Jump to content

Welcome to [ iT ] Forums
Register now to gain access to all of our features. Once registered and logged in, you will be able to create topics, post replies to existing threads, give reputation to your fellow members, get your own private messenger, post status updates, manage your profile and so much more. If you already have an account, login here - otherwise create an account for free today!
Hình ảnh

Các thủ thuật căn bản cần biết


  • Chủ Đề Đã Khóa Chủ đề này đã được khóa
141 replies to this topic

#41
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Dồn đĩa cứng hiệu quả hơn

Bạn muốn tiến hành dồn đĩa cứng (defrag) nhưng e ngại tốn nhiều thời gian, hãy sử dụng tập tin thực thi được giới thiệu ở phần sau. Tuy nhiên, trước khi bắt tay vào việc, bạn nên thực hiện kiểm tra đĩa cứng để phát hiện và khắc phục lỗi.

Trước tiên, hãy thực hiện defrag ổ đĩa theo cách thủ công: nhấn Start -> Programs -> Accessories -> System Tools -> Disk Defragmenter (Hình 1). Bằng cách này, bạn chỉ có thể defrag duy nhất một ổ đĩa tại cùng thời điểm, nhưng công cụ này hiển thị biểu đồ trạng thái và liệt kê tất cả ổ đĩa có trên máy tính, vì thế bạn có thể chọn cách lần lượt thực hiện defrag từng ổ đĩa mà không cần nhấn chuột nhiều lần qua các hộp thoại.
Posted Image
Hình 1: Defragmenter của Windows dùng đồ thị 4 màu thể hiện dung lượng có thể thu hồi trên đĩa cứng.

Đây là biện pháp tốt nhất defrag một ổ đĩa khi không sử dụng đến ổ đĩa đó. Để thiết lập Windows tự động thực hiện defrag đĩa cứng vào một thời điểm định trước, hãy mở tiện ích Notepad hay bất kỳ trình soạn thảo văn bản nào và nhập vào nội dung như sau: defrag.exe C: -f –v > "e:\doc\defrag report_C.txt".
Posted Image
Hình 2: Thiết lập lệnh defrag cho từng ổ đĩa bằng tập tin thực thi đơn giản.
Thông thường, một ổ đĩa hết chỗ trống sẽ không cho phép bạn sử dụng lệnh defrag, do vậy tham số –f sẽ ép buộc Windows phải thực hiện tác vụ này. Window cũng sẽ tạo ra bảng báo cáo cho mỗi lần defrag, bổ sung tham số –v để có được tất cả chi tiết, theo sau đó là dấu > và tên đường dẫn của tập tin kết quả (nếu đã tồn tại tập tin này, Windows sẽ mặc định ghi chồng lên tập tin này).

Nếu muốn defrag nhiều ổ đĩa, bạn tạo cho mỗi ổ đĩa một dòng lệnh như trên: chỉ cần thay đổi tên ổ đĩa, tên tập tin và đường dẫn nếu cần thiết (Hình 2). Khi thực hiện xong, bạn chọn File -> Save và chọn định dạng tập tin cần lưu là .bat hoặc .cmd.
Posted Image
Hình 3: Dùng Scheduled Task của Windows để tự động hóa việc defrag đĩa cứng.
Từ đây trở đi, bất kỳ lúc nào muốn thực hiện defrag đĩa cứng, bạn chỉ việc nhấn đúp chuột lên tập tin .bat hoặc .cmd vừa tạo (cũng có thể kéo-thả biểu tượng của tập tin này từ cửa sổ tiện ích Windows Explorer hoặc bất kỳ cửa sổ thư mục nào vào trình đơn Start).

Cuối cùng, tiện ích Sheduled Task của Windows sẽ cho phép bạn thiết lập chế độ tự động defrag đĩa cứng vào thời điểm được định trước. Để mở công cụ này, bạn nhấn Start -> Programs -> Accessories -> System Tools -> Scheduled Task. Nhấn đúp chuột vào biểu tượng Add Scheduled Task và chọn Next. Khi được yêu cầu nhập vào tên ứng dụng cần chạy, bạn nhấn Browse và chọn tập tin thực thi được tạo ra ở phần trên, sau đó nhấn Open.

Scheduled Task yêu cầu người dùng phải đăng nhập vào Windows với tài khoản được bảo vệ bằng mật khẩu, phần mềm này bắt buộc bạn phải nhập đúng mật khẩu để tác vụ được thực hiện.

Disk Cleaner – công cụ dọn dẹp đĩa cứng

Công cụ dọn dẹp đĩa cứng của Windows tỏ ra rất tiện dụng trong việc loại bỏ các tập tin vô ích và lỗi thời ra khỏi đĩa cứng: Bạn chọn Start -> Programs -> Accessories -> System Tools -> Disk Cheanup. Tuy nhiên, chương trình này không có khả năng loại bỏ một số tập tin tạm của Windows và bảo vệ tính riêng tư cho dữ liệu của bạn.

Trong khi đó, tiện ích miễn phí Disk Cleaner có thể giấu kín tên tập tin và website bạn từng truy xuất. Ngoài ra, khả năng kích hoạt dưới dạng dòng lệnh (kèm tham số) cho phép bạn tự động hóa công việc dọn dẹp đĩa cứng vốn đã quá nhàm chán.

#42
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Làm sạch máy tính với HijackThis
Đôi khi, mặc những nỗ lực cố gắng hết sức của bạn, các phần mềm quảng cáo quỷ quyệt vẫn được cách thâm nhập được vào máy tính của bạn. Nó chiếm quyền điều khiển trang chủ, tự thêm một thanh toolbar không mong đợi, đính kèm quảng cáo pop-up, hay dò tìm mọi bước chuẩn bị nhằm nâng cao lợi nhuận kinh doanh trong kế hoạch sắp tới của bạn.

Để đối phó với chúng, trước hết bạn nên thường xuyên sử dụng các chương trình loại bỏ adware tiêu chuẩn như Ad-aware và Spybot-Search & Destroy. Nhưng khi cần chuyên sâu hơn, HijackThis sẽ có ích cho bạn. Tuy vậy HijackThis không phải là toàn năng. Bạn cũng nên cẩn thận khi dùng nó. Mặc dù phần mềm này có thể xác định được phương thức khai thác, chỉnh sửa hệ thống nói chung nhưng đôi khi nó loại bỏ cả các phương thức hữu ích, có thể còn rất quan trọng. May mắn là hiện nay cộng đồng mạng Internet đã cung cấp một số cách phân tách phần mềm gián điệp spyware từ các bộ phận quan trọng của hệ thống, bổ sung cái còn thiếu ở HijackThis cũ.

Dưới đây là một số bước hướng dẫn giúp bạn làm việc với HijackThis có hiệu quả.
Bước 1: Cài đặt

File download của HijackThis được để dưới dạng Zip nén, gồm một chương trình tự chạy, không cần phải cài đặt. Khi giải nén, bạn phải tạo thư mục cho chương trình chẳng hạn: C:\Program Files\HijackThis\. Đơn giản hơn bạn cũng có thể giải nén theo kiểu mặc định. Muốn khởi động dễ dàng, kích phải chuột vào biểu tượng chương trình và tạo một shortcut trên desktop. Hầu hết mọi phiên bản Windows đều cho phép kéo thư mục (hoặc biểu tượng chương trình) vào menu Start và xoá nó khi cần thiết. Windows XP cho phép bạn kích phải chuột rồi chọn “gắn” nó vào Start menu. Nếu bạn dùng Quick Start toolbar, bạn có thể kéo và thả biểu tượng ở đó.

Bước 2: Thực hiện quét
Posted Image
Cho dù bạn khởi động theo kiểu nào thì HijackThis có thể vẫn mang đến nhầm lẫn cho bạn. Tất cả điều bạn cần làm là kích vào nút Scan để tiến hành quét máy. Chương trình sẽ kiểm tra và đưa ra danh sách tất cả các điểm vào đáng ngờ trên thanh ghi hay trên máy tính của bạn. Với một máy hoàn toàn khoẻ mạnh thì riêng việc thiết lập trang chủ mới cho Internet Explorer cũng có cả tá điểm vào. Chúng tôi đã thử và nhận được kết quả từ một lần quét máy là có tới là 44 điểm vào. Điều đáng chú ý là tất cả đều là vô hại. (Nếu bạn muốn có nhiều thông tin, hãy chọn hộp check box, kích vào phần Info trên nút Selected Item hoặc tra cứu từ các bản ghi hướng dẫn log của nhà sản xuất). Tốt nhất là ghi lại các bản log ở thư mục HijackThis folder và tìm câu trả lời trên Internet.

Bước 3: Xác định vấn đề
Posted Image
Sau khi tìm được danh sách chương trình đáng ngờ, bạn phải kiểm tra lại các chương trình. (Nguồn: pcentraide)

Rất tiện là sau khi chương trình quét xong, thay thế nút Scan là nút Save Log để bạn ghi lại danh sách chương trình đáng ngờ. Bản ghi dùng ở Nopepad. Trong thời gian đó chương trình sẽ kiểm tra các điểm vào trên Web để xem liệu chúng có vô hại hay không. Ví như chương trình “Isass.exe” thuộc kiểu Microsoft Windows có chức năng giúp thẩm định thông tin đăng nhập người dùng. Rõ ràng chúng ta không muốn xoá nó. Ngược lại, “rundll16.exe" nghe có vẻ như vô hại nhưng lại kèm theo phần mềm quảng cáo BrowserAid.

Thực tế bạn không phải đối mặt với vấn đề làm sạch máy tính một mình. Nhiều diễn đàn anti-adware và hỗ trợ công nghệ trực tuyến sẽ tặng bạn các phần mềm miễn phí hiệu quả. Những người giàu kinh nghiệm sẽ kiểm tra file log HijackThis và nói cho bạn biết điểm vào nào cần xoá. SpywareInfo, ComputerCops và TweakXP là ba diễn đàn đáng tin cậy. Cả ba diễn đàn này đều phải đăng ký thành viên khi tham gia, nhưng miễn phí và thời gian trả lời nhanh. Hãy đọc kỹ nguyên tắc tham gia diễn đàn trước khi đăng bài và kiên nhẫn một chút để nhận được câu trả lời từ phía họ.

Bước 4: Làm sạch “ngôi nhà” của bạn

Sau khi tìm kiếm, đánh dấu vào ô bên cạnh chương trình đã được xác định và chọn Fix Checked. Khởi động lại máy, chạy chương trình loại bỏ adware. Nếu vẫn còn vấn đề, hoặc là lặp lại quá trình trên, hoặc là quay lại diễn đàn để hỏi. Những người có trách nhiệm giúp bạn sẽ nói cho bạn biết file nào nên loại bỏ và khởi động lại máy, quét lại, tìm ra danh sách mới như thế nào. Quá trình này sẽ tiếp tục đến khi nào máy tính cho là đủ. Bạn có thể kiểm tra lại các chương trình biết là vô hại (như chương trình thiết lập lại trang chủ trình duyệt theo ý bạn) và loại chúng ra khỏi quá trình đánh trong tương lai bằng cách chọn nút “Add Selected to Ignorelist”

Bài viết này được chỉnh sửa bởi Huỳnh Văn Thâm: 04 December 2007 - 10:44 PM


#43
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Sử dụng phím tắt trong Gmail
Theo mặc định, tính năng phím tắt trong Gmail sẽ không được kích hoạt và bạn phải kích hoạt tính năng này nếu muốn sử dụng.

Kích hoạt tính năng phím tắt

Sau khi vào Gmail, bạn vào Settings. Ở mục Keyboard shortcuts, bạn chọn On như trong hình.
Posted Image

Sau đó bạn nhấn vào Save Changes. Lúc này bạn đã có thể sử dụng phím tắt trong Gmail.

Một số phím tắt thông dụng

- Phím c: Cho phép soạn thư. Nếu nhấn Shift + c, bạn có thể soạn thư ở cửa sổ mới, giống như việc nhấn vào nút lệnh Compose.

- Phím i: Cho phép đưa con trỏ vào ô Search.

- Phím k: Cho phép bạn di chuyển đến và mở bức thư mới hơn trong cửa sổ duyệt thư. Trong Inbox, nhấn k cho phép bạn di chuyển dấu chọn đến bức thư ở phía trên bức thư đang được chọn, giống như việc bạn nhấn vào nút Newer ở cửa sổ duyệt thư.

- Phím j: Cho phép bạn di chuyển đến và mở bức thư cũ hơn trong cửa sổ duyệt thư. Trong Inbox nhấn j cho phép bạn di chuyển dấu chọn đến bức thư ở phía dưới bức thư đang được chọn.

- Phím u: Cho phép bạn chuyển qua lại giữa Inbox và bức thư bạn đang duyệt.

- Phím y: Nếu bạn đang duyệt thư thì nhấn phím y sẽ tự động xóa bức thư bạn đang duyệt và đưa bạn trở về Inbox. Trong Inbox, nhấn phím y tương đương với việc nhấn nút lệnh Archive. Trong Starred, phím y tương đương với việc nhấn nút lệnh Unstar. Trong Label, phím y tương đương với việc nhấn nút lệnh Remove the label.

- Phím o hoặc Enter: Mở bức thư bạn đã chọn hoặc đóng bức thư bạn đang xem.

- Phím s: Thêm hay giảm bớt đánh giá sao (star) cho một bức thư. Tương đương với việc bạn kéo chuột chọn đánh giá sao cho một bức thư.

- Phím !: Báo cáo thư rác (spam). Sau khi đánh dấu kiểm vào các thư rác, bạn nhấn phím lệnh! Việc này tương đương với nhấn vào nút spam.

- Phím a: Reply tất cả các thư bạn đã nhận được. Nhấn Shift + a cho phép bạn Reply tất cả các thư ở cửa sổ mới. Phím tắt này chỉ có tác dụng khi bạn đang ở trong cửa sổ duyệt thư. Tương đương với việc bạn nhấn vào nút lệnh Reply to all (nút lệnh này chỉ xuất hiện khi bạn nhấn vào More Options ở góc trên bên phải).

- Phím tab sau đó Enter (không cần phải nhấn cùng lúc): Sau khi soạn thảo thư xong, bạn sử dụng tổ hợp phím này để gởi thư đi. (Chỉ hỗ trợ Internet Explorer và Firefox trong Windows). Tương đương với việc bạn nhấn vào nút lệnh Send để gởi thư đi.

- Phím g sau đó a: Cho phép bạn dịch chuyển đến All Mail. Tương đương với việc bạn nhấn vào nút lệnh All Mail.

- Phím g sau đó s: Cho phép bạn dịch chuyển đến Starred. Tương đương với việc bạn nhấn vào nút lệnh Starred

- Phím g sau đó c: Cho phép bạn dịch chuyển đến Contacts. Tương đương với việc bạn nhấn vào nút lệnh Contacts.

- Phím g sau đó d: Cho phép bạn dịch chuyển đến Drafts. Tương đương với việc bạn nhấn vào nút lệnh Drafts.

- Phím g sau đó i: Cho phép bạn dịch chuyển đến Inbox. Tương đương với việc bạn nhấn vào nút lệnh Inbox.

#44
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Tăng tốc Windows của bạn với những kinh nghiệm của tôi
1- Hạn chế bớt font cho Windows: bạn nên cài ít font một chút, trừ khi bạn là nhà thiết kế cần dùng đến nhiều font chữ để thiết kế. Nếu sử dụng Win XP thì bạn nên dùng font Unicode có sẵn để gõ tiếng Việt (nếu dùng Win 98 thì bạn phải cài thêm font Unicode) và chỉ nên dùng 1 hay 2 loại font là ABC hay VNI. Win XP hỗ trợ việc sao chép font, nếu bạn muốn cài đặt 1 font nào đó bạn có thể sao chcép têp tin font chữ đó rồi dán vào trong thư mục C:\Windows\Fonts. Chỉ cần sao chép font vào đây là Win XP đủ thông minh để cài đặt font đó cho bạn.

2- Không nên sử dụng thanh Microsoft Office Shortcut Bar (nằm trên góc phải màn hình Windows). Nếu đã lỡ dùng đến nó bạn hãy tắt nó đi và đừng cho nó khởi động cùng Windows bằng cách: nhấn phím chuột phải vào nút đầu tiên, sau đó chọn Exit (hình minh họa), kích chọn No để lần sau nó sẽ không khởi động cùng Windows nữa.

Làm như vậy sẽ giúp bạn cải thiện được từ 2 đến 3 giây. Tuy nhiên bạn sẽ thấy bất tiện ở chỗ sau này muốn khởi động Word hay các ứng dụng khác bạn sẽ thấy hơi khó chịu vì đã quen với thanh Microsoft Office Shortcut Bar này. Cách sau sẽ vẫn giúp bạn tiết kiệm từ 2-3 giây mà vẫn có thế chạy nhanh các ứng dụng như chức năng của Microsoft Office Shortcut Bar.

3- Dùng Quick Launch để thay thế cho Microsoft Office Shortcut Bar.

Bạn hãy dùng trỏ chuột đặt lên đầu thanh Taskbar sau đó trỏ chuột của bạn sẽ hiện ra mũi tên 2 đầu. Bạn hãy kích chuột và kéo cho nó cao thêm 1 khoảng. Bạn sẽ thấy thanh taskbar, phía trên là thanh Quick Launch và phía dưới sẽ là các ứng dụng nhỏ rất thuận tiện.

Lưu ý khi bạn đưa trỏ chuột lên đầu thanh này mà 2 mũi tên không xuất hiện tức là thanh Taskbar của bạn đã bị khóa. Để mở khóa bạn hãy nhấn phải chuột lên thanh Taskbar và kích bỏ chon Lock the Taskbar.

Tiếp theo, bạn chỉ cần đưa các ứng dụng mà mình thường hay sử dụng như Word, Excel, Front Page, Cách đưa vào: bạn chỉ cần kích và kéo những shortcut của chương trình vào trong thanh này là được.

4- Hãy tắt chức năng Error Report với (Với Win 2000, XP). Đây là chức năng tự thông báo lỗi cho nhà sản xuất (phải nối mạng). Chức năng này chẳng giúp ích gì cho bạn và thường gây những khó chịu, bạn hãy tắt nó đi bằng cách:

Kích phải chuột vào My Computer, chọn Properties, kích thẻ Advanced, kích nút Error Reporting, kích bỏ hộp kiểm But notify me when critical error ouccur.

5- Đừng nên sử dụng hình nền cho Desktop vì ngoài chức năng làm đẹp nó không còn chức năng nào khác ngoài việc làm chậm đi từ 1-2 giây.

6- Không nên cài đặt nhiều phần mềm giới thiệu mà bạn ít khi sử dụng
. Vì khi cài các chương trình thì nó sẽ kèm theo các tệp tin thư viện như là *.DLL. Và mỗi lần Windows khởi động lên sẽ nạp các thư viện này và làm cho máy bạn chậm đi.

7- Hãy sử dụng chức năng Disk Defragmenter của Windows. Vào Start --> Programs --> Accessories --> Systems Tools --> Disk Defragmenter. Bạn cài một phần mềm nào đó và lúc khác bạn xóa nó đi, cứ như thế sẽ làm ổ cứng của bạn bị phân mảnh. Hãy chạy chức năng này để sắp xếp lại nhằm giúp cho việc truy xuất dữ liệu nhanh hơn.

8- Bạn đừng cho các ứng dụng khởi động cùng với Windows
vì như thế mỗi lần mở máy lên bạn sẽ ngồi chờ rất lâu. Cần dùng đến chương trình nào đó bạn mới kích hoạt thì hệ điều hành sẽ khởi động nhanh hơn nhiều. Nếu chương trình tự động chạy cùng Windows thì bạn nên “bảo” nó lần sau đừng chạy nữa bằng cách:

Kích Start --> Run, gõ vào “msconfig” (không có dấu ngoặc kép), chọn thẻ Startup. Bạn sẽ thấy xuất hiện những chương trình Windows sẽ tự động nạp khi khởi động. Bạn xem chương trình nào không cần thiết và bỏ chọn ở hộp kiểm của nó (hình minh họa)

Hình minh họa trên cho thấy tôi không cho chạy các ứng dụng như Yahoo Messenger, ICQ, Scanner, từ điển, .
Sau đó bạn chọn OK, bạn sẽ thấy cửa sổ yêu cầu bạn Reset lại máy, nếu không muốn reset lại ngay bây giờ thì bạn chọn Exit without restart (hình minh họa).

9- Không nên cho các ứng dụng tự động khởi động cùng Windows. Ngay cả chương trình diệt virus hay từ điển. Nếu bạn kết nối trực tuyến hay đọc dữ liệu từ một đĩa mềm hoặc đĩa CD thì bạn nên khởi động chương trình diệt virus lên và đừng quên diệt virus theo định kỳ.

10- Hãy mạnh dạn gỡ bỏ những chương trình không cần thiết bằng cách vào Start --> Settings --> Control Panel --> Add or Remove Programs. Nhiều bạn khi xóa một chương trình không vào đây xóa mà chỉ xóa Shortcut ở ngoài Desktop, cách này không xóa hết một chương trình mà chỉ đường dẫn dắt vào chương trình.

11- Nếu sử dụng Win XP bạn sẽ thấy cách sắp xếp bố trí khác hẳn so với Win 98
. Giao diện đồ họa mới này khiến cho người mới sử dụng hơi bị bỡ ngỡ đôi chút. Nếu bạn đang dùng Win XP với giao diện không quen này bạn có thể chuyển về sử dụng giao diện giống Win 98 (giao diện Windows Classic)

Để chuyển về sử dụng giao diện cũ bạn nhấn phải chuột lên Desktop, chọn Properties, kích vào tab Start menu, kích chọn Classic Start Menu.

Bây giờ bạn đã thấy nó trở thành giao diện giống Win 98, không những quen thuộc mà còn giúp Windows tăng tốc thêm rất nhiều.

12- Hibernate – tắt máy cực nhanh. Chức năng Hibernate (ngủ đông) y hệt như chức năng Shutdown, nhưng nó sẽ giúp ta lưu lại những gì có trong bộ nhớ RAM vào đĩa cứng trước khi tắt máy.

Để kích hoạt chức năng này bạn hãy kích Start --> Settings --> Control Panel --> Power Options, chọn thẻ Hibernate và đánh dấu chọn Enable Hibernate.

#45
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Thủ thuật bảo vệ và tăng tốc ổ cứng trên Win XP
Ổ cứng máy tính của bạn bị mất hay bị nhiễm virus khiến cho hệ điều hành Windows không thể khởi động được. Vậy bạn đã có công cụ nào giúp bạn có thể lấy lại dữ liệu một cách nhanh chóng chưa hay giúp bạn tăng tốc ổ cứng chưa?
Posted Image
Khôi phục đơn giản

Windows Recovery Console (WRC) trong Windows XP thực sự là một công cụ rất an toàn hiệu quả và dễ sử dụng. Đây là một công cụ chạy trên một môi trường khá giống với DOS, cho phép bạn có thể sao chép dữ liệu tệp tin, sửa chữa những lỗi trong phần khởi động (boot sector)… mà không cần phải khởi động hệ điều hành. Lấy ví dụ, nếu Windows của bạn không thể khởi động bạn có thể khởi động WRC và sử dụng tính năng sửa chữa lỗi khởi động hoặc dùng lệnh “fixmbr” với hy vọng sẽ sửa được mọi lỗi phát sinh.

Để khởi động Recovery Console, bạn hãy đưa đĩa CD cài đặt Windows XP vào ổ CD rồi khởi động lại máy tính – chú ý bạn phải chắc chắn máy tính của bạn có thể khởi động từ ổ CD. Khi trình cài đặt Windows XP xuất hiện bạn hãy bấm phím R để khởi động ứng dụng. Khi bạn thấy hiện ra “Windows NT Boot Console Command Interpreter” thì hãy bấm phím số 1 hoặc bất kỳ phím gì mà bản cài đặt hệ điều hành của bạn gợi ý ra rồi sau đó bấm phím Enter, nhập mật khẩu đăng nhập Administrator.

WRC sử dụng nhiều lệnh tương tự như trong Command Prompt. Bạn hoàn toàn có thể sử dụng các lệnh như attrib, cd, copy, del, dir, exit, md, ren, rd, set, và type tương tự như trong DOS.

Tuy nhiên, Recovery Console vì mục đích bảo mật nên thường không cho phép bạn có quyền truy nhập vào một số thư mục trên ổ cứng của bạn. Nếu bạn không gỡ bỏ những hạn chế này trước – nên gỡ bỏ khi hệ điều hành của bạn còn đang hoạt động bình thường – thì sẽ khó có thể thực hiện việc sao chép hay bất kỳ tác vụ nào với những thư mục này.

Để gỡ bỏ những hạn chế này bạn hãy thực hiện tác vụ sau khi hệ điều hành của bạn còn hoạt động bình thường. Bạn vào trình quản lý Local Security Settings bằng cách vào Run và nhập lệnh “secpol.msc” hoặc vào Start | Setting | Control Panel | Administrator Tools | Local Security Settings, sau đó chuyển đến mục Security Settings | Local Policies | Security Options, nhắp đúp chuột lên mục Recovery Console: Allow floppy copy and access to all drives and all folders item rồi chọn Enabled là xong.

Lần khởi động kế tiếp nếu Windows không khở động thì bạn hãy khởi động WRC rồi nhập vào dòng lệnh “set AllowAllPaths = true” rồi ấn Enter.

Tăng tốc ổ cứng và giảm nguy cơ hỏng hóc

Khi mà ổ cứng của ngày càng đầy lên, hệ điều hành sẽ “nhét” những tệp tin dữ liệu mới lên ổ cứng vào bất kỳ chỗ nào còn khoảng trống. Đôi khi khi có những tệp tin sẽ bị chia ra thành rất nhiều những phần nhỏ khác nhau để cho phù hợp với dung lượng khoảng trống còn lại trên ổ đĩa. Nếu có quá nhiều tệp tin bị chia nhỏ - hay còn gọi là phân mảnh – thì không những ổ cứng của bạn mà cả hệ điều hành của bạn đều sẽ bị chậm đi rất nhiều không những thế mà còn tăng nguy cơ bị mất dữ liệu.

Giải pháp ở đây là bạn có thể sử dụng công cụ dọn phân mảnh của hệ điều hành Disk Defragmenter bằng cách vào Start | All Programs | Accessories | System Tools rồi chọn ổ đĩa bạn muốn “dọn dẹp” nhấp Ok rồi ngồi chờ.

Tuy nhiên, có một số tệp tin mà bạn không thể di chuyển được trong quá trình thực hiện dọn dẹp phân mảnh ổ cứng. Những tệp tin này vẫn bị phân mảnh ngay cả sau khi bạn đã chạy Disk Defragmenter. Hầu hết các tệp tin dữ liệu này là Master File Table (MFT) hoặc SWAP (RAM ảo).

Cách duy nhất là dọn dẹp các tệp tin SWAP là phải xoá những tệp tin này trước khi sử dụng công cụ Disk Defragmenter – tuy nhiên bạn hãy cẩn thận chắc chắn rằng hệ thống của bạn có ít nhất 256MB RAM thì mới có thể bỏ tệp tin SWAP đi được.

Để bỏ tệp tin SWAP bạn hãy vào Control Panel | System | Advanced tab | Performance Settings | Advanced tab | Change. Tại mục Virtual Memory bạn chọn “No paging file” nhắp vào Set rồi OK là xong. Giờ bạn hãy thực hiện công việc dọn dẹp phân mảnh ổ cứng. Sau khi đã dọn dẹp xong bạn hãy vào lại mục Virtual Memory thiết lập thông số cho RAM ảo của bạn. Tăng RAM ảo có thể giúp hệ thống của bạn tăng tốc. Nếu còn dư ổ cứng thì bạn hãy đặt Initial size là 500Mb và Maximum size là 2048MB thì không những ổ cứng mà cả những tệp tin MP3 sẽ nghe hay hơn rất nhiều.

Còn đối với những tệp tin MFT - những tệp tin hệ thống chỉ có mặt trên các ổ cứng định dạng NTFS – thì không thể di chuyển được. Khi mà ổ cứng của bạn lưu càng nhiều dữ liệu thì các tệp tin MFT cũng tăng dung lượng và bị phân mảnh. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là bạn không thể di chuyển được chúng, một thủ thuật sửa Registry sẽ giúp bạn giải quyết được vấn đều này. Bạn vào Run và gõ lệnh regedit để mở trình biên tập Registry. Sau khi trình biên tập Registry khởi động bạn hãy tìm đến khoá HKEY_ LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\Filesystem rồi nhắp đúp lên khoá NtfsMftZoneReservation bên phía tay phải và nhập giá trị trong khoả từ 2 đến 4 vào đó – giá trị mặc định là 1 tương đương với 12,5% dung lượng ổ cứng dành cho tệp tin MFT, giá trị 2-3 là là từ 25-37,5% và 4 là 50%. Đóng trình biên tập Registry rồi khở động lại hệ thống của bạn.

Tìm kiếm sự đơn giản

Ổ cứng của bạn sẽ thực sự chạy nhanh và ổn định hơn rất nhiều nếu còn nhiều khoảng trống. Bạn đã back-up lại dữ liệu, mã hoá và tối ưu hoá dữ liệu của mình nhưng vẫn còn có nhiều việc phải làm.

Việc thứ nhất là dọn dẹp mọi chương trình ứng dụng không cần thiết, dọn dẹp những phần mềm gián điệp nguy hiểm, virus máy tính…

Tiếp theo là việc dọn dẹp những tệp tin dữ liệu không cần thiết trên các ổ cứng. Bạn hãy vào Start | All Programs | Accessories | System Tools | Disk Clean-up để bỏ hết những tệp tin thừa, tệp tin tạm thời,…

Qua bài viết này chúng tôi chỉ xin đề cập đến ở đây những khía cạnh cơ bản nhất giúp bạn có thể tăng tốc phần nào hệ thống và bảo vệ dữ liệu cũng như ổ cứng của bạn.

(Theo VnMedia)

#46
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Một số kinh nghiệm với Windows XP (phần I)
1. Chạy chương trình không cần cài lại:

Vì một lý do nào đó, bạn phải di chuyển thư mục của một chương trình đến một nơi khác. Thông thường, việc di chuyển này được thực hiện bằng lệnh ''Move" hoặc bằng cách "Cut/Paste". Nhưng đối với phần lớn các chương trình, sau khi đã đến chỗ ở mới thì nó không thể làm ăn đượåc gì nữa, cho dù bạn đã khởi động nhiều lần, bởi lẽ nó chưa đăng ký "hộ khẩu" mới với Windows!

Lúc này, bạn phải chịu khó đăng ký giúp cho nó một chút là nó sẽ hoạt động trở lại thôi.

Đối với máy không định cài lại Windows:

- Đầu tiên bạn vào Menu Start > Run..., gõ "Regedit" và bấm Enter.

- Sau khi đã vào "Registry Editor", chọn ''My Computer" ở trên cùng khung bên trái, sau đó vào Menu Registry (hoặc nhấn đồng thời Alt-R), chọn ''Export Registry Files" (hoặc nhấn đồng thời Shif-E) để sao lưu Registry, phòng khi ''trục trặc kỹ thuật" thì phục hồi lại bằng cách chọn ''Import Registry Files".

- Sau khi sao lưu, bạn vào menu Edit (hoặc nhấn đồng thời Alt-E) chọn Find... (hoặc nhấn đồng thời Shift-F). Kế tiếp ở khung "Find what" bạn gõ vào tên chương trình (tên thư mục) mà bạn đã di chuyển và nhấn Enter.

- Khi chương trình tìm thấy một chuỗi ở khung bên phải, bạn bấm phải chuột vào chuỗi đó chọn "Modify" và gõ vào khung "Value data" một đường dẫn mới (chỗ ở mới của thư mục chương trình).

- Khi đã sửa xong bấm ''OK" để xác nhận sự thay đổi. Bạn bấm phím F3 (hoặc Edit > Find Next) để tiếp tục tìm kiếm và sửa chữa.

- Sau khi hoàn tất, bạn khởi động lại máy để sửa đổi có hiệu lực.

Đối với máy dự định cài lại Windows:

Bạn thực hiện tương tự như trên, nhưng sau khi sửa xong mỗi chuỗi bạn nhấn phím Tab để chuyển qua thư mục chứa chuỗi và thực hiện sao lưu tất cả các thư mục tìm thấy dưới dạng một file. Sau khi cài lại Windows bạn nhấp đôi vào các file vừa lưu để nạp vào Registry.

Lưu ý: Bạn chỉ nên áp dụng phương pháp này khi không có đĩa cài đặt chương trình hoặc với các phần mềm "cho không biếu không" thôi.

2. Thay đổi cột mốc Restore. (Rất cần thiết cho những người hay "táy máy"):

Thay đổi thời gian sao lưu dự phòng của System Restore
Windows XP tự động kiểm soát, quản lý mọi thay đổi trong máy bạn. Như vậy, khi gặp một sự cố nào liên quan đến hệ thống (cài đặt chương trình hỏng, làm hư registry, thay đổi driver), với System Restore, bạn có thể dễ dàng khôi phục lại những gì đã mất bằng cách trở về vài ngày trước đó, lúc mà sự cố chưa xảy ra. Điều bạn cần phải biết là tiện ích này tạo những “cột mốc khôi phục” theo từng thời gian nhất định. Thông thường, cứ mỗi 24 tiếng, System Restore thực hiện một cột mốc khôi phục. Nếu bạn là người thường xuyên install và uninstall nhiều phần mềm, bạn nên tăng tần số của System Restore để các cột mốc khôi phục được chính xác và cập nhật hơn, như vậy, việc “trở về quá khứ” của bạn sẽ dễ dàng hơn. Ngược lại, bạn nên giảm tần số nếu không muốn System Restore chiếm quá nhiều chỗ trong bộ nhớ của máy. Để thực hiện điều này, bạn vào Registry (Start/Run/Regedit). Sau đó, bạn tìm khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\ Microsoft\Windows NT\ CurrentVersion\ SystemeRestore. Sau đó, tìm bên cửa sổ bên phải giá trị DWORD mang tên RPGlobalInterval và nhấp đúp vào nó. Trong cửa số mới, chọn Base/Decimal để sử dụng các số trong hệ thập phân và trong khung Value Data, bạn sẽ thay đổi số 86400 (giây - 24 tiếng) theo ý mình. Đừng nên chọn số quá nhỏ. Ít nhất, bạn nên chọn tần số là 6 giờ (21600 giây) để System Restore tạo ra 4 cột mốc khôi phục mỗi ngày.

3. Thủ thuật Windows XP:

A. Tiết kiệm tài nguyên: nếu xài Windows XP trong một thời gian dài, bạn sẽ nhận thấy được sự hiện diện của file hiberfil.sys, chiếm gần hết bộ nhớ của máy và có dung lượng rất lớn (trên dưới 300MB). Đó là tập tin của chức năng “ngủ đông” Hibernate của Windows XP. Khi sử dụng chức năng này (Start/Turn Off Computer/Hibernate), tất cả thông tin về hệ điều hành, về các chương trình đang sử dụng, về cách sắp đặt hệ thống sẽ được lưu lại trong tập tin hiberfil.sys trước khi tắt máy. Khi bạn mở máy ra, các thông tin đang ngủ đông trên sẽ được được trả về trẹng thái cũ. Nói tóm lại là với chức năng này, bạn có thể tắt và mở máy rất nhanh đồng thời giữ lại đượïc tất cả những gì mình đang làm việc. Nhưng chức năng này tiêu tốn rất nhiều tài nguyên của máy (bộ nhớ và dung lượng). Nếu bạn không bao giờ sử dụng chức năng Hibernate, tức là sự tồn tại của tập tin hiberfil.sys trên máy là thừa, bạn nên xóa nó đi bằng cách: chọn Start/Run, sau đó gõ powercfg.cpl. Một cửa sổ sẽ hiện lên, bạn chọn phiếu Hibernate. Ở khung Hibernate, bạn đánh dấu bỏ chọn phần Enable Hibernation. Sự thay đổi đựoc thực hiện rất nhanh và tập tin hiberfil.sys sẽ tự động bị xoá bỏ.

B. Khởi động nhanh Windows: bạn chọn Start/Run, sau đó gõ vào khung Open dòng Regedit, click OK. Sau đó, bạn lần lượt mở khoá sau: HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft
\Dfrg\BootOptimizeFunction. Bạn nhìn qua cửa sổ bên phải, double click vào biểu tượng Enable. Trong khung Value Data, bạn thay đổi giá trị Y thành giá trị N. Click OK và khởi động lại máy. Windows XP sẽ khởi động nhanh hơn từ 5-8 giây tùy theo cấu hình máy của bạn.

C. Xuất danh sách các nội dung của một ổ đĩa hay một thư mục: Mở My Computer hay Windows Explorer. Chọn Tools/Folder Options sau đó chọn phiếu File/Types. Cách khác: mở Start/Settings/Control Panel, chọn Folder Options. Trong danh sách Registered File Types, bạn click chọn mục Folder và click nút Advance. Một cửa sổ mới được mở ra, bạn click New. Kế tiếp, ở cửa sổ mới, trong khung Action, bạn go:õ Listing, còn trong khung Application Used To Perform Action, bạn gõ dòng lệnh: command.com /c tree /F /A > c:\Listing.txt đối với WinXP. Còn nếu bạn sử dụng Win2000, bạn chỏ cần thay tập tin “command.com” thành “cmd.exe”. Trong trường hợp này, tập tin chứa nội dung của ổ dĩa hay thư mục sẽ mang tên Listing.txt nằm ở thư mục gốc ổ C, tuy vậy bạn có thể sửa đổi tên tập tin. Bây giờ, khi bạn click nút phải lên bất kỳ ổ dĩa hay thư mục nào trên máy, trong Context Menu, bạn sẽ thấy mục Listing. Click vào đó đề có danh sách mà bạn muốn. Khi không muốn dùng chức năng này nữa, bạn chỉ cần mở Registry (Start/Run/Regedit) và chọn khóa: HKEY_CLASSES_ROOT\Folder\shell\Listing\command. Click chuột phải lên mục Listing, chọn Remove.

D. Làm rõ font chữ: nếu bạn thấy fonts chữ sử dụng trong giao diện Windows hay nhất là trong các chương trình soạn thảo văn bản không đủ đậm để bạn nhìn thấy rõ chúng, hãy sư ûdụng chức năng Clear Types. Mở Control Panel và chọn Display. Chọn phiếu Apparence và click nút Effects. Click chọn chức năng Use The Following Method To Smooth Edges The Screen Fonts sau đó, chọn Clear Types. Sau khi thực hiện những bước này, bạn sẽ thấy các fonts chữ trên màn hình rất rõ. Nếu bạn sử dụng màn hình LCD, bạn sẽ nhận thấy dễ dàng hơn sự thay đổi: các fonts chữ sắc sảo hơn, các nét chữ mịn hơn.

E. Đổi tên nhiều file cùng một lúc: Dù các phiên bản Windows trước, việc đổi tên một số lượng lớn các tập tin trong Windows thực sự là một “ác mộng”. Nhưng đối với WinXP, bạn có thể thực hiện việc này một cách dễ dàng. Đầu tiên, bạn mở đường dẫn đến các tập tin cần đổi tên. Sau đó chọn chúng. Một lưu ý nhỏ: tập tin nào bạn muốn làm tập tin khởi đầu thì bạn phải chọn nó sau cùng. Nhấn F2 để đổi tên. Tên của tập tin mới gồm 2 phần: <(số)>.. Ví dụ: baitap (0).txt Các tập tin sau sẽ có cùng sẽ có cùng tên khởi đầu và phần mở rộng nhưng số của chúng sẽ lớn dần: baitap (1).txt, baitap (2).txt,…. Quy tắc này cũng được giữ nguyên nếu số của tập tin khởi đầu là một số âm.

4. Một số phương pháp tăng tốc máy tính:

Khởi động chậm, mở chương trình chậm, làm việc chậm, lên mạng chậm… Bạn điên cả người vì sự ì ạch này làm bạn tốn nhiều thời gian và cả tiền nữa. Bạn muốn cải thiện tình hình? Hãy tham khảo vài phương pháp “phổ thông” sau:

A. Diệt sâu bọ: Ở đây muốn nói đến những con virus tin học. Cẩn tắc vô ưu, bạn đừng nên xem nhẹ việc kiểm soát sự xâm nhập của các “vị khách không mời” nhé vì chắc rằng bạn biết rõ “công dụng” của chúng. Bạn đã có một chương trình chống virus? Quá hay, nhưng đó chỉ giải quyết được nửa vấn đề thôi. Điều quan trọng là các “vaccin” của bạn phải được cập nhật thường xuyên vì các con bọ đáng ghét này luôn được làm mới hằng ngày. Bạn có thể sử dụng các phần mềm quét virus quen thuộc ở Việt Nam như BKAV (http://www.bkav.com....d/sdownload.php) hay D32 (http://ihs.netcenter...et/CNTT/d32.htm).

Dĩ nhiên, bạn hoàn toàn có thể “thủ” sẵn trong máy ở Norton Antivirus, tuy hơi “choán chỗ” nhưng rất vững chắc. Ngoài ra, trang web… sẽ cung cấp cho bạn một máy quét và diệt virus trực tuyến rất đơn giản mà hiệu quả: cần kết nối vào đó và bấm nút Scan. Hai trợ thủ rất xịn khác mà bạn có thể tìm thấy miễn phí trên mạng là A2 free edition (http://www.emsisoft..../software/free/) và McAfee AVERT Stinger (http://vil.nai.com/vil/stinger/). Cả hai tiện ích này đều nằm trong top 40 các trình quét virus tốt nhất thế giới và chúng luôn được cập nhật thường xuyên.

B. Lột mặt Spywares: Những chương trình gián điệp này sẽ tự do đột nhập vào máy tính của bạn một cách hợp pháp khi bạn cài đặt một phần mềm miễn phí hay download một file nào đó bằng hệ thống Peer to Peer (Kazaa chẳng hạn). Những tên gián điệp này sẽ làm chậm máy bạn vì chúng sẽ liên tục gửi những thông tin cá nhân đã ăn cắp của bạn về các công ty gửi thư rác khi máy tính kết nối vào Internet. Hãy lột mặt chúng bằng các tiện ích như LavaSoft Ad-Aware, Spybot Search & Destroy hay SpywareBlaster...

C. Dọn nhà: Khi bạn cài đặt một chương trình mới vào máy, hệ thống sẽ tự động “cấp nhà” cho chương trình đó trên ổ cứng. Khi bạn gỡ bỏ nó, chương trình đó sẽ để lại một khoảng trống trong ổ cứng của bạn. Nhiều lần cài và gỡ các phần mềm vào máy sẽ làm các khoảng trống tăng lên. Điều này sẽ làm khổ cho đầu đọc của ổ cứng vì nó phải đọc cả những khoảng trống không cần thiết trong quá trình tìm kiếm dữ liệu. Việc sắp xếp lại dữ liệu sẽ giúp cho đầu đọc không phải thực hiện những việc thừa vì hệ thống sẽ sắp xếp lại các dữ liệu trên ổ cứng sao cho các khoảng trống không còn nữa. Để kích hoạt chức năng này trong Windows, bạn chọn Start/Programs/Accessories/System Tools/Disk Defragmenter. Bạn chỉ cần chọn ổ dĩa cứng và click nút Defragment để bắt đầu việc dọn dẹp. Bạn còn có thể sử dụng phần mềm O&O Defrag (http://www.oo-software.com) để việc sắp xếp hiệu quả hơn.

E. Kiểm tra các tập tin hệ thống: Trong quá trình sử dụng, các file hệ thống căn bản của hệ điều hành Windows XP có thể bị tổn hại do nhiều nguyên nhân. Bạn hãy kiểm tra và hồi phục chúng lại. Đầu tiên, chọn Start/Run. Sau đó trong khung Open, bạn gõ SFC/scannow. Hệ thống sẽ yêu cầu bạn đưa vào CD cài đặt Windows XP. Hãy cho nó vào CD-Rom của bạn và ngồi chờ kết quả.

F. Khởi động nhanh hơn: Việc khởi động máy chậm có nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là do những chương trình trong máy như Yahoo!Messenger, Vietkey, Norton Antivirus hay BKAV được cài vào khung Startup của Windows (bạn có thể tìm thấy khung này ở phía dưới bên phải desktop). Hạn chế được số lượng ứng dụng cài trên thanh Startup sẽ cải thiện tối đa tốc độ khởi động Windows của máy. Đầu tiên, bạn hãy khởi động tiện ích System Configuration Utilities của Windows bằng cách vào Start/Run và gõ msconfig vào ô Open. Sau đó, bạn chọn thẻ Startup và bạn sẽ thấy một danh sách dài những chương trình sẽ được kích hoạt khi Windows khởi động. Click bỏ chọn những chương trình không cần thiết.

5. Đổi tên "Recycle Bin" (Thùng rác):

Dùng NotePad soạn thảo file Recycle.reg với nội dung như sau: (Hãy dùng lệnh coppy để đảm bảo chính xác!)

Windows Registry Editor Version 5.00

[HKEY_CLASSES_ROOT\CLSID\{645FF040-5081-101B-9F08-00AA002F954E}\ShellFolder]
"Attributes"=hex:70,01,00,20
"CallForAttributes"=dword:00000040

Chạy file vừa tạo để nhập dữ liệu vào Registry. Từ giờ trở đi bạn có thể thoải mái đổi tên của Recycle Bin.

Vũ Sơn Tùng

#47
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Một số kinh nghiệm với Windows XP (Phần II)

1. Cài đặt WinXP tự động:

Trước tiên là một số quy ước:
- Hệ điều hành (HĐH) ở đây chỉ đề cập đến Windows của Microsoft
- Ổ cứng được chia làm 2 phân vùng là C:\ và D:\
- Ổ CD chứa đĩa cài đặt là E:\
- HĐH đươc cài đăt lên phân vùng C:\
- Các hệ điều hành được cài đặt từ DOS.
Các bạn nên chú ý đến quy ước này để có thể thay đổi cách làm cho phù hợp với cấu hình thực tế và nhu cầ̀u của mình.
Một lần nữa xin nhắc lại, bài viết này chỉ đề cập đến việc làm thế nào để công việc cài đặt HĐH đơn giản và nhanh chóng hơn, chứ không đề cập cập đến các thao tác cài đặt một HĐH như thế nào.
- Cài đặt tự động:
Trước tiên, chép bộ cài đặt (đĩa Windows) lên một thư mục trên máy.
Tạo file "msbatch.txt", với nội dung như sau: (Hãy coppy để không có sai sót nhé!)

;SetupMgrTag

[Data]
AutoPartition=1 (Đây là khu vực cài Windows. C:\ = 1, D:\ = 2... Tùy theo định dạng HDD của bạn)
MsDosInitiated="0"
UnattendedInstall="Yes"

[Unattended]
UnattendMode=FullUnattended
OemSkipEula=Yes
OemPreinstall=Yes
TargetPath=\WINDOWS

[GuiUnattended]
AdminPassword=*
EncryptedAdminPassword=NO
OEMSkipRegional=1
TimeZone=205
OemSkipWelcome=1

[UserData]
ProductKey=xxxxx-xxxxx-xxxxx-xxxxx-xxxxx ( Nhập vào CD-Key)
FullName="(Tên của bạn)"
OrgName="(Tên cơ quan)"
ComputerName=VUSONTUNG

[SetupMgr]
DistFolder=D:\windist
DistShare=windist

[Identification]
JoinWorkgroup=WORKGROUP

[Networking]
InstallDefaultComponents=Yes

Coppy file vừa tạo vào thư mục chứa bộ cài đặt (cùng cấp với setup.exe).
Do dòng lệnh khá dài, nên bạn có thể tạo thêm một file nữa để chạy nhanh hơn. Bạn mở NotePad lên, nhập vào dòng lệnh sau: i386\winnt /s:i386 /u:msbatch.txt
Lưu lại với tên caidatxp.bat, rồi coppy vào thư mục cùng với file msbatch.txt ở trên.
Ghi toàn bộ file trong thư mục cài đặt đó vào một CD. Và thực hiện cài đặt khi cần.
#Trong trường hợp bạn không có ổ CD-RW, hãy liên hệ với tôi để có thể sử dụng FDD thay thế.

2. Ghi 4 GB dữ liệu vào đĩa CD 650 MB:

Phần mềm CDImage GUI Beta 3 của CyBerian cho chép bạn tạo ra tập tin hình ảnh ISO của đĩa CD từ nội dung trên đĩa cứng rồi sau đó dùng một trong các chương trình ghi đĩa có hỗ trợ ghi ISO như Nero BurningROM để tạo ra đĩa CD.
Ta cũng biết bảng phân phối tập tin nằm ở vị trí đầu đĩa chứa tất cả thông tin về cấu trúc tập tin và thư mục trên đĩa, bây giờ giả sử nếu có hai (hoặc nhiều hơn) mục nhập (entry) cùng trỏ đến một nội dung trên đĩa (nghĩa là chứa cùng địa chỉ) thì khi xem đĩa bằng chương trình quản lý tập tin kiểu Windows Explorer ta sẽ thấy có hai tập tin nằm ở hai thư mục khác nhau, nhưng thật ra đĩa chỉ chứa một tập tin duy nhất. Như vậy, nếu ta có thể can thiệp vào bảng phân phối tập tin này thì việc lưu trữ 10 tập tin 600MB giống nhau trên đĩa CD chỉ là chuyện... nhỏ.
Và việc sử dụng phần mềm CDImage GUI với tùy chọn “-o optimize storage by encoding duplicate files only once” chính là giải pháp. Trước tiên bạn phải chép tất cả tập tin và thư mục muốn đưa lên đĩa CD vào một thư mục nào đó trên đĩa cứng. Tiếp đến, bạn chạy chương trình CDImage GUI.
Mục StartUp:
- Thẻ Directories: bạn nhập đường dẫn đến thư mục chứa bộ nguồn (Ví dụ: D:\Download\TuoitreOnline) và đường dẫn kèm tên tập tin hình ảnh ISO sẽ được tạo ra (Ví dụ: C:\Download\TuoitreOnline.iso) vào ô Please specify the Root Dir of your CD và Please specify a Path and Filename for the Iso File, hoặc cũng có thể nhấp vào nút rồi chọn đến từng vị trí tương ứng.
- Thẻ Config:
+ Chọn Use internal CdImage (V.2.47) nếu muốn dùng chương trình CdImage được tích hợp sẵn trong phần mềm.
+ Chọn Use external CdImage nếu muốn sử dụng chương trình CdImage của riêng bạn, khi chọn tùy chọn này bạn sẽ phải nhập đường dẫn đến tập tin cdimage.exe vào trong ô Select your CDImage.Exe.
Tại thẻ này, bạn có thể đánh dấu chọn mục Save your Settings on Exit để chương trình tự động lưu lại những thay đổi của bạn nhằm áp dụng cho lần chạy sau.
Mục Configuration:
- Thẻ Files:
+ “-t time stamp for all files and directories, no spaces, any delimiter”: cập nhật ngày tháng tạo tập tin và thư mục cho toàn bộ nội dung đĩa dựa vào ngày tháng bạn nhập trong ô bên dưới, theo dạng [tháng/ngày/năm, giờ:rolleyes:út:giây].
+ “-g encode GMT time for files rather than local time”: mã hóa dạng ngày giờ tại máy tính cục bộ theo dạng GMT.
+ “-h include hidden files and directories”: đưa tất cả tập tin và thư mục ẩn có trong thư mục bộ nguồn vào luôn trong tập tin hình ảnh ISO.
- Thẻ FileSystem:
+ “-n allow long filenames (longer than DOS 8.3 names)”: giữ lại cấu trúc tên tập tin theo dạng dài, nếu không chọn tùy chọn này thì tất cả tên tập tin trong hình ảnh ISO sẽ bị chuyển thành dạng 8.3 như của DOS.
+ “-nt allow long filenames, restricted to NT 3.51 compatibility”: giữ tên tập tin dài theo chuẩn của Windows NT 3.51.
+ “-d don’t force lowercase filenames to uppercase”: không tự động chuyển tên tập tin chữ thường thành chữ hoa.
- Thẻ Boot: nếu bạn muốn đĩa CD có thể khởi động được thì hãy đánh dấu vào “-b “El Torito” boot sector file, no spaces” rồi nhập đường dẫn đến tập tin .BIN có chứa vùng khởi động vào ô bên dưới, bạn cũng có thể nhấn nút rồi tìm đến tập tin tương ứng.
- Thẻ Signature / CRC:
+ “-o optimize storage by encoding duplicate files only once”: tối ưu hóa dung lượng đĩa bằng cách tìm những tập tin giống nhau trong bộ nguồn rồi thay đổi địa chỉ của các mục nhập trên bảng phân phối tập tin để chúng cùng trỏ đến một tập tin duy nhất.
+ “-os show duplicate files while creating image”: hiển thị các tập tin trùng nhau khi tạo tập tin hình ảnh ISO.
- Thẻ Report:
+ “-w1 report non-ISO or non-Joliet compliant filenames or depth”: báo cáo cấp độ sâu hoặc tên những tập tin không theo chuẩn ISO hay Joliet.
+ “-w2 report non-DOS compliant filenames”: báo cáo những tập tin có tên không theo chuẩn DOS.
+ “-w3 report zero-length files”: báo cáo những tập tin có kích thước bằng 0.
- Thẻ Creation:
+ “-m ignore maximum image size of 681,984,000 bytes”: cho phép tạo ra tập tin hình ảnh ISO lớn hơn 681MB.
+ “-l volume label, no spaces (e.g. –lMYLABEL)”: tạo nhãn cho đĩa CD.
Mục Creation: sau khi bạn nhấn nút Start Image Creation, chương trình bắt đầu đọc thư mục chứa bộ nguồn trên đĩa cứng, phân tích các tập tin trong ấy rồi dựa vào những tùy chọn trong Configuration để tạo ra tập tin hình ảnh ISO.
Chương trình miễn phí, dung lượng 640KB, tương thích với mọi Windows, vào đây (www.nguyenhongphuc.com) để download chương trình (Không có đường dẫn, các bạn chịu khó vào tìm nhé!).

3. Điều chỉnh tốc độ CPU trong Win XP:

Đôi khi bạn mua một con CPU ví dụ P4 2.4GHz nhưng khi vào Windows XP xem thì lại thấy chỉ có 957MHz. Vậy có chuyện gì xảy ra với con CPU của bạn vậy? Một đặc điểm của Win XP là tự động chuyển đổi tốc độ của vi xử lý và điện thế của CPU. Vì vậy, đối với những CPU mà có thể làm giảm tốc độ thì đôi khi Win XP sẽ không chạy đúng tốc độ thực của nó.
Cách giải quyết là bạn hãy kiểm tra mục Power Options trong Control Panel. Trong phần Power Schemes chọn Home/Office Desk hay Always On. Khi ấy Win XP sẽ trả lại thông số thực của CPU.

4. Phục hồi phong độ cho PC bằng 5 thủ thuật nhanh gọn:

A> Sau một thời gian dài làm việc căng thẳng, đã đến lúc phải phục hồi phong độ cho PC của bạn. Sau đây là 6 biện pháp nhanh gọn và không tốn kém để duy trì khả năng hoạt động tốt cho hệ thống.

B> Ngăn ngừa các ổ đĩa ngủ gật: Tiện ích ScanDisk đáng tôn kính trong Windows 98 và Me được thu gọn thành một phần của hộp thoại mang nhãn "Error-checking" trong Windows 2000 và XP, nhưng nó vẫn là một công cụ rất tốt cho việc xác định các sector hỏng và kiểm tra sức khỏe của ổ đĩa. Trong 98 và Me, bạn nhấn Start.Progams.Accessories.System Tools.ScanDisk. Chọn tùy chọn Thorough và nhấn Start. Theo thông báo, bạn để cho ScanDisk tự động sửa các lỗi mà nó tìm thấy. Để quét một ổ đĩa trong Windows 2000 và XP, bạn nhấn phải biểu tượng của ổ đĩa trong Windwos Explorer hoặc trong một cửa sổ folder bất kỳ, rồi chọn Properties.Tools.Check Now. Chọn Automatically fix file system errors và nhấn Start.

C> Dọn sạch rác rưởi: Đã đến lúc phải quét sạch các tập tin tạm đang dồn đống trong hệ thống của bạn. Nhấn Start.Programs (All Programs trong XP). Accessories.System Tools.Disk Cleanup. Chọn ổ đĩa và nhấn OK. Đánh dấu chọn hoặc bỏ chọn đối với các tùy chọn, nhấn OK và nhấn Yes.

D> Xoá các driver ăn theo vô tác dụng: Khi lắp thêm phần cứng mới hoặc cập nhật các driver, Windows có thể tạo hai khoản mục Registry cho một thiết bị hoặc không thành công trong việc xóa khoản mục ứng với bộ phận đã loại bỏ. Để xóa các khoản mục Registry nhân bản hoặc không cần thiết này, bạn nhấn phải My Computer và chọn Properties. Trong Windows 98 và Me, bạn nhấn lên nhãn Device Manager. Trong Windows 2000 và XP, bạn nhấn lên nhãn Hardware rồi nhấn nút Device Manager. Bạn nhấn đúp lên một loại thiết bị để biết các thiết bị đã được cài đặt của nó, và nhấn đúp lên một thiết bị để duyệt các driver của nó. Loại bỏ các khoản mục trùng hoặc không cần thiết bằng cách chọn chúng rồi ấn phím.

E> Nâng cao tốc độ tập tin tráo đổi: Bộ nhớ ảo (tập tin tráo đổi) của bạn sẽ chạy nhanh nhất nếu nó không bị cắt vụn. Tuy nhiên, Disk Defragmenter không hoạt động trên các tập tin tráo đổi. Nếu có đĩa cứng thứ hai hoặc một ổ đĩa với 2 partition thì tiến hành dồn đĩa đối với partition hoặc ổ đĩa nào không chứa tập tin tráo đổi, rồi sau đó chuyển tập tin tráo đổi sang ổ đĩa hoặc partition đó. Để tối ưu hóa bộ nhớ ảo trong Windows XP, bạn nhấn Start.Control Panel (chọn Performance and Maintenance nếu bạn đang ở chế độ xem Category).System.Advanced. Bên dưới Performance chọn Settings và chọn Advanced.Change. Chọn một ổ đĩa trong hộp trên cùng và nhấn Custom size (xem hình 1). Trong Windows 2000, bạn nhấn Start.Settings.Control Panel.System.Advanced.Performance Options.Change. Trong Windows 98 và Me, chọn Start.Settings.Control Panel.System.Performance.Virtual Memory. Chọn Let me specify my own virtual memory settings. Tập tin tráo đổi của bạn phải lớn gấp 2,5 đến 3 lần dung lượng RAM hệ thống. Nhập con số này vào cả hai hộp "Minimum" và "Maximum" (trong 2000 và XP là "Initial size" và "Maximum size"). Nhấn OK và Yes (nếu cần) để chấp nhận thay đổi này.

5. Thêm một số phương pháp tăng tốc độ PC:

a) Bạn nhấp chuột phải vào biểu tượng My Computer, chọn Properties, chọn thẻ Advanced. Tại Performance, nhấp vào Settings, trong thẻ Visual Effects, bỏ đánh dấu tất cả các lựa chọn và chỉ để lại ba lựa chọn cuối là:
- Use common tasks in folders
- Use drop shadows for icon labels on the desktop
- Use visual styles on windows and buttons

B) Tăng tốc Start Menu – Windows XP
Chạy Regedit từ Start\Run
Tìm đến khóa Hkey_Current_User\Control Panel\Desktop
Thay đổi value của key Menu ShowDelay thành 0
Khởi động lại máy và xem kết quả

c) Tăng tốc độ shutdown
Bạn chọn Start/ Run, gõ lệnh regedit rồi nhấn OK hay Enter.
- Trong cửa sổ Registry Editor, bạn mở dần theo đường dẫn:
HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop.
- Thay đổi giá trị của các key như sau (bằng cách nhấp chuột phải lên tên từng key, chọn lệnh Modify trên menu chuột phải, điền giá trị mới vào hộp Value data của hộp thoại Edit String rồi nhấn OK):
AutoEndTasks=1 (Giá trị key AutoEndTasks là 1 sẽ tự động “giết” các chương trình đang treo cho bạn. Thời gian chờ để khử các ứng dụng được giảm còn 4000 (mặc định tới 20000).
HungAppTimeout=5000
MenuShowDelay=00000000 (mặc định là 400)
WaitToKillAppTimeout=4000 (mặc định là 20000)
WaitToKillServiceTimeout=4000 (mặc định chưa có)
- Bạn cũng cần giảm thời gian “giết” các dịch vụ Windows XP xuống tương đương. Nhưng cần phải tạo thêm key này bằng cách click chuột phải lên nền cửa sổ bên phải. Chọn trong menu pop-up lệnh New/String Value. Nhấp chuột phải lên key mới xuất hiện có tên “New Value #1”, chọn Rename và đổi thành WaitToKillServiceTimeout. Nhấp chuột phải lên tên này, chọn Modify và xác lập giá trị Value data của nó thành 4000, nhấn OK.
- Sau đó, bạn “xử” tiếp cái khoản thứ hai. Mở theo đường dẫn:
HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control
- Nhấp chuột phải lên tên WaitToKillServiceTimeout, chọn Modify và xác lập giá trị của nó là 4000, nhấn OK.
- Thoát khỏi Registry Editor và restart lại máy cho các giá trị mới có hiệu lực.

d) Tăng tốc khởi động Windows XP
Sau một thời gian vọc Windows XP tôi đã tìm ra được một số thư mục có thể xóa được và không ảnh hưởng gì tới Windows mà còn làm Windows khởi động nhanh hơn nhiều.
1.C:\WINDOWS\DOWNLOADED INSTALLATION xóa nó đi không ảnh hưởng gì cả.
2.C:\WINDOWS\DRIVER CACHE (hoặc trong system32\drivercache) làm giảm quá trình khởi động của XP thì việc gì mà không xóa nó đi.
3.C:\WINDOWS\SYSTEM32\DLLCACHE cũng thế xóa nó còn tiết kiệm được vài trăm MB (chỉ với XP Pro)
4.C:\ WINDOWS\REGISTEREDPACKAGES hãy xóa toàn bộ tệp tin và thư mục trong đó, tốc độ tăng đáng kể.
5.C:\WINDOWS\PREFETCH xóa hết các tệp tin trong đó tốc độ nhanh hơn khoảng 5->7 giây.
6.C:\WINDOWS\REPAIR cũng không thật cần thiết hãy xóa tất cả những gì trong đó thì tốt hơn.
7.C:\WINDOWS\SYSTEM32\REINSTALLBACKUPS xóa hết nó đi chỉ mất dung lượng mà không được gì.
8. Ngoài ra người nào hay Update XP tren mạng thi trong C:\WINDOWS sẽ tự động tạo ra một thư mục có tên là LASTGOOD thực chất thì thư mục này sao lưu những gì của Windows bao gồm DRIVECACHE, SYSTEM32... xóa nó đi mà không ảnh hưởng gì, tiết kiệm được vài trăm MB đấy.

6. Tối ưu hoá bộ nhớ đệm (Cache):

Với các ứng dụng đòi hỏi nhiều bộ nhớ như hiện nay thì chắc chắn bạn phải lo tìm cách nào đó có thể giúp bạn làm việc nhanh hơn. Bộ nhớ Cache có thể giúp bạn điều này mà không phải quan tâm nhiều đến đĩa cứng. Cache là một bộ nhớ đặc biệt có tốc độ truy xuất rất nhanh.
Do đọc dữ liệu từ cache nhanh hơn đọc từ đĩa cứng nên tốc độ của cả hệ thống cũng như của ứng dụng tăng đáng kể. Nói cách khác, bộ nhớ cache được thiết kế để giảm truy cập vào đĩa cứng. Nếu RAM của bạn có 32MB hoặc nhiều hơn, bạn hãy thử thiết đặt kích thước của bộ nhớ cache theo một số lượng cố định. Ví dụ như đặt 4MB cho hệ thống có RAM dưới 48MB, và 8MB cho hệ thống có 48MB trở lên. Dưới đây là cách thiết đặt.
- Chạy SysEdit bằng cách chọn Run từ menu Start, gõ SysEdit trong ô trắng và ấn Enter.
- Nhắp vào cửa sổ system.ini. Cuộn xuống chỗ [vcache].
- Nếu bạn không nhìn thấy, bạn gõ [vcache] trên một dòng mới:

[mci]

cdaudio=mcicda.drv
sequencer=mciseq.drv
waveaudio=mciwave.drv
avivideo=mciavi.drv
videodisc=mcipionr.drv
vcr=mcivisca.drv
MPEGVideo=mciqtz.drv

[vcache]

[MSNP32]

- Nếu bạn có 48MB RAM hoặc ít hơn, bạn gõ hai dòng lệnh:

MinFileCache=0
MaxFileCache=4096

- Nếu bạn có nhiều hơn 48MB RAM, bạn gõ hai dòng lệnh sau:

MinFileCache=0
MaxFileCache=8192

Đóng SysEdit, ghi lại sự thay đổi này và khởi động lại Windows.

7. Thay đổi đường dẫn mặc định của thư mục Program Files:

Thư mục Program Files thường nằm chung với ổ đĩa cài đặt hệ điều hành, và mỗi khi cài đặt một chương trình mới vào máy tính, chúng thường được mặc định cài vào Program Files. Nếu bạn có nhiều ổ đĩa và ổ chứa thư mục Program Files quá đầy, bạn có thể chuyển đường dẫn của thư mục này sang ổ đĩa khác để những lần cài đặt sau các chương trình sẽ được mặc định cài sang ổ mới. Cách thực hiện như sau: vào Start\ Run > gõ regedit > OK. Trong cửa sổ Registry Editor bạn tìm đến khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft
\Windows\CurrentVersion, bấm đúp chuột lên giá trị ProgramFilesDir ở khung bên phải. Trong cửa sổ Edit String, nhập vào đường dẫn mới cho thư mục Program Files. Nhập xong bấm OK, đóng Registry Editor, log off hoặc khởi động lại máy tính.

Vũ Sơn Tùng

#48
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Một số kinh nghiệm với Windows XP (Phần III)

I - 15 thủ thuật cơ bản với Windows XP:

(Bài viết này dựa trên những tính năng của phiên bản Microsoft Windows XP Service Pack1 - Professional 2003. Các phiên bản khác, nhất là bản Home, có thể không giống chút ít.).Chuyển sang dùng Windows XP (XP) từ Windows 95/98 (Win9x) cũng giống như chuyển sang dùng Windows 95 từ Windows 3.1 vài năm trước đây. XP được xây dựng trên nền tảng của Windows NT và 2000 vốn có độ ổn định cao hơn nhiều so với Win9x. Ngoài ra, XP cũng sử dụng hệ thống file gống như của NT và 2000. Điều này khiến cho XP trở thành một hệ điều hành (HĐH) đa người dùng thực sự cho PC gia đình. Bài viết này cố gắng đưa ra một số thủ thuật nhằm giúp người dùng thông thường tận dụng một cách tốt nhất khả năng của HĐH này. (Nghe nói trong năm 2005 này bác Bill Gates sẽ xuất xưởng bản Việt hóa XP chính thức, hay quá! Tiện mời bà con vào đây để tìm hiểu vấn đề này nhé: www.microsoft.com/vietnam - tiếng Việt hẳn hoi đấy).

Thủ thuật 1: HÃY DÙNG HỆ THỐNG FILE NTFS

Thật may mắn, XP hỗ trợ cả 2 hệ thống file FAT32 (được Win9x hỗ trợ) và NTFS (được NT và 2000 hỗ trợ). Điều này cho phép người dùng lựa chọn hệ thống file phù hợp với yêu cầu công việc của mình. Tuy nhiên NTFS cung cấp những mức độ bảo mật tốt hơn nhiều so với FAT32. Với FAT32 trong Win9x, ai cũng có thể xâm nhập vào PC của bạn và làm bất cứ điều gì mà họ thích. Với NTFS, bạn có quyền cho hay không cho ai đó sử dụng máy tính của bạn. Và người được phép sử dụng PC của bạn cũng chỉ có thể hoạt động trong khuôn khổ mà bạn cho phép.

Để kiểm tra xem bạn đang dùng NTFS hay FAT32, chọn ổ đĩa cứng trong My Computer, nhấn chuột phải và chọn Properties. Nếu đang dùng FAT và muốn chuyển sang dùng NTFS, bạn hãy thực hiện việc chuyển đổi này từ dấu nhắc DOS trong XP mà không phải lo ngại gì về việc mất mát dữ liệu. Để chuyển đổi sang NTFS từ FAT, bạn chọn Start – All Programs - Accessories, and Command Prompt. Tại dấu nhắc, bạn gõ convert x: /fs:ntfs (x là tên ổ đĩa mà bạn chọn). Cũng cần lưu ý rằng, một khi đã chuyển sang NTFS, bạn sẽ không thể quay trở lại dùng FAT trừ phi bạn định dạng (format) lại ổ đĩa.

Thủ thuật 2: TẠO TÀI KHOẢN HẠN CHẾ

Có 2 loại tài khoản người dùng (user account) trong XP: tài khoản người quản trị hệ thống (administrator account) và tài khoản người dùng hạn chế (limited account). Sau khi cài đặt XP thành công, bạn nên ngay lập tức thiết đặt một tài khoản người dùng hạn chế để phục vụ cho các công việc hàng ngày nếu như bạn đang dùng hệ thống file NTFS.

Để tạo một tài khoản người dùng hạn chế, bạn phải đăng nhập vào tài khoản của người quản trị hệ thống (theo ngầm định XP tạo ra tài khoản này khi bạn cài đặt HĐH). Sau đó, chọn Start - Control Panel - User Accounts - Create A New Account. Đặt tên cho tài khoản mới này rồi nhấn Next. Trong hộp thoại mới, chọn Limited Account. Mỗi khi muốn tạo mới hay thay đổi thuộc tính của các tài khoản, bạn nhất quyết phải đăng nhập vào tài khoản người quản trị hệ thống.

Thủ thuật 3: SỬ DỤNG MẬT KHẨU

Sử dụng mật khẩu (password) là một hình thức bảo mật thông tin truyền thống và hiệu quả. Mặc dù Win9x có cung cấp cho bạn chế độ bảo vệ bằng mật khẩu, nhưng đối với đa số người dùng thì tính năng này không có một chút hiệu quả nào. Còn XP làm cho việc sử dụng mật khẩu thể hiện đúng ý nghĩa của nó.

Trong XP, việc bảo vệ các tài khoản bằng mật khẩu không có tính bắt buộc. Tuy nhiên, theo tôi, bạn nên sử dụng mật khẩu với các tài khoản, ít nhất là với tài khoản người quản trị hệ thống.

Theo ngầm định, XP coi tất cả các tài khoản người dùng tạo ra khi cài đặt HĐH là tài khoản người quản trị hệ thống và không yêu cầu mật khẩu khi người dùng đăng nhập vào hệ thống. Để thay đổi điều này, bạn cần phải tạo mật khẩu mới. Trong User Accounts, chọn Change An Account và nhấn vào tài khoản bạn muốn dùng mật khẩu để bảo vệ. Trong tài khoản này, chọn Create A Password và gõ mật khẩu 2 lần. Để việc sử dụng mật khẩu có hiệu quả hơn, theo chúng tôi bạn không nên dùng chế độ “gợi nhắc mật khẩu” (password hint) vì người dùng khác có thể căn cứ vào những gì bạn ghi ở đây để đoán ra mật khẩu của bạn. Sau khi nhấn nút Create Password, XP sẽ hỏi xem bạn có muốn để cho người dùng khác tiếp cận các thư mục và các file trong tài khoản của bạn hay không. Nếu muốn riêng tư hơn nữa, bạn hãy trả lời “KHÔNG” với câu hỏi nêu trên.

Thủ thuật 4: DỰNG TƯỜNG LỬA

Khác với các phiên bản trước, XP có kèm theo một chương trình tường lửa (Firewall) để bảo vệ bạn an toàn khi duyệt Web. Bức tường lửa này dường như là đáng tin cậy, bởi vì cho tới nay chưa thấy có người sử dụng nào phàn nàn về tính năng mới mẻ này trong XP

Có lẽ bạn đã từng tự hỏi: làm sao biết được bức tường đó đã được dựng lên chưa? Để kểm tra, bạn vào Control Panel - nhấn chuột phải vào biểu tượng Network Connections - chọn Properties - nhãn Advanced, và chọn Internet Connection Firewall.

Thủ thuật 5: CHẠY CHƯƠNG TRÌNH BẰNG QUYỀN CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ HỆ THỐNG

XP có chế độ Fast User Switching, chế độ cho phép người dùng chuyển đổi qua lại giữa các tài khoản mà không phải thoát ra và đóng các ứng dụng đang chạy. Để chế độ này hoạt động, bạn mở User Accounts và chọn Change The Way Users Log On Or Off. Trong hộp thoại mới bạn chọn cả Use The Welcome Screen và Use Fast User Switching.

Để chuyển đổi qua lại giữa các tài khoản người dùng, bạn chọn Start – Log Off - Switch User. Để chạy một chương trình với quyền của người quản trị hệ thống, bạn nhấn chuột phải vào biểu tượng của chương trình rồi chọn Run As. Trong hộp thoại mới, chọn tên của tài khoản quản trị hệ thống và nhập mật khẩu, và chương trình sẽ khởi động ngay lập tức. Bạn cũng cần lưu ý, có một số chương trình đòi hỏi bạn nhấn thêm phím Shift cùng với chuột phải.

Thủ thuật 6: CÁ NHÂN HOÁ THỰC ĐƠN START

So với các phiên bản trước, XP cung cấp nhiều khả năng thay đổi thực đơn Start hơn. Bạn có thể thêm, bớt hay thay đổi theo ý mình bất cứ thành phần nào của thực đơn Start. Để làm điều này, bạn nhấn chuột phải vào thực đơn Start và chọn Properties. Trong hộp thoại Task Bar and Start Menu Properties, nhấn nút Customize. Tại đây, bạn có thể lựa chọn dùng biểu tượng to hay nhỏ, cho phép hiển thị bao nhiêu chương trình vừa chạy, và đưa chương trình duyệt Web cùng chương trình e-mail ưa thích vào thực đơn Start. Trong nhãn Advanced bạn có thể chọn cách mà những thành phần như My Documents, My Computer, và Control Panel vv... xuất hiện cũng như nhiều tuỳ chọn khác mà bạn không thể có được ở các phiên bản Windows trước đây.

Nếu như không thích cách mà thực đơn Start của XP xuất hiện, bạn có thể quay trở về với thực đơn truyền thống bằng cách chọn Classic Start Menu trong hộp thoại Task Bar and Start Menu Properties.

Thủ thuật 7: SỬ DỤNG TÍNH NĂNG KHÔI PHỤC HỆ THỐNG

Giống như Windows ME, XP cũng cung cấp khả năng khôi phục hệ thống về điểm trước một sự kiện này đó (cài đặt mới phần mềm hoặc xung đột hệ thống...) Để tạo một mốc khôi phục, bạn mở (All) Programs trong thực đơn Start, chọn Accessories - System Tools - System Restore. Trong cửa sổ System Restore, nhấn Create A Restore Point, nhấn Next, nhập tên cho điểm khôi phục hệ thống, rồi nhấn Create. Để đưa hệ thống trở lại một thời điểm nào đó, trong cửa sổ System Restore, chọn Restore My Computer To An Earlier Time, rồi chọn một điểm phù hợp để tiến hành khôi phục hệ thống. Sau khi nhấn Next 2 lần, hệ thống của bạn sẽ bắt dầu khôi phục về thời điểm bạn chọn. Quá trình này chỉ hoàn tất sau khi HĐH tự khởi động lại.

Thủ thuật 8: KHÔNG CẦN CHỈNH LẠI ĐỒNG HỒ

Người dùng PC thường phàn nàn về việc đồng hồ hệ thống chạy sai sau một khoảng thời gian nào đó, và phải chỉnh sửa lại thời gian cho đúng một cách thủ công. Điều này sẽ không thể xảy ra trong XP nếu bạn thực hiện các bước sau để đồng bộ hoá đồng hồ hệ thống với đồng hộ quốc tế (với điều kiện bạn có kết nối Internet).

Bạn đăng nhập vào tài khoản quản trị hệ thống, kết nối Internet, rồi nhấn đúp vào biểu tượng đồng hồ trên thanh công cụ. Chọn nhãn Internet Time trong hộp thoại Date and Time Properties. Đánh dấu kiểm vào Automatically Synchronize With An Internet Time Server và chọn một đồng hồ thích hợp từ thực đơn thả xuống, rồi nhấn nút Update Now.

Thủ thuật 9: KIỂM TRA TÍNH TƯƠNG THÍCH

Không phải chương trình nào cũng chạy tốt trong XP. Nếu không rõ về tính tương thích, bạn hãy thử dùng Program Compatibility Wizard. Chọn Start - All Programs – Accessories - Program Compatibility Wizard.

XP cung cấp cho bạn nhiều khả năng để thử tính tương thích của chương trình. Nếu chương chình chạy tốt ở một điều kiện nào đó, XP sẽ gợi ý bạn dùng các thiết đặt phù hợp nhất để chạy chương trình. Tất nhiên, XP cũng cho bạn biết liệu chương trình có hoạt động cùng HĐH không.

Thủ thuật 10: TẠO ĐĨA MỀM KHỞI ĐỘNG CHO XP

Tạo một đĩa khởi động trong Win9x không hề khó khăn chút nào. Nhưng Microsoft đã loại bỏ tính năng này trong Win 2000 và XP. Bạn cần có một đĩa mềm khởi động để khôi phục lại hệ thống trong các trường hợp như hỏng rãnh khởi động (boot sector), hỏng bảng ghi khởi động chính (Master Boot Record), bị nhiễm virus, mất hoặc hỏng file NTLDR, NTDETECT.COM, hoặc để khởi động trong trường hợp XP không thể khởi động được cả ở chế độ Safe Mode.

Để tạo đĩa mềm khởi động trong XP (và Win2000), bạn làm như sau: Chuẩn bị một đĩa mềm đã được định dạng. Chuyển tới ổ đĩa C:\, chép các file sau boot.ini, ntldr, ntdetect.com, bootsect.dos, NTBOOTDD.SYS (nếu có) sang đĩa mềm.

Thủ thuật 11: THIẾT ĐẶT LẠI BỘ NHỚ ẢO

Cho dù bạn có bao nhiêu RAM đi nữa thì Windows vẫn tạo ra thêm bộ nhớ ảo (paging files) trên đĩa cứng để tối ưu hóa hoạt động của hệ thống. Tối ưu hóa các file paging bằng cách cố định dung lượng sẽ làm cho tốc độ tìm dữ liệu trên đĩa cứng nhanh hơn, HĐH cũng không phải đặt lại dung lượng bộ nhớ ảo, giảm thiểu quá trình phân mảnh, và tiết kiệm được đĩa cứng.

Để biết bạn cần dành bao nhiên megabyte cho bộ nhớ ảo, bạn hãy chạy một số chương trình thường dùng, rồi mở Task Manager (nhấn Ctrl – Alt – Del), nhấn vào nhãn Performance, và xem số megabyte ở khung Commit Charge là bao nhiêu. Đây là số lượng bộ nhớ mà hệ thống của bạn cần lúc này. Dung lượng bộ nhớ ảo tối thiểu sẽ là số megabyte này cộng thêm với 32 MB (nhưng nhiều người cộng thêm với 64 MB). Thiết đặt hợp lý nhất là dung lượng tối thiểu và tối đa của bộ nhớ ảo phải bằng nhau để XP không đặt lại dung lượng bộ nhớ này nữa.

Để thực hiện việc đặt lại dung lượng bộ nhớ ảo, bạn nhấn chuột phải vào My Computer, chọn Properties – nhãn Advanced - nhấn vào Settings của khung Performance - chọn Advanced trong hộp thoại Performance Options. Bạn nhấn tiếp vào nút Change - chọn ổ đĩa thích hợp - nhập dung lượng bộ nhớ ảo tối thiểu và tối đa, rồi nhất Set. Bạn lặp lại các bước nêu trên với các ổ đĩa còn lại và các thay đổi sẽ có hiệu lực sau khi hệ thống khới động lại.

Thủ thuật 12: SỬ DỤNG SYSTEM CONFIGURATION UTILITY

Nếu bạn không muốn một chương trình nào đó khởi động cùng với XP, muốn tăng tốc độ khởi động của HĐH, muốn loại bỏ những dịch vụ hệ thống không cần thiết, muốn tìm hiểu những trục trặc của hệ thống... và nhiều điều khác, thì bạn hãy sử dụng tiện ích System Configuration.

Nếu đã sử dụng Win 98 và khai thác tính năng System Configuration Utility thì bạn có thể băn khoăn tại sao XP lại không có tính năng tuyệt vời này. Câu trả lời là XP có nhưng Microsoft không để tiện ích này trong System Information vì không muốn người sử dụng can thiệp quá sâu vào hệ thống.

Muốn khởi động System Configuration Utility, bạn chọn Start – Run – gõ “msconfig” hoặc chọn Start - Help and Support - chọn Use Tools to view your computer information and diagnose problems trong cửa sổ mới. - dưới hộp Tools, chọn System Configuration Utility.

Thủ thuật 13: SỬ DỤNG TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ CỦA WINDOWS

Nếu bạn không hiểu bản chất một thuật ngữ chuyên ngành nào đó, và bạn không tìm thấy hoặc không thỏa mãn với giải thích của các từ điển khác, thì từ điển thuật ngữ của XP (Windows Glossary) có thể làm bạn hài lòng.

Để sử dụng từ điển, bạn chọn Start – Help and Support – nhấn vào bất kỳ một chủ đề nào dưới Pick A Help Topic – Windows Glossary - gõ thuật ngữ cần được giải thích vào hộp Search. Bạn cũng có thể chọn Start – Help and Support – gõ thuật ngữ cần được giải thích vào hộp Search và XP sẽ liệt kê một số thành phần liên quan tới thuật ngữ đó, bao gồm cả từ điển (Glossary). Và tất nhiên, bạn phải thật siêu về English! (Nghe nói trong năm 2005 này bác Bill Gates sẽ xuất xưởng bản Việt hóa XP chính thức, hay quá! Tiện mời bà con vào đây để tìm hiểu vấn đề này nhé: www.microsoft.com/vietnam - tiếng Việt hẳn hoi đấy).

Thủ thuật 14: LOẠI BỎ MSN MESSENGER

Rất nhiều người sử dụng XP không dùng và cũng không thích dịch vụ MSN Messenger. Rất tiếc Microsoft lại không nghĩ vậy, và thậm chí còn không cung cấp cách gỡ cài đặt chương trình này, Tuy nhiên, vẫn có cách để không phải khó chịu với MSN Messenger. Bạn làm như sau: Tìm tới file SYSOC.INF trong thư mục Windows\INF (chú ý: cả file và thư mục đều ở chế độ Hidden). Mở file này bằng Notepad, tìm tới dòng msmsgs=msgrocm.dll,OcEntry,msmsgs.inf,hide,7 và xóa chữ “hide” đi. Lưu file và khởi động lại PC, rồi tìm tới Control Panels - Add and Remove Programs – Add/Remove Windows Components. Lúc này tùy chọn cho phép gỡ cài đặt MSN Messenger đã xuất hiện.

Nếu cách trên hơi rắc rối và đang sử dụng bản XP Professional (Chuyên nghiệp), thì bạn hãy làm theo cách sau: chọn Start – Run – gõ GPEDIT.MSC để mở Group Policy - chọn Computer Configuration - Administrative Templates - Windows Components - Windows Messenger. Tại đây, bạn có thể ngăn dịch vụ này hoạt động hoặc lựa chọn cho phép nó hoạt động theo yêu cầu của bạn. Theo cách này, bạn cần lưu ý, mặc dù dịch vụ đã bị vô hiệu hóa, nhưng một số chương trình khác của Microsoft (Outlook, Outlook Express) vẫn có thể khiến dịch vụ hoạt động.

Thủ thuật 15: TĂNG TỐC CHO XP

Mở Registry Start – Run – gõ regedit và tìm tới khóa: HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft
\Windows\CurrentVersion\Explorer\RemoteComputer\NameSpace. Chọn nhánh {D6277990-4C6A-11CF-8D87-00AA0060F5BF} và xóa nó đi. Tuy nhiên, trước khi xóa nhánh này bạn nên sao lưu lại phòng trường hợp hệ thống có vấn đề. Để làm việc này, bạn nhấn chuột phải vào nhánh cần sao lưu, và chọn Copy Key Name rồi lưu vào một file văn bản.

Khóa trên đòi hỏi XP phải tìm kiếm tất cả các chương trình làm việc theo lịch (Scheduled Tasks). Điều này khiến cho tốc độ duyệt của XP bị chậm lại. Mặc dù thủ thuật trên nhằm tăng tốc độ duyệt cho các hệ thống chạy Win2000 và XP trong mạng LAN, nhưng nó cũng cải thiện tốc độ duyệt một các bất ngờ cho Windows ngay trên máy trạm. Thay đổi này có tác dụng tức thì và chúng ta có thể cảm nhận được sự cải thiện tốc độ ngay lập tức.

II - Thay đổi kiểu dáng các Controls trong Windows XP:

Khi bạn dùng hệ điều hành Windows XP thì các control (điều khiển) như button (nút nhấn), check box (hộp kiểm), scroll bar (thanh cuộn)... se có hình dáng theo kiểu của Windows XP rất đẹp. Nhưng đa số các phần mềm cài thêm vào vẫn dùng các control kiểu cũ, kể cả một số phần mềm của Microsoft như bộ Office. Vậy làm thế nào để các control này có hình dáng như cac control của Windows XP? Dưới đây là cách “ép” các control trong các phần mềm có hình dáng theo WinXP:

Cách thực hiện:

Vào menu Start\ Run, gõ notepad rồi OK để mở chương trình NotePad. Nếu không có NotePad, bạn có thể sử dụng một phần mềm soạn thảo tập tin văn bản bất kỳ rồi soạn đoạn mã sau vào, sau đó lưu lại với tên trùng với tên của chương trình muốn thay đổi kiểu control, có phần mở rộng là .exe.manifest (ví dụ thay đổi MS Access: tên tập tin thi hành của MS Access là msaccess.exe thì bạn lưu đoạn mã dưới với tên msaccess.exe.manifest, rồi đặt tập tin này nằm chung thư mục với tập tin msaccess.exe).

Nội dung tập tin văn bản:

<?xml version="1.0" encoding="UTF-8" standalone="yes"?>
<assembly xmlns="urn:schemas-microsoft-com:asm.v1" manifestVersion="1.0">
<assemblyIdentity
version="1.0.0.0"
processorArchitecture="X86"
name="CompanyName.ProductName.YourApp"
type="win32"
/>
<description>Your application description here.</description>
<dependency>
<dependentAssembly>
<assemblyIdentity
type="win32"
name="Microsoft.Windows.Common-Controls"
version="6.0.0.0"
processorArchitecture="X86"
publicKeyToken="6595b64144ccf1df"
language="*"
/>
</dependentAssembly>
</dependency>
</assembly>

Lưu ý: Có thể sẽ có một số phần mềm báo lỗi hoặc không khởi động được nếu bạn áp dụng cách này. (Lúc đó đừng có nói gì tôi nhé!)

III - Không cho phép thay đổi những thiết lập (Settings) của bạn:

Nếu như bạn không muốn cho bất kỳ người nào thay đổi những thiết lập của mình trên màn hình desktop, vị trí của các icon, theme, kích thước của taskbar..., bạn có thể sử dụng thủ thuật sau để Windows XP không lưu lại những thay đổi sau khi người dùng shutdown hay log off. Chọn Start\Run, gõ vào gpedit.msc và nhấn Enter để mở Group Policy. Vào khung bên trái, chọn User Configuration\ Adminisrtative Templates\ Desktop. Nhấn phím phải chuột vào "Don’t save setting at exit" ở khung bên phải rồi chọn Properties. Sau đó chọn Enabled và nhấn OK hay Apply để tùy chọn này được kích hoạt. Dĩ nhiên chính bạn cũng sẽ chẳng thay đổi được nếu không vào lại chỗ đó và Disable nó đi. Nói chung là biết vậy thôi, chứ không nên kích hoạt tính năng này. Vì có thể vào một buổi sáng nào đó khi bật máy tính lên, bạn sẽ thấy một số thiết lập của mình làm cho máy tính đẹp ơi là đẹp chả có tác dụng nữa. Khi đó lại réo tên tôi lên chửi, làm tôi hắt xì, học thế nào được. Hihi! Chúc mọi người thành công!!!

Vũ Sơn Tùng

#49
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Tự làm giao diện cho trang Yahoo Mash

Cũng giống như Yahoo 360, bạn có thể trang điểm cho Mash bằng những phông nền riêng với khả năng tùy biến đa dạng hơn như đổi màu cho nick và các tiêu đề, chọn font chữ, cỡ chữ, kiểu gầy, béo khác nhau.

Công cụ cần chuẩn bị:

- Một tài khoản Yahoo Mash để đăng ký tại http://mash.yahoo.com. Tên tài khoản chính là nick YM, hòm thư Yahoo và Yahoo 360 sẵn có của bạn. Do còn trong giai đoạn thử nghiệm, Yahoo Mash chỉ chấp nhận những nick được mời từ một tài khoản Mash có sẵn.
- Một hình nền có kích cỡ lớn, như 1042 x 768 pixel đã được đăng lên website nào đó. Nếu bạn không có website chứa ảnh riêng, có thể dùng công cụ Flickr của Yahoo hay Photobucket để đưa ảnh này lên.

Thao tác thực hiện
Cách 1. Basic Mode
Posted Image
Trong phần Style this profile, bạn nhập vào ô Background image URL địa chỉ đường dẫn tới ảnh đã được tải lên trang web nào đó.
Posted Image

Ví dụ: khi mở một bức ảnh trên Flickr, nhấn chuột phải vào ảnh ở mục Large Size, chọn Properties, bạn sẽ thấy đường dẫn ảnh dưới dạng http://farm3.static.flickr.com... hoặc thấy luôn trong ô Grab the photo's URL. Hãy copy đường dẫn này vào ô Background image URL.

Nếu đánh dấu vào ô Fixed position, bức ảnh sẽ luôn ở một vị trí khi bạn trượt thanh cuộn. Ngoài ra còn có lựa chọn Tile ("lát nền", nghĩa là bức ảnh sẽ lặp lại ở các vị trí thiếu), Center (ảnh nằm giữa trang)...

Sau đó, nhấn Apply để lưu nền này.

Cách 2. Dùng mã CSS

Nhấn vào dòng Show Advanced CSS. Đây là công cụ dành cho những người hiểu biết về lập trình web để họ tùy biến theme đa dạng hơn. Tuy nhiên, những chỉ dẫn dưới đây sẽ giúp người "ngoại đạo" có thể hiểu dễ dàng.

Một theme sẽ bao gồm nhiều yếu tố như kích thước, màu sắc, phông chữ, được chỉ định bằng những câu lệnh nhập vào trong ô trắng trong mục Style this profile.
Posted Image


Thứ năm, 15/11/2007, 12:03 GMT+7 Bản để in Gửi cho bạn bè

Tự làm giao diện cho trang Yahoo Mash

Cũng giống như Yahoo 360, bạn có thể trang điểm cho Mash bằng những phông nền riêng với khả năng tùy biến đa dạng hơn như đổi màu cho nick và các tiêu đề, chọn font chữ, cỡ chữ, kiểu gầy, béo khác nhau.

Công cụ cần chuẩn bị:

- Một tài khoản Yahoo Mash để đăng ký tại http://mash.yahoo.com. Tên tài khoản chính là nick YM, hòm thư Yahoo và Yahoo 360 sẵn có của bạn. Do còn trong giai đoạn thử nghiệm, Yahoo Mash chỉ chấp nhận những nick được mời từ một tài khoản Mash có sẵn.
Đăng ảnh nhanh chóng vào Flickr ngay trên desktop

- Một hình nền có kích cỡ lớn, như 1042 x 768 pixel đã được đăng lên website nào đó. Nếu bạn không có website chứa ảnh riêng, có thể dùng công cụ Flickr của Yahoo hay Photobucket để đưa ảnh này lên.

Thao tác thực hiện

Cách 1. Basic Mode

Trong phần Style this profile, bạn nhập vào ô Background image URL địa chỉ đường dẫn tới ảnh đã được tải lên trang web nào đó.

Ví dụ: khi mở một bức ảnh trên Flickr, nhấn chuột phải vào ảnh ở mục Large Size, chọn Properties, bạn sẽ thấy đường dẫn ảnh dưới dạng http://farm3.static.flickr.com... hoặc thấy luôn trong ô Grab the photo's URL. Hãy copy đường dẫn này vào ô Background image URL.

Nếu đánh dấu vào ô Fixed position, bức ảnh sẽ luôn ở một vị trí khi bạn trượt thanh cuộn. Ngoài ra còn có lựa chọn Tile ("lát nền", nghĩa là bức ảnh sẽ lặp lại ở các vị trí thiếu), Center (ảnh nằm giữa trang)...

Sau đó, nhấn Apply để lưu nền này.

Cách 2. Dùng mã CSS

Nhấn vào dòng Show Advanced CSS. Đây là công cụ dành cho những người hiểu biết về lập trình web để họ tùy biến theme đa dạng hơn. Tuy nhiên, những chỉ dẫn dưới đây sẽ giúp người "ngoại đạo" có thể hiểu dễ dàng.

Một theme sẽ bao gồm nhiều yếu tố như kích thước, màu sắc, phông chữ, được chỉ định bằng những câu lệnh nhập vào trong ô trắng trong mục Style this profile.

- Định màu nền bằng cách gõ

body { background: #99000;}

Giải thích: #99000 là mã màu "đỏ thẫm". Muốn biết các mã màu khác nhau, có thể tham khảo trong bảng sau.

Hoặc cho nền một ảnh riêng bằng cách gõ

body {
background: #333333 url(http://trangweb.com/anh.jpg) no-repeat;
background-position:top center;
}

Giải thích: http://trangweb.com/anh.jpg là đường dẫn tới ảnh đã đăng lên website, lấy tương tự như trong Cách 1.

no-repeat là ảnh không lặp lại (không "lát" trên bề mặt trang Mash). Muốn thay đổi, bạn gõ repeat-x (tham số cho chiều ngang) hoặc repeat-y (tham số cho chiều dọc) hoặc repeat-xy (lát cho cả 2 chiều).

#333333 là màu sẽ được hiển thị ngay sau bức ảnh nếu bạn không chọn chế độ lặp ảnh. Ví dụ, phần cuối trang bị trống vì ảnh không dài tới đó thì sẽ được chèn màu này vào. Nếu không cần, bạn có thể bỏ mã số này khỏi câu lệnh.

top center là vị trí ảnh nền được đặt, ở đây là đặt chính giữa, phía trên. Bạn có thể thay đổi bằng cách dùng các lệnh khác top right (phái trên bên phải), top left (phía trên bên trái), bottom right (phía dưới bên phải), bottom center (ở dưới chính giữa), bottom left (ở dưới bên trái), center (ở giữa), top (bên trên), right (bên phải).

- Định font chữ

body {
font-family: Arial, Georgia, Verdana;
font-size: 12px;
color:#FFFFFF;
font-strength: normal
}

Giải thích: Arial, Georgia, Verdana là font chữ bạn chọn để người khác xem. Do không phải tất cả các máy tính đều có cùng font nên bạn cần chọn hệ thống font được nhiều người dùng nhất.

12px là kích cỡ của font chữ, bạn có thể đổi con số tùy theo ý thích.

font-strength thường được đặt chế độ normal hoặc nếu không, bạn có thể gõ bold (để có chữ đậm) hoặc oblique (nghiêng).

- Định module chung

.mod {
background:#555555 url(http://trangweb.com/anh.jpg) repeat-x;
border: #33000 2px dashed;
}

- Định module-link

.mod a {color:#990000;}
.mod a:visited {color:#660000;}
.mod a:hover {color:#330000;}

Giải thích: a có nghĩa là link. Ở đây, bạn đặt màu khác nhau tùy thuộc vào trạng thái của link, như bình thường thì có màu #990000, khi được bấm vào thì có màu #660000, lúc rê chuột qua thì hiện màu #330000.

- Định module nền

#ypf-coreid .mod-content, #dragLeft .mod-content, #dragRight .mod-content {
background: url(http://trangweb.com/anh.png) repeat scroll bottom right;
}

Ở đây bạn có thể thay đổi đường dẫn tới ảnh và dùng mã màu cho nền background:#colorcode

- Định cách hiển thị tiêu đề

#dragLeft .hd, #dragRight .hd {
background: url(http://trangweb.com/anh.png) repeat-x scroll top left; color: beige;
}

Giải thích: Bạn có thể đổi hình ở chỗ này và dùng mã màu background:#colorcode;

color:beige là màu của tiêu đề module.

Ngoài ra, còn có một danh sách các mã CSS dành cho những module khác:

#ypf-coreid : ảnh hoặc lời trích dẫn của người dùng
#ypf-mystuff : My Mash Stuff
#dragLeft : cột lớn bên trái
#dragRight : cột lớn bên phải
#ypf-mosh-rss2-randomnumber : thay một số ngẫu nhiên bằng số... (module cho RSS)
#ypf-guestbook : dành cho Guestbook
#guestbook-entries : các entry cho Guestbook
#ypf-contacts : danh sách bạn bè
#ypf-tags: thẻ hồ sơ Your Mash
#ypf-blurt : module Blurt
#ypf-profile : module About Me
.mod-content : nội dung của module mà bạn xác định
.user-name : tên người sử dụng
.user-images : avatar của bạn

Bạn có thể đặt chế độ không cho người khác lấy cắp "tài sản" như theme, nhạc... bằng cách gõ:

.grab
{
display:none;
}

Khi xong việc, nhấn Apply.
Posted Image

Thứ năm, 15/11/2007, 12:03 GMT+7 Bản để in Gửi cho bạn bè

Tự làm giao diện cho trang Yahoo Mash

Cũng giống như Yahoo 360, bạn có thể trang điểm cho Mash bằng những phông nền riêng với khả năng tùy biến đa dạng hơn như đổi màu cho nick và các tiêu đề, chọn font chữ, cỡ chữ, kiểu gầy, béo khác nhau.

Công cụ cần chuẩn bị:

- Một tài khoản Yahoo Mash để đăng ký tại http://mash.yahoo.com. Tên tài khoản chính là nick YM, hòm thư Yahoo và Yahoo 360 sẵn có của bạn. Do còn trong giai đoạn thử nghiệm, Yahoo Mash chỉ chấp nhận những nick được mời từ một tài khoản Mash có sẵn.
Đăng ảnh nhanh chóng vào Flickr ngay trên desktop

- Một hình nền có kích cỡ lớn, như 1042 x 768 pixel đã được đăng lên website nào đó. Nếu bạn không có website chứa ảnh riêng, có thể dùng công cụ Flickr của Yahoo hay Photobucket để đưa ảnh này lên.

Thao tác thực hiện

Cách 1. Basic Mode

Trong phần Style this profile, bạn nhập vào ô Background image URL địa chỉ đường dẫn tới ảnh đã được tải lên trang web nào đó.

Ví dụ: khi mở một bức ảnh trên Flickr, nhấn chuột phải vào ảnh ở mục Large Size, chọn Properties, bạn sẽ thấy đường dẫn ảnh dưới dạng http://farm3.static.flickr.com... hoặc thấy luôn trong ô Grab the photo's URL. Hãy copy đường dẫn này vào ô Background image URL.

Nếu đánh dấu vào ô Fixed position, bức ảnh sẽ luôn ở một vị trí khi bạn trượt thanh cuộn. Ngoài ra còn có lựa chọn Tile ("lát nền", nghĩa là bức ảnh sẽ lặp lại ở các vị trí thiếu), Center (ảnh nằm giữa trang)...

Sau đó, nhấn Apply để lưu nền này.

Cách 2. Dùng mã CSS

Nhấn vào dòng Show Advanced CSS. Đây là công cụ dành cho những người hiểu biết về lập trình web để họ tùy biến theme đa dạng hơn. Tuy nhiên, những chỉ dẫn dưới đây sẽ giúp người "ngoại đạo" có thể hiểu dễ dàng.

Một theme sẽ bao gồm nhiều yếu tố như kích thước, màu sắc, phông chữ, được chỉ định bằng những câu lệnh nhập vào trong ô trắng trong mục Style this profile.

- Định màu nền bằng cách gõ

body { background: #99000;}

Giải thích: #99000 là mã màu "đỏ thẫm". Muốn biết các mã màu khác nhau, có thể tham khảo trong bảng sau.

Hoặc cho nền một ảnh riêng bằng cách gõ

body {
background: #333333 url(http://trangweb.com/anh.jpg) no-repeat;
background-position:top center;
}

Giải thích: http://trangweb.com/anh.jpg là đường dẫn tới ảnh đã đăng lên website, lấy tương tự như trong Cách 1.

no-repeat là ảnh không lặp lại (không "lát" trên bề mặt trang Mash). Muốn thay đổi, bạn gõ repeat-x (tham số cho chiều ngang) hoặc repeat-y (tham số cho chiều dọc) hoặc repeat-xy (lát cho cả 2 chiều).

#333333 là màu sẽ được hiển thị ngay sau bức ảnh nếu bạn không chọn chế độ lặp ảnh. Ví dụ, phần cuối trang bị trống vì ảnh không dài tới đó thì sẽ được chèn màu này vào. Nếu không cần, bạn có thể bỏ mã số này khỏi câu lệnh.

top center là vị trí ảnh nền được đặt, ở đây là đặt chính giữa, phía trên. Bạn có thể thay đổi bằng cách dùng các lệnh khác top right (phái trên bên phải), top left (phía trên bên trái), bottom right (phía dưới bên phải), bottom center (ở dưới chính giữa), bottom left (ở dưới bên trái), center (ở giữa), top (bên trên), right (bên phải).

- Định font chữ

body {
font-family: Arial, Georgia, Verdana;
font-size: 12px;
color:#FFFFFF;
font-strength: normal
}

Giải thích: Arial, Georgia, Verdana là font chữ bạn chọn để người khác xem. Do không phải tất cả các máy tính đều có cùng font nên bạn cần chọn hệ thống font được nhiều người dùng nhất.

12px là kích cỡ của font chữ, bạn có thể đổi con số tùy theo ý thích.

font-strength thường được đặt chế độ normal hoặc nếu không, bạn có thể gõ bold (để có chữ đậm) hoặc oblique (nghiêng).

- Định module chung

.mod {
background:#555555 url(http://trangweb.com/anh.jpg) repeat-x;
border: #33000 2px dashed;
}

- Định module-link

.mod a {color:#990000;}
.mod a:visited {color:#660000;}
.mod a:hover {color:#330000;}

Giải thích: a có nghĩa là link. Ở đây, bạn đặt màu khác nhau tùy thuộc vào trạng thái của link, như bình thường thì có màu #990000, khi được bấm vào thì có màu #660000, lúc rê chuột qua thì hiện màu #330000.

- Định module nền

#ypf-coreid .mod-content, #dragLeft .mod-content, #dragRight .mod-content {
background: url(http://trangweb.com/anh.png) repeat scroll bottom right;
}

Ở đây bạn có thể thay đổi đường dẫn tới ảnh và dùng mã màu cho nền background:#colorcode

- Định cách hiển thị tiêu đề

#dragLeft .hd, #dragRight .hd {
background: url(http://trangweb.com/anh.png) repeat-x scroll top left; color: beige;
}

Giải thích: Bạn có thể đổi hình ở chỗ này và dùng mã màu background:#colorcode;

color:beige là màu của tiêu đề module.

Ngoài ra, còn có một danh sách các mã CSS dành cho những module khác:

#ypf-coreid : ảnh hoặc lời trích dẫn của người dùng
#ypf-mystuff : My Mash Stuff
#dragLeft : cột lớn bên trái
#dragRight : cột lớn bên phải
#ypf-mosh-rss2-randomnumber : thay một số ngẫu nhiên bằng số... (module cho RSS)
#ypf-guestbook : dành cho Guestbook
#guestbook-entries : các entry cho Guestbook
#ypf-contacts : danh sách bạn bè
#ypf-tags: thẻ hồ sơ Your Mash
#ypf-blurt : module Blurt
#ypf-profile : module About Me
.mod-content : nội dung của module mà bạn xác định
.user-name : tên người sử dụng
.user-images : avatar của bạn

Bạn có thể đặt chế độ không cho người khác lấy cắp "tài sản" như theme, nhạc... bằng cách gõ:

.grab
{
display:none;
}

Khi xong việc, nhấn Apply.
Theme ví dụ.

Dưới đây là một đoạn mã ví dụ, bạn có thể dùng ngay hoặc thay đổi tùy thích:

body { background: url(http://farm3.static....c7dded9f0_o.jpg) repeat fixed top center; color: #FFFFFF; }
body a, a:visited { color: #E5E5E5; }
a:link, #nickname { color: #FF3300; }
.ft a:link { color: #E5E5E5; }
.mod { border: none; }
#ypf-coreid, #dragLeft .mod, #dragRight .mod { background: url(http://farm3.static....39899173b_m.jpg) repeat scroll top left; border: 1px outset #a9a9a9; }
#ypf-coreid .mod-content, #dragLeft .mod-content, #dragRight .mod-content { background: url(http://farm3.static....610794aa3_m.jpg) repeat scroll bottom right; }
#dragLeft .hd, #dragRight .hd { background: url(http://farm3.static....20cdde828_t.jpg) repeat-x scroll top left; color: beige; }
#tagline-edit .hover, div.hover, #ypf-blurt .hover .blurt-msg { background-color: #9acd32; }
#ypf-blurt .hover .timestamp { color: #FFFFFF; }

Việt Toàn

#50
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Sửa lỗi Windows bằng cách đăng ký DLL

Windows XP và 2000 luôn lưu thông tin về nhiều tính năng của hệ điều hành này trong các tập tin thư viện liên kết động (Dynamic Link Library – DLL). Trong khi đó, chi tiết về các thư viện DLL lại được cất giữ tại Windows Registry. Nếu thông số Registry của một tập tin DLL bị sai lệch thì hệ điều hành sẽ gặp khó khăn khi mở các tập tin hoặc trang web, và thậm chí xuất hiện những hành xử đầy khó hiểu. Khi gặp tình huống này, đừng vội hoảng hốt, bạn hãy sử dụng công cụ regsvr32.exe để chép lại các thư viện DLL vào Registry.
Posted Image
Hình 1: Thay thế, chỉnh sửa Registry của thư viện DLL bằng lệnh trong Run.

Ngay cả khi không chắc chắn thư viện DLL nào đang gặp sự cố (hoặc thiếu), bạn có thể yên tâm sử dụng công cụ này để đăng ký lại một thư viện DLL đã được cài đặt cùng Windows. Sau đây là cách khắc phục vài trục trặc thường xảy ra do sai thông số tập tin DLL trong Registry.

Đổi giao diện: Nhiều sự cố có thể được khắc phục một cách đơn giản, chỉ bằng cách đăng ký lại thư viện Shell32.dll, lưu giữ thông tin về giao diện của Windows và được dùng để mở các tập tin và trang web. Ví dụ, việc đăng ký lại thư viện DLL này sẽ phục hồi khả năng xem trước các ảnh JPEG và GIF bên dưới nhãn Desktop của hộp thoại Display Properties (nhấn phải chuột lên màn hình Windows và chọn Properties). Việc này cũng có thể sửa lại khả năng khởi chạy trình wizard hướng dẫn tạo shorcut mới là Create Shortcut Wizard (nhấn phải chuột lên màn hình Windows và chọn New -> Shortcut), cũng như khắc phục tình trạng hành xử "lạ thường" khi bạn nhấn đúp chuột để mở một thư mục.

Để phục hồi DLL này, bạn chọn Start -> Run, gõ vào lệnh regsvr32 /i shell32.dll và ấn (Hình 1). Tham số /i trong lệnh trên đại diện cho chữ "install". Một thông báo sẽ xuất hiện để cho biết lệnh này đã hoạt động. Cũng có thể, bạn cần khởi động lại Windows.

Phục hồi Windows Picture và Fax Viewer (chỉ trong Windows XP): Nếu bạn không thể xem ảnh hoặc bản fax sau khi đã nhấn đúp chuột lên biểu tượng của các tập tin này, hãy đăng ký lại DLL cho tính năng này: chọn Start -> Run, gõ vào lệnh regsvr32 /i shimgvw.dll, và ấn Enter. Một hộp thoại sẽ xuất hiện và cho biết việc đăng ký lại DLL đã khắc phục được sự cố hay chưa (Hình 2).
Posted Image
Hình 2: Thông báo cho biết việc ghi lại một thư viện DLL đã thành công

Làm tỉnh lại Add Network Places Wizard (chỉ trong Windows XP): Đôi khi việc khôi phục một tính năng bị hỏng nào đó đòi hỏi bạn phải thực hiện lệnh regsvr32 /i nhiều lần, mỗi lần cho một thư viện DLL khác nhau. Ví dụ, nếu nhấn vào mục Add a network place trong khung bên trái của thư mục My Network Places và không thấy gì xảy ra, bạn có thể khắc phục lỗi này bằng cách thực hiện lần lượt 3 lệnh sau: regsvr32 /i netplwiz.dll, regsvr32 /i mshtml.dll và regsvr32 /i shell32.dll.

Hồi sinh Quick Launch: Nếu nhấn phải chuột lên thanh tác vụ và chọn Toolbars -> Quick Launch nhưng chỉ nhận được thông báo lỗi cho biết không thể tạo thanh công cụ này, có lẽ hệ thống thiếu thư mục Quick Launch, thông số Registry, hay vài tập tin quan trọng nào đó. Thư mục Quick Launch thường nằm trong thư mục C:\Documents và Settings\profile name\Application Data\Internet Explorer (với profile name là tài khoản đăng nhập vào hệ thống). Nếu không có , bạn hãy tạo mới thư mục này một cách thủ công (chọn trình đơn File -> New -> Folder trong thư mục được đề cập ở trên, đặt tên là Quick Launch, sau đó ấn ), hoặc yêu cầu Windows thực hiện (chọn Start -> Run, gõ vào lệnh ie4uinit.exe, và ấn Enter). Đến đây, hãy thử mở lại thanh Quick Launch.

Nếu vẫn không thành công, bạn chọn Start -> Run, gõ lệnh regsvr32 /i shell32.dll và ấn Enter. Lặp lại bước trên với lệnh regsvr32 /i browseui.dll.

#51
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Chat nhiều nick không cần cài đặt thêm chương trình

Có rất nhiều cách để chat nhiều nick trong cùng một máy tính: bạn có thể online vừa bằng chương trình Yahoo! Messenger vừa online trên các website hỗ trợ online YM; hoặc bạn có thể cài đặt thêm một phần mềm thứ 3. Một bạn đọc sau khi đọc bài Chat nhiều nick với Yahoo Messenger 8.0 trên Quản Trị Mạng đã phản hồi lại và muốn chia sẻ một cách làm đơn giản hơn nhiều có thể giúp bạn chat được với nhiều nick thật mà không cần cài đặt thêm chương trình.

Cách làm như sau:

Bạn vào Start -> Run, nhập vào regedit -> nhấn Enter hoặc OK
Posted Image

Trong cửa sổ Registry Editor, bạn chọn mục HKEY_CURRENT_USER -> Software -> Yahoo -> Pager -> Test
Posted Image

Tạo một Key bằng cách vào Edit -> New -> String Value
Posted Image

Đặt tên mới cho mục mới tạo là Plural
Posted Image

Kích chuột phải vào thành phần mới tạo (Plural) chọn Modify để đặt Value của thành phần giá trị là 1
Posted Image
Posted Image

Kết quả cuối cùng được màn hình Registry như sau:
Posted Image
Việc đơn giản mà bạn phải làm nữa là khởi động lại máy. Mỗi một lần muốn online với nick mới thì bạn khởi động Yahoo! Messenger bình thường.

#52
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Xóa rác cho PC

Để xóa rác trong PC và luôn ở trạng thái sạch thì ta tạo file có nội dung như sau:
- Hãy mở notepad.exe lên
- Soạn file vời nội dung sau:

@echo off
echo --------------------------------------
echo dang tim rac trong may tinh cua ban...
echo --------------------------------------
del /f /s /q %systemdrive%\*.tmp
del /f /s /q %systemdrive%\*._mp
del /f /s /q %systemdrive%\*.log
del /f /s /q %systemdrive%\*.gid
del /f /s /q %systemdrive%\*.chk
del /f /s /q %systemdrive%\*.old
del /f /s /q %systemdrive%\recycled\*.*
del /f /s /q %windir%\*.bak
del /f /s /q %windir%\prefetch\*.*
rd /s /q %windir%\temp & md %windir%\temp
del /f /q %userprofile%\cookies\*.*
del /f /q %userprofile%\recent\*.*
del /f /s /q "%userprofile%\Local Settings\Temporary Internet Files\*.*"
del /f /s /q "%userprofile%\Local Settings\Temp\*.*"
del /f /s /q "%userprofile%\recent\*.*"
echo -----------------------------------------
echo may tinh cua ban da sach se hon roai day!
echo
echo -----------------------------------------
echo. & pause


- Sau đó bạn lưu lại với tên file xxxx.bat (xxxx là tên gì cũng được)
- Cuối cùng bạn chạy file xxxx.bat

Chúc máy của bạn luôn luôn trong trạng thái tốt nhất.

#53
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Làm cho windows phát nhạc và thay đổi hình nền khi khởi động.

Cần các bước sau :
Bước 1: Chuẩn bị một số hình và nhạc (số lượng tùy ý và không cần đồng đều hai loại).

Một điều cần lưu ý là các tập tin nhạc phải theo chuẩn không nén wav. Và vì được nạp vào bộ nhớ trong khi khởi động nên kích thước của nó không nên quá lớn, như thế sẽ làm chậm quá trình khởi động, tối đa nên đặt dưới 3MB (thời lượng khoảng dưới một phút với chất lượng trung bình). Nếu tập tin nhạc do bạn tự biên tập (thu qua micro hoặc trích từ những bản nhạc), bạn có thể giảm chất lượng của tập tin nhạc xuống ở mức chấp nhận được để giảm kích thước tập tin. Để thực hiện điều này, bạn hãy dùng chương trình Sound Recorder có sẵn của Windows (có thể tìm thấy trong Start -> Programs -> Accessories -> Entertainment) mở tập tin nhạc -> vào menu File -> Properties, bạn có thể xem thông tin về định dạng của tập tin nhạc ở mục Audio Format. Theo kinh nghiệm của tôi, bạn chỉ cần chất lượng ở “22,050 kHz, 16 Bit, Stereo” là đủ. Để chuyển về định dạng này, bạn nhấp vào Convert Now -> ở danh sách Format, chọn PCM -> ở danh sách Attributes, chọn định dạng cần chuyển (bạn còn có thể giảm một nửa kích thước nếu chấp nhận chuyển xuống Mono).

Về hình nền, bạn cần chuẩn bị các ảnh có tỉ lệ kích thước Ngang x Cao (Width x Height) là 4 x 3 và từ 640x480 pixel trở lên. Có thể dùng các tập tin ở định dạng nén như .jpg, .gif nhưng tốt nhất vẫn là chuẩn không nén .bmp. Bạn chép tất cả các tập tin vào chung một thư mục cho mỗi loại. Để làm ví dụ, tôi sẽ tạo cây thư mục như sau: “C:\khoidong\nhac” cho nhạc nền và “C:\khoidong\hinh” cho hình nền. Đặt lại tên cho các tập tin theo số thứ tự. Tôi đặt tên các bức hình là H1.bmp, H2.bmp, H3.bmp... và các đoạn nhạc là B1.wav, B2.wav, B3.wav...

Bước 2: Cài đặt cho hình nền và nhạc khởi động là tập tin đầu tiên trong mỗi danh sách

Để cài đặt hình nền, Nhấp chuột phải lên hình nền ở Desktop -> Properties -> thẻ Desktop (hay Background nếu là Windows Me) -> nút Browse -> tìm đến tập tin đầu tiên trong danh sách ảnh nền của bạn (ví dụ này sẽ là C:\khoidong\hinh\H1.bmp) -> OK -> OK.

Để cài đặt nhạc khởi động Control Panel -> Sound, Speech, and Audio Devices -> Sound and Audio Devices (đối với Windows Me thì bạn vào Control Panel -> Sounds and Multimedia) -> thẻ Sounds -> trong danh sách Program Events (hay Sound Events – Windows Me) chọn Start Windows -> nút Browse, tìm đến tập tin đầu trong danh sách nhạc nền (trong ví dụ là C:\khoidong\hinh\B1.wav) -> Save as -> đặt một tên mới (như vậy sau này bạn có thể nhanh chóng chuyển đổi giữa cài đặt ban đầu với cài đặt mới này thông qua việc chọn lại Sound Scheme) -> OK -> OK.

Bước 3: Tạo tập tin batch bằng chương trình soạn thảo Notepad.

Gõ vào những câu lệnh sau, nhớ kết thúc mỗi dòng bằng Enter (giả sử ta có ba hình và ba đoạn nhạc).

ĐOẠN MÃ

Ren c:\khoidong\hinh\H1.bmp

temp.bmp

Ren c:\khoidong\hinh\H2.bmp

H1.bmp

Ren c:\khoidong\hinh\H3.bmp

H2.bmp

Ren c:\khoidong\nhac\B1.wav

temp.wav

Ren c:\khoidong\nhac\B2.wav

B1.wav

Ren c:\khoidong\nhac\B3.wav

B2.wav

Exit

Lưu tập tin vào thư mục tùy ý (có thể là c:\khoidong\) nhưng với tên là startup.bat

Bước 4: Để chạy nó mỗi khi khởi động, bạn cần tạo một shortcut vào trong thư mục Startup. Bạn hãy chạy Windows Explorer -> tìm đến thư mục chứa tập tin batch vừa mới tạo -> vào menu Edit -> Copy (Ctrl+C) nhấp vào menu Start -> All Programs -> nhấp chuột phải vào mục Startup rồi chọn Open -> trong cửa sổ của thư mục Startup, bạn vào menu Edit -> Paste Shortcut -> nhấp chuột phải vào shortcut vừa tạo, chọn Properties -> thẻ General, đặt lại cho shortcut một cái tên “gợi nhớ” chẳng hạn như “Thay doi Startup” -> thẻ Shortcut, ở mục Run chọn Minimized (như vậy cửa sổ chương trình sẽ không bật ra làm phiền bạn mỗi khi khởi động). Nếu bạn dùng Windows Me/9x thì cần phải đánh dấu thêm mục Close on Exit. Sau đó nhấn OK.

#54
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Cách đoạt quyền Admin trong Win2K
Cái này chỉ dùng cho trường hợp máy bị quên pass thôi nha, đừng có đi @hắc người khác đó nha

Phần 1
- Trước hết bạn phải Download phần mềm NTFS4DOS về để tạo đĩa khởi động có thể nhìn được ổ đĩa có phân vùng NTFS .
- Sau khi Download về bạn tiến hành cài đặt và tạo đĩa mềm khởi động ( Chú ý : Trước khi tạo đĩa mềm khởi động có thể nhìn thấy phân vùng NTFS thì đĩa mềm của bạn phải được Format và là đĩa Boot có thể boot được từ DOS từ trước thì mới có thể dùng phần mềm NTFS4DOS để tạo đĩa mềm có thể nhìn được phân vùng NTFS từ DOS ) . Thế là xong bước tạo đĩa mềm boot .
- Tiếp theo bạn đến cái máy mà bạn muốn đoạt quyền Admin và vào CMOS của nó đặt First Boot là : Floppy Driver ( Nếu máy đó đặt password CMOS thì bạn có thể phá Pass CMOS bằng các phần mềm khác , tôi xin miễn hướng dẫn phần này ) .
- Sau khi khởi động và Boot bằng đĩa mềm sẽ hiện ra 3 phần cho bạn chọn , bạn chọn cái đầu tiên là : NTFS4DOS . Sau đó bạn cứ để mặc cho nó chạy tiếp. Tiếp sau đó nó sẽ hiện ra một dòng thông báo hỏi bạn có muốn sử dụng tiện ích NTFS4DOS ko ? bạn đánh chữ yes và ấn Enter .
sau đó nó sẽ hiện ra dòng A:\> bạn chuyển sang ổ đĩa cứng là phân vùng chính cài Win ( Ví dụ là ổ C
A:\> C:
C:\> cd WINNT\SYSTEM32\CONFIG ( dùng lệnh cd để chuyển đến thư mục WINNT\SYSTEM32\CONFIG
Tiếp tục : Tại C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh dir
C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\dir
Ta sẽ nhìn thấy file có tên là : SAM
Tiếp tục tại dấu nhắc lệnh : C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh
C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\ren SAM DUNG
sau đó bạn đánh thử lại lệnh Dir để kiểm tra xem đã có file tên DUNG chưa ? Nếu có rồi thì đẫ thành công .
Chú ý : Tốt nhất là trước khi đánh lệnh ren SAM DUNG để đổi tên file SAM bạn lên backup nó trứơc :
C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\md Backup (Để tạo thư mục backup)
C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\copy SAM C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\BACKUP ( làm như vậy cho chắc ăn )
Sau đó bạn restart lại máy thế là OK , khi đăng nhập vào máy bạn chỉ cần gõ User là : Administrator còn Password thì không cần đánh.

Phần 2
- Vậy thì làm cách nào có thể đoạt được quền Administrator bi giờ ? .
- Đầu tiên tôi cũng chưa biết làm thế nào, nhưng về sau tôi đã đánh liều và thử một cách như sau :
+ Tôi đến một máy cài WinXP khác , tôi tạo Pass của user có tên là Administrator là trắng (Nghĩa là không đặt password , password bỏ trắng) , tôi khởi động lại máy , sau đó tôi vào DOS và copy lại cái file SAM ở cái máy mà tôi vừa tạo với pass của User : Administrator (Đây là người có quyền quản trị cao nhất) là trắng vào thư mục BACKUP trong đĩa mềm của tôi.
+ Sau đó tôi sang cái máy cài WinXP mà tôi muốn cướp quyền Admin ( Với pass của Administrator mà tôi không biết )
+ và tôi làm y như các bước như trên ( Chú ý : Trong WINXP thì không phải là thư mục WINNT như trong Win2K mà nó là thư mục WINDOWS) :
Sau khi khởi động và Boot bằng đĩa mềm sẽ hiện ra 3 phần cho bạn chọn , bạn chọn cái đầu tiên là : NTFS4DOS . Sau đó bạn cứ để mặc cho nó chạy tiếp. Tiếp sau đó nó sẽ hiện ra một dòng thông báo hỏi bạn có muốn sử dụng tiện ích NTFS4DOS ko ? bạn đánh chữ yes và ấn Enter .
Sau đó nó sẽ hiện ra dòng A:\> bạn chuyển sang ổ đĩa cứng là phân vùng chính cài Win ( Ở đây tôi sẽ lấy ví dụ là ổ C
A:\> C:
C:\> cd WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG ( dùng lệnh cd để chuyển đến thư mục WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG
Tiếp tục : Tại C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh dir
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\dir
Ta sẽ nhìn thấy file có tên là : SAM
Tiếp tục tại dấu nhắc lệnh : C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\ren SAM DUNG
sau đó bạn đánh thử lại lệnh Dir để kiểm tra xem đã có file tên DUNG chưa ? Nếu có rồi thì đẫ thành công .
Chú ý : Tốt nhất là trước khi đánh lệnh ren SAM DUNG để đổi tên file SAM bạn lên backup nó trứơc :
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\md Backup (Để tạo thư mục backup)
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\copy SAM C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\BACKUP ( làm như vậy cho chắc ăn )
- Tiếp theo từ C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG tôi đánh lệnh
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG A: để chuyển sang ổ mềm A
- Tại ổ A ta đánh lệnh A:\>cd Backup để vào thư mục BACKUP ở trong ở A .
- Tại A : \>BACKUP> ta đánh lệnh dir để kiểm tra xem đã thấy file SAM ở trong đó chưa A : >\BACKUP>dir
- Từ A : >\BACKUP\ ta đánh lệnh :
A : >\BACKUP\copy SAM C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG (Chú ý : Trước khi đánh lệnh trên thì bạn phải chắc chắn là file SAM ở trong thư mục C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG đã được đổi tên thành tên khác )
- Sau khi đánh lệnh trên xong nếu copy thành công bạn sẽ nhận được 1 tông báo là : 1 file copy ... gì gì đó tôi không nhớ lắm . Sau đó bạn khởi động lại máy và bỏ đĩa mềm ra .
- Khi đăng nhập vào máy bạn gõ user là Administrator và password là trắng bạn cứ việc gõ Enter thế là Okie giờ đây bạn đã là Người có quyền quản trị cao nhất rùi.

#55
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Hãy 'Phòng thủ' để khi có kể lạ mặt xuất hiện thì sẽ tiêu diệt hay vô hiệu hóa nó

Để bảo vệ chiếc PC khỏi những tấn công của virus, spam, hacker... bạn có thể cài các chương trình chống lại những "địch họa" này. Tuy nhiên, hiểu và sử dụng những vũ khí đó như thế nào thì không phải ai cũng biết. Dưới đây là một số kiến thức cơ bản cho người sử dụng máy tính trong vấn đề này.

Hiện nay chương trình phòng thủ máy tính chia làm 3 loại.

1. Chương trình chống và diệt các loại Virus (Antivirus)

Virus đây có thể hiểu là tất cả các chương trình làm hại đến máy tính, xâm nhập vào máy tính một cách bất hợp pháp. Khi máy bị nhiễm thì thường có triệu chứng chạy chậm hoặc một số chương trình hoạt động bất thường. Chương trình chống virus sẽ quét qua từng tập tin để tìm virus và tiêu diệt nó. Nếu không tiêu diệt được nó sẽ xoá hoặc cô lập tập tin bị nhiễm để giữ an toàn cho máy tính.

Một số phần mềm chống virus khá quen thuộc như Norton Antivirus, AVG Free... đều là những chương trình chống virus được sử dụng khá phổ biến tại Việt Nam. Ngoài ra, đối với một số virus nội địa (có nguồn gốc trong nước) thì Bkav và D32 đôi khi lại là sự lựa chọn hữu hiệu. Virus nội địa nhiều khi không lây lan ra nước ngoài, vì thế các chương trình của nước ngoài trở nên vô hiệu.

Bạn có thể tìm đọc thêm về các chương trình diệt virus để biết thêm về chức năng cùng công dụng hầu có sự so sánh, nhưng thật ra cũng không cần thiết vì những chương trình chúng tôi liệt kê ra là những chương trình có đã được thử nghiệm lâu dài, đạt độ hiệu quả, tính tương thích và thân thiện cao.

Về việc sử dụng từng chương trình cụ thể thì tựu chung, mỗi chương trình chống virus gồm các chức năng như quét tập tin (scan) để tìm virus. Tuỳ mỗi chương trình sẽ có từng lựa chọn cho quét hết toàn đĩa, quét từng thư mục hay từng tập tin cụ thể, quét CD ROM, đĩa USB...

Chức năng thứ hai là chức năng lên danh sách và định kỳ quét máy (schedule) cũng như tự động định kỳ cập nhật (updated) danh sách những virus mới sinh ra.

Và chức năng Virus Shield, Virus Protection, tự động quét trực tiếp tất cả những tập tin vào ra máy tính. Chính chức năng này sẽ làm máy bạn tiêu tốn không ít tài nguyên và làm máy chậm đi thấy rõ. Nếu máy bạn không kết nối Internet, thì nên tắt chức năng này để máy hoạt động nhanh hơn, nhưng phải rất cẩn thận khi đưa đĩa mềm, đĩa CD, USB vào máy.

Ngoài ra, rất nhiều chương trình diệt virus thường xuyên theo dõi tình trạng của máy tính, ghi nhận những hoạt động thất thường bị nghi là virus như là thay đổi một mặc định cấu hình, nghi thông tin vào đĩa cứng một cách bất hợp pháp… và thông báo để bạn biết. Bạn cẩn thận đọc tất cả các bản thông báo để biết rằng, máy tính đang làm gì.

2. Chương trình tường lửa (firewall)

Chương trình tường lửa được dùng nhiều khi bạn kết nối Internet, với mục đích kiểm duyệt tất cả các kết nối từ máy tính của bạn lên Internet và ngược lại. Rất nhiều chương trình độc hại xâm nhập máy tính ngay khi bạn truy xuất vào một số website, như ***.us chẳng hạn. Nếu bạn không dùng Internet, thì có thể tắt chương trình tường lửa, vì nó chỉ hữu dụng khi bạn online.

Có rất nhiều chương trình tường lửa, nhưng thường các bộ phần mềm chống virus đã kèm theo các chương trình tường lửa đi kèm nhằm đảm bảo tính tương thích. Hoặc bạn có thể dùng ngay tường lửa của Windows, tuy nhiên với chức năng khá hạn chế. Ngay khi có bất kỳ chương trình nào thiết lập một kết nối lên Internet, tường lửa sẽ ngay lập tức thông báo cho bạn biết. Bạn chỉ cần xác nhận, có cho phép kết nối này được thiết lập hay không mà thôi.

Thường một chương trình sẽ có kết nối hai chiều để trao đổi dữ liệu nên tường lửa sẽ yêu cầu bạn xác nhận hai lần. Sẽ rất phiền phức nếu lần nào bạn cũng phải xác nhận. Vì thế bạn có thể yêu cầu tường lửa ghi nhớ những chương trình, luôn cho phép kết nối, ví dụ Yahoo Messenger, các chương trình tự động cập nhật phần mềm, các game online.

Các dịch vụ thường không cài tường lửa vào máy, trừ khi được yêu cầu, vì sử dụng chương trình này đòi hỏi phải có một số kiến thức chuyên môn. Nếu máy bạn có cài, bạn cũng chỉ cần lưu ý là xác nhận từng kết nối lên Internet. Nếu thấy quá phiền phức thì cũng có thể gỡ bỏ.

3. Chương trình chống Spam (Antispam)

Chương trình này duyệt thư điện tử để chặn thư rác cũng như các thư có chứa virus… Thuần tuý chỉ hoạt động với email, đặc biệt hữu dụng khi bạn có sử dụng các chương trình Mail Client, ví dụ Outlook, Pegasus... Mỗi khi duyệt thư, chương trình chống Spam sẽ tự động quét thư điện tử để tìm virus, Spyware, Adware. Chính vì thế, nếu bạn dùng chương trình này thì “hình như” tốc độ lấy thư của bạn có vẻ chậm đi. Nhưng bù lại khá an toàn.

Nếu bạn không dùng những chương trình Mail Client, chỉ duyệt thư điện tử bằng cách đăng nhập vào website của yahoo, gmail... thì có thể không cần cài chương trình chống Spam cũng được.

Như vậy có thể thấy, một máy tính nếu gọi là phòng thủ tuyệt đối khi bạn quản lý và sử dụng được 3 chương trình trên.

Một điều vô cùng quan trọng, Virus sinh ra hằng ngày, chính vì thế phải thường xuyên cập nhật (update). Có thể cập nhật trực tiếp từ Internet, hoặc truy xuất vào website của chương trình để cập nhật.

Dùng mãi rồi sẽ quen, đó là phương châm khi sử dụng máy tính.

#56
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Những mẹo về email hay nhất

10 mẹo hay nhất về e-mail

1.Yahoo cung cấp cách thức truy nhập POP3 đến hộp thư Yahoo của bạn. Ðiều này có nghĩa là bạn có thể sử dụng các chương trình email khác (như Outlook Express, Eudora, hoặc Netscape) để nhận và gửi thư tại địa chỉ Yahoo của bạn... ruy nhập hộp thư Yahoo từ các chương trình thư khác.
Muốn cấu hình chương trình thư điện tử của bạn có thể sử dụng với Yahoo Mail, bạn thêm một account mới với các tham số được thiết lập như sau:
PRIVATEPOP3 Server: pop.mail.yahoo.com
SMTP server: smtp.mail.yahoo.com
User name: Tên truy cập hộp thư Yahoo của bạn
Password: Mật khẩu truy nhập hộp thư Yahoo của bạn
Theo cách này, bạn có thể tải các thư trong hộp thư Yahoo của bạn để đọc ngoại tuyến, giúp bạn tiết kiệm thời gian truy nhập mạng. Tuy nhiên, bạn cũng cần phải nhớ rằng, bạn phải trả một giá nho nhỏ với phương thức truy nhập POP3 của Yahoo. Trước khi sử dụng chương trình thư của bạn cho việc nhận và gửi thư ở hộp thư Yahoo, bạn cần phải đăng ký Yahoo Delivers và thỉnh thoảng phải nhận một vài quảng cáo từ các đối tác của Yahoo.

2. Bookmark hộp thư Hotmail của bạn
Nếu bạn sử dụng máy tính riêng (Không bận tâm đến vấn đề người khác có thể đọc thư của bạn cũng như sử dụng hộp thư của bạn để gửi thư tới những người khác), bạn có thể bookmark hộp thư Hotmail của bạn. Ðể làm được điều đó, hãy tạo một bookmark hoặc favourite trong trình duyệt của bạn đối với địa chỉ <http://hotmail.com.>
Truy nhập địa chỉ <http://hotmail.com> với bookmark vừa tạo. Ðiền các thông tin truy cập của bạn và sau đó đánh dấu vào ô chọn Keep me signed in to this and all other Passport sites unless I sign out. Bấm Sign in để truy nhập account của bạn.
Lần sau, mửi khi bạn chọn Bookmark, bạn sẽ tới ngay hộp thư mà không cần phải điền tên và mật khẩu truy nhập của bạn. Tính năng này vẫn có hiệu lực cho đến khi bạn đăng ký huỷ (sign out) khỏi Hotmail.

3. Thêm nhanh tên người gửi thư vào sổ của chỉ của Outlook Express Nếu bạn có thói quen là thường ghi lại địa chỉ của người gửi thư vào sổ địa chỉ (Address book) của bạn ngay sau khi nhận được thư, Outtlook Express có thể giúp bạn thực hiện điều này một cách dễ dàng và nhanh ***ng:
Ðể thêm người gửi thư cho bạn vào sổ địa chỉ, bạn chỉ cần di con trỏ chuột đến thư của người đó trong danh sách thư cho đến khi nó sẽ được hiện đậm lên. Chọn Tool/Add Sender to Addres Book, tên và địa chỉ (ở phần From) của người gửi thư cho bạn sẽ được chèn vào sổ địa chỉ. Cách này không bắt bạn trả lời bất cứ một thông tin nào khác. Bạn có thể vào sổ địa chỉ nếu muốn sửa hoặc thêm các thông tin khác về người gửi thư.

4. Kiểm tra các hộp thư khác bằng hộp thư Yahoo
Khi bạn đang ở đâu đó, chỉ có thể sử dụng trình duyệt mà không sử dụng được bất kỳ một chương trình thư điện tử nào, bạn có thể dùng account thư Yahoo của mình để truy nhập các account thư điện tử (POP) khác của bạn. Muốn vậy, trong Yahoo, vào mục Option và chọn Check Other (rop) Mail và đánh vào các thông tin về account thư cần kiểm tra. Ðánh tên máy chủ cùng cặp tên truy nhập/mật khẩu và chọn OK. Quay trở lại trang Check Other (POP) Mail, bấm Check Mail để nhận các thư mới từ hộp thư cần kiểm tra.

5. Kiểm tra các hộp thư khác bằng hộp thư Hotmail
Một tình huống tương tự như mục 4. Muốn sử dụng hộp thư Hotmail của bạn để nhận thư của các hộp thư khác, bạn có thể làm như sau:
Từ trang Hotmail Inbox, chọn liên kết (hyperlink) POP Mail bên thanh định hướng ở bên trái. Ðiền vào các ô POP Server Name, User Name and Password những thông tin tương ứng của hộp thư POP của bạn. Bạn cũng nên nhớ đánh dấu vào ô Leave message on POP server để về sau bạn có thể nhận lại được những thư này bằng các chương trình thư điện tử thông thường khác. Kết thúc bằng cách bấm phím OK.
Khi bạn bấm lại vào POP Mail trong trang Hotmail Inbox, Hotmail sẽ nhận về các thư trong hộp thư cần kiểm tra của bạn.

6. Chèn các ký hiệu vui (smiley) vào thư Hofmail Các ký hiệu vui như hoặc :-O chỉ đơn thuần là những ký tự hợp lại. Với Hotmail, bạn có thể chèn vào thư các ký hiệu vui đồ họa rất phong phú. Khi soạn thư, bạn nhớ đánh dấu hộp kiểm tra Rich Text Format. Ðặt con trỏ vào bất cứ chử nào bạn muốn chèn thêm ký hiệu vui và bấm vào smiley màu vàng ở thanh công cụ hử trợ soạn thảo. Chọn biểu tượng bạn muốn chèn vào thư từ danh sách. Bạn có thể xoá các ký hiệu vui đồ họa này giống như các ký tự thông thường.

7. Lưu trữ các thư riêng với Outlook Express Ðối với những thư đặc biệt quan trọng, bạn có thể lưu chúng trong folder save của Outlook Express hoặc in ra. Tuy nhiên, trong Outlook Express, còn có một cách lưu trữ thư riêng rất dễ nhưng ít người biết đến. Mở folder có thư bạn muốn lưu, chọn và kéo thư bạn muốn bằng chuột sau đó thả vào nơi bạn muốn lưu (trên đĩa mềm, đĩa cứng, đĩa CD hoặc bất kỳ thiết bị lưu trữ nào khác).
Cách này sẽ tạo ra tệp sao của thư với phần mở rộng là EML. Nếu muốn mở lại, bạn chỉ cần kích đúp chuột vào tệp này. Bạn cũng có thể import thư đã lưu vào Outtlook Express bằng cách kéo và thả vào một fofder trong Outlook Express.

8. Tìm thư trong Yahoo
Nhiều khi, bạn chỉ nhớ một số từ trong một bức thư nào đó nhưng không biết chính xác ở thư nào. May thay, Yahoo có một công cụ tìm kiếm tuyệt vời giúp bạn tìm lại những thư bạn cần.
Bấm vào liên kết Search bên trái trang Yahoo Mail sẽ đưa bạn đến trang tìm kiếm. Bạn có thể tìm kiếm theo nhiều tiêu thức và phạm vi khác nhau (theo tiêu đề thư, nội dung thư, ngày tháng, theo folder). Thay vì phải lần giở từng thư một, bạn hãy thử tính năng này của Yahoo Mail để tìm kiếm thư được nhanh hơn.

9. Truy nhập trang trợ giúp của Hofmail mà không cần thay đổi kích thước cửa sổ Hotmail có một site trợ giúp người dùng với rất nhiều thông tin bổ ích. Nhưng điều phiền toái là mửi khi bạn chọn mục Help từ Hotmail, các nội dung trợ giúp sẽ được hiển thị dưới chế độ toàn màn hình. Hơn nữa, sau khi đóng cửa sổ trợ giúp, màn hình Hotmail cũng bị thay đổi kích thước không giống bình thường.
Ðể tránh phiền toái này, mửi khi bạn muốn truy nhập trang trợ giúp rất đáng giá của Hotmail, hãy theo liên kết sau:
http://help.msn.com/...p...i&H_APP=MSN Hotmail&BrandID=&Filter=&H_VER=1.3&sp=1

#57
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Lưu nội dung Chat trong Yahoo! Messenger

Posted Image
Yahoo! Messenger có một chức năng rất hay là lưu lại nội dung chat để bạn có thể xem và in tin khi đã ngắt mạng. Chức năng này hữu ích với những ai thường chat với nhiều người vì nó giúp bạn có thể giữ liên lạc với bạn bè, người thân một cách tốt nhất.




Theo mặc định chức năng này không có hiệu lực. Bạn phải bật nó lên trước khi chat.

Bạn thực hiện như sau: Chạy chương trình Yahoo! Messenger, vào menu Tools / Message Archive.

Một bảng thông báo sẽ hỏi bạn có muốn kích hoạt chức năng này không? Bạn chọn OK.

Nếu đây là lần đầu tiên bạn bật chức năng này lên thì sẽ không có nội dung nào trong cửa sổ Message Archive cả. Bạn hãy đóng cửa sổ này lại. Kể từ lúc này trở đi, mỗi khi bạn chat, Yahoo! Messenger sẽ tự động lưu lại nội dung cuộc tán gẫu và bạn có thể xem lại nội dung này bằng cách vào menu Tools, chọn mục Message Archive.

Trong cửa sổ Message Archive, bạn có thể thực hiện một số thao tác như: Lưu nội dung chat về máy của mình, trả lời bạn chat, in nội dung chat, xóa nội dung chat...

Điều thú vị là tất cả các nội dung này đều được ma~ hóa,nếu máy tính của bạn ở nhà có nhiều người dùng cũng không sao vì mỗi người được mã hóa khác nhau.Chỉ khi nào login với đúng password và user thì bạn mới có thể đọc những nội dung chat trước đó của mình.

#58
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
8.000 biểu tượng biểu cảm cho Yahoo Messenger

Posted Image

Nếu thường xuyên chat bằng Yahoo Messenger, bạn sẽ thấy nó chỉ có khoảng vài chục biểu tượng Thumbs Up biểu cảm khá đơn giản như: khóc, giận, cười, ...

Tuy nhiên khi cài đặt smileycentral bạn sẽ có một kho biểu tượng với hơn 8.000 biểu tượng khác nhau với rất nhiều chủ đề để lựa chọn. Sau khi cài đặt, chương trình sẽ có một biểu tượng hình mặt người trong cửa sổ chat. Bạn muốn dùng một biểu tượng nào thì nhấp vào khuôn mặt người này, khi đó nó sẽ hiện ra một cửa sổ các biểu tượng được sắp xếp theo các chủ đề để bạn dễ lựa chọn. Ngoài ra nó còn có chức năng ghi lại những biểu tượng mà bạn đã chèn khi chat, để sau này có thể sử dụng nhanh mà không cần phải tìm lại.

Bạn muốn dùng một biểu tượng nào thì chỉ việc nhấp vào, nó tự động dán vào trong khung chat là xong. Chương trình này không chỉ dùng cho chat, bạn có thể chèn các biểu tượng này vào trong khung soạn thảo email của Yahoo cũng rất thú vị. Phần mềm miễn phí, dung lượng 1,9Mb, tương thích với tất cả các hệ điều hành Windows. Khi bạn download smileycentral sẽ vừa download vừa cài đặt cho bạn luôn, địa chỉ download: http://www.smileycentral.com

#59
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Chống Keylogger bằng tay không

Posted Image
Keylogger là một trình có chức năng chính là ghi lại mọi hoạt động diễn ra trên máy tính rồi lưu thành một bản báo cáo gửi về lại cho người đã cài đặt nó.

Để bảo vệ an toàn cho chiếc máy tính của mình, bạn nên cài đặt những chương trình phòng chống keylogger. Tuy nhiên trong một số môi trường như công sở, phòng net thì việc phòng chống trở nên “lỏng lẻo” hơn và khi đó nếu sơ ý thì nguy cơ rò rỉ thông tin cá nhân sẽ là rất cao. Nếu gặp vào những trường hợp đấy mà trong tay bạn lại không có bất kỳ công cụ phần mềm nào thì bạn có thể sử dụng một mẹo nhỏ nhưng đạt hiệu suất thành công 100% để phòng chống keylogger như sau:

Do keylogger chỉ ghi nhận những thông tin được nhập vào từ bàn phím mà không thể ghi nhận được sự di chuyển của trỏ chuột trong một dòng, cho nên để “qua mặt” keylogger bạn có thể nhập mật khẩu của mình bằng cách kết hợp thông tin được nhập từ bàn phím cộng với sự di chuyển “khôn khéo” giữa các thao tác click chuột. Ví dụ nếu mật khẩu của bạn để vào yahoo mail là mat#khau& thì hãy nhập chữ "khau" trước, dùng chuột di chuyển con trỏ lên đầu dòng rồi mới nhập chữ "mat#" vào. Tiếp tục thực hiện việc di chuyển con trỏ chuột đến cuối dòng rồi nhập nốt chữ & vào. Trong trường hợp này, nếu máy có cài trình keylogger thì trình keylogger sẽ ghi nhận thông tin sai lệch hoàn toàn là nienthanhonline. Nếu bạn khôn khéo và di chuyển trỏ chuột nhiều lần thì cho dù chuỗi mật khẩu bị lộ, việc phán đoán ra mật khẩu chính xác là điều rất khó khăn.


Theo Thanh Niên



#60
Huỳnh Văn Thâm

Huỳnh Văn Thâm

    Thạc sĩ CSTH

  • VIP
  • PipPipPipPipPipPip
  • 2364 Bài Viết:
Tránh bị "Boom" khi chát

Posted Image
Đang mải mê trò chuyện trên Yahoo Messenger, đột nhiên hàng loạt các cửa sổ Chat ồ ạt xuất hiện tấn công màn hình máy tính của bạn đến mức chóng cả mặt và nếu không kịp tắt chúng rất có thể bạn sẽ bị... treo máy.

Bạn phải đối phó thế nào khi gặp tình huống như vậy, bài viết sau sẽ đưa ra 3 phương pháp giúp bạn xử trí khi bị "bom" một cách dễ làm.

Cách làm cho phía giao diện Chat của bạn xuất hiện nhiều cửa sổ liên tục như vậy là do người bên kia ấn tổ hợp phím Ctrl+Shift+R nhiều lần (một lần ấn tương đương với một cửa sổ xuất hiện & nếu đối phương cứ "rảnh tay" mà ấn ba phím này thì bạn biết kết quả ra sao rồi đó...). Phương pháp này và gọi là Boom thủ công vì: rất nhanh & dễ làm.

Cách 1: Sử dụng tính năng GROUP BUTTONS (chỉ có trong các đời Win 2K trở lên) của thanh Taskbar.
Kích phải chuột vào thanh TaskBar nằm dưới cùng màn hình à Properties à đánh dấu chọn vào mục "Group similar taskbar buttons" trong hộp thoại hiện ra à OK
Lúc này bạn trên thanh Taskbar các cửa sổ Chat sẽ được nhóm chung lại và bạn chỉ cần nhấp phải chuột vào nhóm cửa sổ này, chọn Close Group thì tất cả các cửa sổ Boom ấy sẽ được tắt hết và bạn có thể trở lại Chat bình thường - hình 2.

Cách 2: Khi thấy có triệu chứng bị "bom", ngay lập tức bạn chú ý góc phải giao diện cửa sổ mà "kẻ tình nghi" đang Chat, chọn "Ignore - từ chối giao tiếp" - hình 3, hộp thoại "Add to Ignore List" hiện ra, bạn đánh dấu chọn vào mục "Report < tên Nick người đó....> as spam" để đưa Nick này vào danh sách "những tên khủng bố". Từ đó, Yahoo sẽ loại trừ tất cả tin nhắn cũng như Email của Nick này. Chọn OK để xác nhận và ngay lập tức tất cả các cửa sổ Boom sẽ biến mất.

Lưu ý, nếu Nick đánh Boom đã được bạn Add Nick vào trong List thì bạn sẽ không thấy xuất hiện nút "Ignore" ở góc phải. Lúc này bạn chỉ còn cách xóa nick đó hoặc sử dụng lại cách đầu tiên. Tuy nhiên phương pháp 2 này có một điểm rất thú vị là nếu bạn đã thực hiện được việc "Ignore - từ chối giao tiếp" mà người kia vẫn cố tính ấn mãi tổ hợp Ctrl+Shift+R thì quả Boom mà người ấy phóng ra sẽ quay trở về và "làm thịt" chính chủ nhân của nó.

Cách 3: Nếu như bạn thao tác chậm với 2 cách trên, các cửa sổ Boom đã xuất hiện quá nhiều, bạn ấn tổ hợp Ctrl+Alt+Del mở cửa sổ Windows Task Manager, chọn tab Applications, giữ Shift để chọn một loạt cửa sổ liên qua tới Yahoo Chat rồi End Task là xong.

Nhận xét: với 2 phương pháp đầu bạn sẽ có thể đóng nhanh lại các cửa sổ Boom tuy nhiên nó đòi hỏi bạn phải có khả năng nhận biết thật nhanh khi có triệu chứng đánh Boom từ người khác, tuy nhiên ưu điểm lớn nhất là bạn sẽ không phải bị Out ra và phải đăng nhập lại như phương pháp 3. Hi vọng với 3 phương pháp trên sẽ giúp bạn an toàn hơn khi Online trên mạng.




special thanks to our all time users for being with us

Calvin Music

Close [X]