
Cảnh trên hồ Động Thiên,
Hoa cỏ kém xuân tươi;
Thượng Đế thương vắng vẻ,
Giữa trời tiếng chuông rơi.
Phan Thành Khương dịch

Đây là một bài thơ lạ. Hoa cỏ kém vẻ xuân, kém vẻ xanh tươi có thể vì mùa xuân tuy đã về nhưng cái giá rét vẫn còn nấn ná, chưa chịu ra đi. Nhưng từ đó, từ sự kém tươi tắn của hoa cỏ mà bảo 'Thượng Đế thương vắng vẻ, Giữa trời tiếng chuông rơi' thì thật lạ, thật độc đáo! Vâng, tiếng chuông vang ngân, ấm cúng có thể xua tan cái tịch mịch, u buồn. Nhưng đấy là một tiếng chuông chùa, tiếng chuông của một thiền sư, một thiền sinh chứ nào phải của Thượng Đế? Bài thơ đã biểu hiện một sự giao hòa, sự liên thông kì diệu giữa ba thực thể Trời - Đất - Người.
Và, để kết thúc, chúng ta đọc thêm một bài thơ nữa, bài 'Xuân muộn'(Xuân vãn).
Nguyên tác:

Attached File  09073757_xuan 3.jpg   4.74KB   1 Lượi tải

Phiên âm:

Xuân vãn
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm tại bách hoa trung;
Như kim kham (khám) phá đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.

Dịch thơ:
Xuân muộn
Tuổi trẻ chưa tường không với sắc,
Lòng xuân mãi vướng với trăm hoa;
Nay đà hiểu hết được lẽ thật,
Bình thản ngồi trông bóng xuân qua.
Phan Thành Khương dịch

Đây là một bài thơ 7 chữ 4 dòng(thất ngôn tuyệt cú). Bài thơ đã đúc kết một quá trình nhận thức - hành động của nhà thơ nói riêng, của một con người nói chung. Tuổi trẻ chưa hiểu được 'sắc', 'không', chưa hiểu được qui luật khắc nghiệt của cuộc sống nên cứ mải mê theo đuổi những ảo ảnh; bây giờ, khi đã nắm bắt được qui luật, khi đã hiểu thấu được lẽ đời, nhà thơ bình thản, an nhiên trước mọi đổi thay, còn mất. Phật giáo thường nói đến từ 'vô thường'. Đó là một từ ghép Hán Việt, Vô = không, thường = luôn luôn, mãi mãi. Vận động là qui luật của tự nhiên, của xã hội, của cuộc sống, của tất cả. Bởi thế, 'vô thường' là một hệ quả tất yếu . Ta muốn 'mãi mãi', 'muôn năm', 'vạn tuế', 'bất diệt' . . . nhưng như thế là ta vẫn còn ấu trĩ, trẻ con.
Thơ xuân của Trần Nhân Tông là tấm lòng xuân, tâm hồn xuân của một vị Hoàng đế anh minh, yêu Nước thương Dân sâu sắc, của một vị Thiền sư hiểu rõ lẽ Đời lẽ Đạo, của một Thi sĩ tài hoa, tinh tế. Thơ xuân Trần Nhân Tông, vì thế, có khả năng thanh lọc, nâng đỡ tâm hồn người đọc chúng ta. Trần Nhân Tông là một vị Hoàng đế, một Con Người thật sự vĩ đại.

Phan Thành Khương
Ninh Thuận, 30-11-2011

Chú thích:
(*) Mời đọc “Mùa xuân, đọc thơ xuân của Hoàng đế Trần Nhân Tông” (trên Net).
(1) Nguyên Phong = niên hiệu của Trần Thái Tông từ năm 1251 đến năm 1258.
(2) hồ Động Thiên = chưa rõ hồ này ở địa phương nào.

Bài viết này được chỉnh sửa bởi tuphuvutuong: 28 January 2012 - 03:17 AM


#6
pensé

pensé

    Căn bản tin học tốt

  • Member
  • Pip
  • 94 Bài Viết:
Đọc Vãn xuân mới thấy rõ hơn sự ngu ngơ khi phải một mình đón Xuân với tâm trạng "nếu xuân này vắng em" hồi . . . còn đi học:

Vấn thân
Tôi yêu bàng bạc tím mênh mang,
Yêu nắng hoàng hôn gió khẽ khàng.
Yêu sao cô vắng trong nhân thế!
Vì lẽ . . . tình duyên mãi bẻ bàng.
:014:



#7
tuphuvutuong

tuphuvutuong

    Trung cấp CSTH

  • Advance Member
  • PipPipPip
  • 331 Bài Viết:

Phật Hoàng Trần Nhân Tông

Anh hùng dân tộc, nhà văn hóa lớn, ông tổ Thiền tông Viêt nam. Hôm nay 16.12.2009(nhằm 1.11 Kỷ Sửu), đại lễ tưởng niệm 701 năm ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn(1308 - 2009) sẽ cử hành trọng thể tại nhiều nơi trong nước. Vì sao Phật hoàng Trần Nhân Tông được cả người trong đạo lẫn ngoài đời tôn vinh?
Trong vòng mấy thập niên qua, Phật giáo đời Trần với thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do ngài làm sơ tổ(vị tổ đầu tiên) lại có vận hội mới để khôi phục mạnh mẽ. Bằng chứng là rất nhiều ấn phẩm liên quan đến thiền phái cũng như một số thiền viện mang tên Trúc Lâm như Trúc Lâm Lâm Đồng, Trúc Lâm Yên Tử, Trúc Lâm Tây Thiên, Trúc Lâm Bạch Mã . . . đã và đang xây dựng trang nghiêm từ Nam chí Bắc để làm đạo tràng thực hành tu học theo chủ trương của thiền phái Việt Nam.

Các vua Trần có phạm tội sát sanh?
Điều làm nhiều người thắc mắc là Phật giáo đời Trần với các vị vua như Trần Thái Tông(Trần Cảnh) và nhất là Trần Nhân Tông(Trần Khâm) đã trực tiếp lãnh đạo tướng sĩ, quân dân thời đó đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông, máu giặc nhiều trận nhuộm đỏ nước sông Bạch Đằng, xác giặc trôi ngổn ngang trong dòng, phơi đầy ngoài biên ải, như thế xét về mặt giáo lý của nhà Phật thì các vị vua ấy có phạm tội sát sanh hay không?
Để trả lời, hòa thượng Thích Thanh Từ - người khởi xướng và chủ trương khôi phục Phật giáo đời Trần hiện nay - đã thử so sánh hành động của vua Lương Võ Đế bên Trung Hoa(thế kỷ 5-6) với vua Trần Thái Tông và vua Trần Nhân Tông ở Việt Nam(thế kỷ 13). Rằng khi vua Lương Võ Đế bị quân của Hầu Cảnh kéo đến vây chặt thành Kiến Khương(kinh đô nhà Lương), bấy giờ quần thần xin xuất quân chống giặc nhưng vua không cho, lại ra lệnh đóng chặt cửa thành, tụng kinh cầu nguyện cho giặc lui. Nhưng: “kết quả giặc chẳng lui, mà ông(vua Lương Võ Đế) bị mất nước(về sau nhịn đói chết). Trái lại vua Trần Thái Tông(và Trần Nhân Tông) là người ngộ được Thiền tông, khi giặc Nguyên - Mông xâm lăng vua chỉ huy cầm quân đánh giặc, giặc thua rút lui về, đất nước thái bình, vua mới ngồi yên tu thiền. Hai thái độ của hai ông vua đồng kính mộ đạo Phật, mà xử sự mỗi bên mỗi khác”. Rồi kết luận, khi bị giặc vây khốn vua Lương Võ Đế không dụng binh mở vòng vây, mà chỉ ngồi trong thành tụng kinh cầu cho giặc lui, như thế là vọng tưởng, vì “đây là đem tôn giáo áp đặt lên chính trị nên phải mắc họa. Vua Thái Tông tách bạch phân minh phần nào thuộc tôn giáo, phần nào thuộc chính trị, nên cứu được đất nước khỏi lâm nguy. Tu theo Phật giáo là trau dồi đạo đức rèn luyện tâm linh là việc riêng của mỗi người phật tử, tức là lĩnh vực của tôn giáo. Giặc ngoại bang xâm lăng Tổ quốc, toàn dân đứng lên chống giặc, người lãnh đạo cổ động lòng yêu nước của dân và đứng ra chỉ huy đánh giặc là lĩnh vực chính trị. Phân rành lĩnh vực tôn giáo, lĩnh vực chính trị là vấn đề rất thiết yếu. Người phật tử thọ tam quy trì ngũ giới, nếu phạm giới sát sinh là có tội, đó là phần tu hành riêng của phật tử, thuộc lĩnh vực tôn giáo. Đất nước bị xâm lăng, toàn dân đứng lên chống giặc là trách nhiệm của mỗi công dân, thuộc lĩnh vực chính trị. Dù trong cuộc chiến có nhiều phật tử giết nhiều sinh mạng kẻ thù, song không thể mang tội sát sanh đặt vào chỗ này được”.
Từ so sánh ấy, có thể rút ra trường hợp Phật hoàng(khi còn là Hoàng đế Trần Nhân Tông) vì lợi ích của toàn dân động binh chống giặc, là hoàn toàn đúng. Nên Phật hoàng được ca ngợi vì phước báu cứu người cứu nước từ xưa.

Trường tồn qua bảy Thế kỷ
Mới đây, theo tinh thần thông tư của Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và nội dung thư mời dự tưởng niệm 701 năm ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập diệt đã ghi rõ đại lễ này nhằm “tưởng nhớ công lao và sự nghiệp vĩ đại của Phật hoàng Trần Nhân Tông, người anh hùng dân tộc, nhà văn hóa vĩ đại của non sông đất nước ta, là người đã sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam - thiền phái duy nhất trong lịch sử Việt Nam có sơ tổ là một thiền sư người Việt”. Theo đó, có ba điều trong cuộc đời Phật hoàng được mãi mãi tôn vinh:
Thứ nhất
, Phật hoàng Trần Nhân Tông là một hoàng đế anh hùng của dân tộc, lên ngôi năm 1279, lúc 21 tuổi. Dưới triều đại của ngài, hai hội nghị vang dội lịch sử là Hội nghị Diên Hồng và Hội nghị Bình Than đã được mở ra vì mục đích cứu nước. Ngài lãnh đạo quân dân tướng sĩ thời đó đánh tan giặc Nguyên - Mông hai lần. Lần đầu vào năm 1285 khi đánh bại đại binh của nhà Nguyên, rượt đuổi thái tử Thoát Hoan chui vào ống đồng trốn về nước, chém đầu nguyên soái Toa Đô, giết Lý Hằng và tùy tướng Lý Quán tại trận . . . Lần thứ hai vào năm 1288 ở sông Bạch Đằng, quân ta đóng cọc nhọn phủ cỏ lên trên, dụ thuyền giặc đến theo nước thủy triều, rồi vua tung quân đánh lớn, khiến quân xâm lược Nguyên bị “chết đuối nhiều không kể xiết”, thu 400 thuyền, bắt sống nguyên soái Ô Mã Nhi, Tích Lê Cơ, tham chính Sầm Đoàn, Phàn Tiếp, nguyên soái Điền, cùng các Vạn hộ, Thiên hộ đem về làm lễ báo cáo đại thắng ở Chiêu lăng. Vua nhân từ, sau thắng giặc ra lệnh đại xá thiên hạ, tha thuế toàn phần cho những nơi bị giặc đốt phá. Giặc rút về, quân ta thu được cái hòm biểu đựng nhiều giấy xin hàng quân Nguyên của một số quan lại lúc đó. Thay vì trị tội, Phật hoàng ra lệnh đem hòm kia đốt đi, không truy tội, để làm yên lòng những kẻ trót tâm phản trắc.

Thứ hai, Phật hoàng là nhà văn hóa lớn của Việt Nam. Ngài cải tiến chế độ thi cử, phát triển thơ văn chữ Nôm, chỉ đạo biên soạn các bộ sách quan trọng, cùng những hoạt động trí thức khác đã thực sự góp phần đẩy mạnh đà phát triển của nền văn hóa Đại Việt. Những thành công ấy, chẳng hạn về lĩnh vực văn học, đến thế kỷ 20 vẫn được các tác giả có uy tín ghi chép. Như Trần Trọng Kim qua Việt Nam sử lược nêu rõ “đời vua Nhân Tông có nhiều giặc giã, tuy vậy việc văn học cũng hưng thịnh lắm. Xem bài hịch của Hưng Đạo vương, thơ của ông Trần Quang Khải và của ông Phạm Ngũ Lão thì biết là văn chương đời bấy giờ có khí lực mạnh mẽ lắm. Lại có quan Hình bộ thượng thư là ông Nguyễn Thuyên khởi đầu dùng chữ Nôm mà làm thơ phú(Văn tế cá sấu)”. Chính Phật hoàng cũng sáng tác các tác phẩm như: Thiền lâm thiết chủy ngữ lục, Đại hương hải ấn thi tập, Tăng già toái sự, Thạch thất mị ngữ(do ngài Pháp Loa soạn lại).

Thứ ba, Phật hoàng là ông tổ Thiền tông đầu tiên người Việt Nam. Trước ngài, một số hệ phái Thiền tông xuất phát từ Trung Hoa truyền sang như thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, thiền phái Vô Ngôn Thông, thiền phái Thảo Đường với các vị đứng đầu gốc gác người Trung Quốc hoặc Ấn Độ. Đến thời Phật hoàng Trần Nhân Tông thì ngài mới lập phái thiền Trúc Lâm Yên Tử và là phái thiền đầu tiên - duy nhất đến nay có sơ tổ là Hoàng đế Việt Nam. Đến nay, những vị chủ trương khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần do xuất phát từ nhận định “giá trị Phật giáo ở Ấn Độ thật siêu xuất, giá trị Phật giáo Việt Nam cũng phi thường, mới đủ sức thuyết phục một ông hoàng, một ông vua đi tu. Ở Việt Nam đời Trần ông vua đi tu Phật(Trần Nhân Tông), ông trạng nguyên đi tu Phật(Huyền Quang), chúng ta thử xét giá trị đời ấy cao siêu đến ngần nào. Phật pháp đã cao siêu, người tu cũng đáng kính, cho nên Phật giáo rất thịnh hành trong thời Trần. Chúng tôi nhằm khôi phục Phật giáo đời Trần cốt nâng cao Phật giáo Việt Nam hiện nay là như thế'.
Những điều nêu trên về Phật hoàng Trần Nhân Tông là những giá trị vĩnh cửu, cho dù Phật hoàng đã nhập Niết bàn từ hơn bảy thế kỷ qua . . .

Sơn Phòng Mạn Hứng


Thùy phược cánh tương cầu giải thoát
Bất phàm hà tất mích thần tiên
Viên nhàn mã quyện nhân ứng lão
Y cựu vân trang nhất tháp thiền.


Thị phi niêm trục triêu hoa lạc
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn
Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch
Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn

Thơ Trần Nhân Tông


Phòng núi khởi hứng

Ai trói mà mong cầu giải thoát

Chẳng phàm, nào phải kiếm thần tiên?
Vượn nhàn, ngựa mỏi, người đã lão
Như cũ vân trang một chõng thiền.


Phải quấy niệm rơi hoa buổi sớm
Lợi danh tâm lạnh với mưa đêm
Mưa tạnh, hoa trơ, non vắng lặng
Chim kêu một tiếng lại xuân tàn.

Hòa thượng Thích Thanh Từ dịch

Giao Hưởng








Perfumista - Thong tin nuoc hoa

Stars Counter Game

Balloon vs. Thorns

MU Phuc Hung

Làm Việc Tài Nhà

Mu Da Nang

Tuyển Nhân Viên Bán Hàng

Tư vấn sức khỏe trực tuyến

Close [X]